Trong “Kinh thi”, thiên “Thiên bảo” thuộc “Tiểu Nhã”, có hai bài như sau:
天保定爾,
以莫不興。
如山如阜,
如岡如陵,
如川之方至,
以莫不增。(1)
Thiên bảo định nhĩ,
Dĩ mạc bất hưng.
Như sơn như phụ,
Như cương như lăng.
Như xuyên chi phương chí,
Dĩ mạc bất tăng.
và:
如月之恒,
如日之升。
如南山之壽,
不騫不崩。
如松柏之茂,
無不爾或承。(2)
Như nguyệt chi hằng,
Như nhật chi thăng.
Như Nam sơn chi thọ,
Bất khiên bất hăng.
Như tùng bách chi mậu,
Vô bất nhĩ hoặc thừa.
Rút từ hai bài trên, ta có chín chữ “như” là: “Như sơn, như phụ, như cương, như lăng, như xuyên chi phương chí, như nguyệt chi hằng, như nhật chi thăng, như Nam sơn chi thọ, như tùng bách chi mậu”.
“Tầm nguyên từ điển” của Bửu Kế giảng nghĩa chín chữ “như” này là: “Như núi, như gò, như núi to, như gò lớn, như sông nước chảy, như trăng thường soi, như mặt trời lên, như Nam sơn thọ (tức là thọ bằng núi Nam – theo NNVC), như tùng bách xanh tươi”.
Bốn chữ “sơn”, “phụ”, “cương”, “lăng” có thể hiểu chung là núi đồi gò đống các loại. Đại ý, chín chữ “như” này, hay nói gọn là “cửu như”, là lời bề tôi chúc tụng quân vương, thường dùng để chúc thọ, mở rộng là lời chúc phúc, chúc tốt lành.
Trong “Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Đặng Huy Trứ, đoạn “Nguyễn Huệ trả quyền cho Lê Hiển Tông”, có câu:
“Phước lành chúc chữ cửu như,
Cửa tin mấy cuốn đồ thơ dâng vào.”
ý nói Nguyễn Huệ lấy lễ bề tôi mà chúc phúc cho vua Lê Hiển Tông.