Gió cát phương Bắc cuồn cuộn như sóng gầm, hung hãn quất vào những mảng tường thành loang lổ, cũ kỹ của U Châu, từng hồi rít lên lạnh buốt như ngàn lưỡi dao sắc lẹm cứa vào da thịt. Giữa vòm trời xám xịt như đổ chì, đại kỳ của Tạ gia quân bị gió thổi tung, phần phật tung bay, trên đó chữ "Tạ" thêu bằng chỉ bạc đã bị vấy lên những vệt đen thẫm lay lắt. Mùi máu tanh nồng nặc hòa lẫn với khói thuốc súng khét lẹt như đã ngấm sâu vào từng thớ thịt, từng viên gạch vỡ vụn nơi tử địa này.
Trong soái doanh, ngọn nến tàn lay lắt trước gió, đổ cái bóng dài cô độc lên tấm bản đồ quân sự bằng da dê.
Xoạch.
Cố Ngũ Hằng đặt cuộn quân lệnh cuối cùng xuống bàn, âm thanh thanh mảnh vang lên phá vỡ sự im lặng đáng sợ.
Nam nhân ngồi đó chừng ba mươi tuổi, thân hình gầy gò khoác một chiếc áo bào màu xanh sẫm đơn bạc, trông lạc lõng giữa nơi binh đao loạn lạc này. Gương mặt hắn thanh tú nhưng sương bạt lãnh đạm, làn da có phần nhợt nhạt do bệnh tật kinh niên. Ngón tay hắn thon dài, sạch sẽ, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy ở đốt ngón tay có những vết chai mỏng, đó là dấu vết của mười năm ròng rã cầm bút lông, vạch ra những trận đồ đẫm máu giữa gió cát biên cương.
Người ngoài nhìn vào, ai nấy đều lầm tưởng hắn là một thư sinh trói gà không chặt, một kẻ bệnh nhược hữu danh vô thực hơn là vị quân sư đại tài từng khiến mười ba bộ tộc phương Bắc vừa nghe danh đã kinh hồn bạt vía.
Thế nhưng, chỉ những kẻ từng chân chính bước lên chiến trường, nhuốm máu cùng hắn mới hiểu được, nam nhân thanh nhã như ngọc này đáng sợ đến nhường nào. Hắn không cầm đao, nhưng một lời nhẹ nhàng thốt ra có thể định đoạt sinh tử của mấy vạn đại quân. Hắn không ra trận, nhưng một nước cờ ngầm bốc khói của hắn đã từng thiêu rụi ba tòa thành trì kiên cố của quân địch chỉ trong một đêm đông buốt giá, biến vạn dặm thành tro bụi.
Rầm!
Tấm màn trướng bằng da thú bị thô bạo xốc lên, kéo theo một luồng gió lạnh thấu xương ùa vào. Tiếng bước chân dồn dập, nặng nề vang lên.
Một thiếu niên tướng quân mình mặc giáp bạc bước vào, khí thế bức người. Đó là Tạ Vân Khâm, tiểu tướng quân của Tạ gia quân.
Năm nay hắn mới vừa tròn hai mươi hai tuổi, mày kiếm mắt ngôi sao, trên người còn vương đầy huyết khí chưa tan. Sau khi phụ thân tử chiến ở Nhạn Môn Quan 4 năm trước, bờ vai trẻ tuổi của hắn đã phải gánh vác cả giang sơn và sinh mệnh của mấy mươi vạn hùng binh.
"Tiên sinh."
Tạ Vân Khâm bước đến trước án thư, nặng nề đặt một cuộn vải vàng thêu long văn lên bàn. Sắc mặt hắn âm trầm đến đáng sợ, cơ hồ có thể nhỏ ra nước.
"Người trong kinh tới rồi."
Cố Ngũ Hằng không thèm mở cuộn thánh chỉ kia ra. Hắn chỉ liếc qua lớp lụa vàng rực rỡ, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười nhạt nhẽo, mang theo vài phần giễu cợt: "Cuối cùng cũng đến."
Tạ Vân Khâm siết chặt nắm đấm, gân xanh trên mu bàn tay giật nảy: "Hoàng đế hạ chỉ triệu ngài hồi kinh, phong làm Thiếu phó, danh nghĩa là dạy học cho đám vương tôn công tử vô dụng kia."
Nói đến đây, lồng ngực Tạ Vân Khâm phập phồng dữ dội, hắn đột nhiên đập mạnh tay xuống bàn, khiến nghiên mực trên bàn bắn tung tóe: "Khốn kiếp ! Rõ ràng là muốn chặt đứt cánh tay của ta."
Ai nấy đều biết, ở mảnh đất U Châu cằn cỗi này, người khiến các tướng sĩ mười phần tâm phục khẩu phục, người là linh hồn của cả quân đội không phải là một Tạ Vân Khâm non nớt.
Mà là Cố Ngũ Hằng
Tân đế ngồi trên ngai vàng ở kinh đô có thể nhắm mắt làm ngơ, để một tiểu tướng quân trẻ tuổi nắm giữ binh quyền. Nhưng hắn tuyệt đối không thể ngủ ngon khi biết bên cạnh con mãnh hổ ấy lại có thêm một con hồ ly quá mức thông minh, tính kế thiên hạ không một vết hở.
Trái ngược với sự phẫn nộ của thiếu niên, Cố Ngũ Hằng lại vô cùng bình thản. Hắn nâng chiếc ấm đất nung, chậm rãi rót một chén trà nóng, làn khói sương mờ ảo che khuất ánh mắt thâm sâu của hắn.
"Nếu ta không về kinh, bệ hạ mới thật sự ngủ không yên giấc."
"Tiên sinh!"
Tạ Vân Khâm bước tới một bước, tay đặt lên chuôi kiếm bên hông, tiếng kim loại va chạm nghe rợn người: "Chỉ cần ngài nói một câu, ta lập tức truyền lệnh, đem ba mươi vạn đại quân…"
"Muốn tạo phản?" Giọng của Cố Ngũ Hằng rất nhẹ, thậm chí còn mang theo chút lười nhác.
Thế nhưng, hai chữ "tạo phản" vừa thốt ra, bầu không khí trong doanh trướng lập tức đông cứng lại. Sát khí vô hình ép tới khiến lồng ngực Tạ Vân Khâm nghẹn ứ, nửa câu sau liền kẹt cứng nơi cổ họng.
Cố Ngũ Hằng từ tốn ngẩng đầu, đôi mắt đen láy như đầm nước sâu không đáy đóng băng, nhìn thẳng vào vị tướng quân trẻ tuổi.
"Ngươi mới hai mươi hai tuổi." Hắn nhấp một ngụm trà, thanh âm lành lạnh: "Đừng nói những lời tru di cửu tộc như thế. Phụ thân ngươi dùng mạng đổi lấy lòng trung quân của Tạ gia, không phải để ngươi đem đi đánh cược."
Ngoài trướng, gió lạnh rít qua khe hở, nghe như tiếng khóc than của cô hồn dã quỷ.
Yên lặng hồi lâu, Tạ Vân Khâm chậm rãi buông chuôi kiếm, đôi vai cường tráng khẽ sụp xuống. Hắn cúi đầu, giọng nói khàn đặc mang theo chút bất lực lẫn lo lắng tột cùng:
"Tiên sinh… người hồi kinh, chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Kinh đô là hang cọp đầm rồng, bọn họ sẽ không để ngài sống sót."
Cố Ngũ Hằng nhìn chén trà đã nguội lạnh trong tay, cười khẽ một tiếng, trong mắt là sự thấu thị hồng trần: "Ở đâu mà chẳng nguy hiểm? Từ mười mấy năm trước khi ta bước chân vào bàn cờ triều cục này, đã sớm không còn đường lui rồi."
...
Ba ngày sau, tiết trời lập đông.
Trước khi chính thức rời khỏi U Châu để xuôi nam về kinh, Cố Ngũ Hằng không mang theo tùy tùng, một mình một ngựa lặng lẽ lên núi.
Trên đỉnh núi cao ngất, quanh năm mây mù bao phủ, có một ngôi chùa cổ kính, hoang phế nằm chênh vênh ngay sát vách đá dựng đứng. Bảng hiệu sơn son đã bong tróc, lờ mờ ba chữ hiện ra: Hàn Sơn Tự.
Ngôi chùa này nằm ở nơi hẻo lánh, quanh năm hương khói thưa thớt, lạnh lẽo cô liêu. Những năm chiến loạn triền miên, Cố Ngũ Hằng thường lui tới đây để tìm một góc thanh tịnh tránh tuyết, tạm quên đi những mưu toan đẫm máu ngoài kia.
Lúc bánh xe ngựa dừng lại trước cổng chùa, trời bỗng đổ mưa phùn. Những giọt mưa lạnh buốt lún phún rơi, dệt thành một bức màn sương mù dày đặc, bao trùm lấy không gian cổ kính.
Cộc… Cộc… Cộc…
Tiếng mõ tụng kinh đều đặn, trầm đục vang lên từ chánh điện, truyền qua làn sương lạnh, nghe xa xăm mà huyền bí.
Cố Ngũ Hằng che một chiếc ô giấy dầu màu xanh rêu, bước qua ngưỡng cửa rêu phong. Dưới mái hiên của gian nhà bên gác tây, hắn nhìn thấy một lão đạo sĩ mặc một bộ đạo bào màu xám tro rách rưới đang ngồi xếp bằng. Trước mặt ông ta là một bàn cờ bằng đá thô sơ, trên đó rải rác những quân cờ đen trắng đang bày ra một thế trận dang dở, huyền cơ trùng trùng.
Lão đạo sĩ không hề ngẩng đầu, ngón tay gầy guộc gõ gõ lên mặt bàn đá, nở một nụ cười đầy ẩn ý: "Cố quân sư, ngài cuối cùng cũng tới. Bần đạo đã đợi ngài rất lâu rồi."
Bước chân Cố Ngũ Hằng khựng lại giữa màn mưa. Giọng nói của hắn vẫn bình lặng như nước hồ thu: "Đạo trưởng biết ta? "
Lão đạo sĩ lúc này mới từ tốn thả một quân cờ đen xuống bàn cờ, tiếng đá chạm nhau thanh thúy: "Thiên hạ này, có ai lại không biết đến vị quân sư đại tài của Tạ gia quân, Cố Ngũ Hằng?"
"Người tính toán lòng người như thần, bày mưu lập trận quỷ khóc thần sầu, lật tay làm mây úp tay làm mưa."
Nói đoạn, lão đạo sĩ chậm rãi ngẩng đầu lên.
Đó là một gương mặt già nua đầy những nếp nhăn của năm tháng, thế nhưng đôi mắt ông ta lại sáng một cách kỳ lạ, sâu hoắm và sắc bén như có thể nhìn thấu suốt tiền thế hậu kiếp của một con người.
"Chỉ tiếc là…" Ông ta kéo dài giọng, ánh mắt khóa chặt vào gương mặt thanh tú của nam nhân áo xanh: "Ngài sắp chết rồi."
Một luồng gió lạnh thình lình từ thung lũng ùa vào hành lang, làm vạt áo của Cố Ngũ Hằng tung bay, cán ô trong tay hắn khẽ rung lên.
Tuy vậy, nét mặt hắn vẫn không hề gợn sóng, hắn bước đến gần, thản nhiên hỏi: "Ồ? Đạo trưởng muốn chỉ giáo điều gì?"
Lão đạo sĩ nhìn chằm chằm vào ấn đường mờ tối của Cố Ngũ Hằng thở dài một tiếng: "Cố quân sư quyền cao chức trọng, công cao chấn chủ. Ngài càng thông minh, kẻ ngồi trên vị trí chí cao vô thượng kia lại càng nghi kị, càng muốn trừ khử ngài."
"Lần này hồi kinh… là tử cục không có lối thoát."
Mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt, lộp bộp gõ vào những viên ngói âm dương cũ kỹ, tạt cả vào gấu áo của hai người.
Cố Ngũ Hằng khẽ cười thành tiếng, nụ cười mang theo sự ngạo nghễ tiềm ẩn: "Đạo trưởng xuất gia tu hành, hóa ra cũng quan tâm đến chuyện triều cục phe phái sao?"
"Bần đạo không xem triều cục." Lão đạo sĩ lắc đầu, tay vuốt chòm râu bạc trắng: "Ta xem mệnh cách."
Ngón tay gầy trơ xương của ông ta đột ngột chỉ thẳng vào lồng ngực Cố Ngũ Hằng: "Năm nay ngài vừa vặn bước vào đại kiếp nạn của cuộc đời, sát tinh chiếu mệnh, khí số đã tận. Nếu ngài không cưới thê tử trước khi tuyết đầu mùa rơi… chắc chắn sẽ mất mạng, thi cốt không toàn vẹn."
Nụ cười trên môi Cố Ngũ Hằng rốt cuộc cũng nhạt đi vài phần. Hắn khẽ nheo mắt, thanh âm trầm xuống: "Đạo trưởng xem sót rồi. Bản mệnh của ta là cô tinh, khắc chết thê tử. Ai gả cho ta, người đó liền phải chôn thây."
"Ha ha ha ha !"
Lão đạo sĩ bỗng nhiên bật cười lớn, tiếng cười vang vọng khắp gian chùa vắng vẻ: "Sai rồi! Không phải ngài khắc thê!"
"Mà là do mệnh cách của ngài quá cứng, sát khí quá nặng, người thường phúc mỏng không tài nào gánh nổi, chưa kịp cận kề đã bị chân khí của ngài phản phệ mà chết."
Lão đạo sĩ đột nhiên nghiêng người về phía trước, hạ thấp giọng xuống mức tối đa, thần bí nói: "Muốn sống sót qua tử cục này… ngài buộc phải cưới một nữ nhân có gia thế hiển hách, mệnh cách tôn quý tột cùng."
"Một người mà ngay cả vị đang ngồi trên ngai vàng kia cũng phải kiêng dè ba phần, không dám tùy tiện động vào."
"Chỉ có phúc trạch và uy thế của nàng mới trấn áp được sát khí trên người ngài, che chở và giữ lại cho ngài một mạng."
Không gian rơi vào một khoảng lặng kéo dài đến nghẹt thở. Chỉ có tiếng mưa rơi xối xả bên ngoài hành lang.
Cố Ngũ Hằng đứng yên như một pho tượng ngọc. Một lúc lâu sau, hắn mới nhàn nhạt cất lời, trong giọng nói không rõ là tò mò hay mỉa mai: "Thiên hạ này rộng lớn, liệu có tồn tại một nữ nhân như lời đạo trưởng nói sao?"
Lão đạo sĩ mỉm cười đầy thâm ý. Ông ta nhặt một quân cờ trắng muốt từ trong giỏ cờ, chậm rãi đẩy sang phía đối diện, đặt ngay vào góc chết của bàn cờ đá, nơi duy nhất có thể chuyển bại thành thắng.
"Có."
Ông ta ngẩng đầu, khóa chặt ánh mắt vào vị quân sư ngút trời kinh luân: "Chỉ là… Cố quân sư, ngài có dám cưới nàng hay không thôi."
...
Thiên hạ đều biết, dưới thời Thịnh An có một nơi giàu đến mức ngay cả triều đình cũng phải dè chừng.
Nơi đó chính là Lan Thành.
Nằm chễm chệ ngay tại yếu huyệt giao thương huyết mạch nối liền Nam Bắc, Lan Thành sở hữu bến thuyền vạn dặm dập dìu sóng nước, ngày đêm quy tụ hàng ngàn thương đội ngược xuôi từ khắp chín châu. Nơi đây như một con quái thú nuốt vàng nhả ngọc, đèn hoa rực rỡ từ thuở bình minh đến tận lúc nửa đêm không bao giờ tắt. Từ trăm năm trước, triều đình đã ngầm ban đặc quyền tự quản cho Thẩm gia, đổi lại là nguồn thuế triều cống khổng lồ, đủ sức nuôi sống một nửa quân đội giang sơn.
Mà kẻ nắm giữ chiếc túi tiền vạn năng ấy, không ai khác chính là Thẩm gia.
Tích sản của Thẩm gia rốt cuộc nhiều đến mức nào? Người ta bảo, quốc khố của hoàng đế đôi khi còn có lúc cạn kiệt, chứ ngân kho của Thẩm thị thì vĩnh viễn tràn trề. Từ những đại chiến thuyền sừng sững ngoài hải cảng, xưởng đúc binh khí quy mô lớn nhất bờ cõi, cho đến tuyến vận tải lương thảo huyết mạch cung ứng cho biên cương... đâu đâu cũng đóng tầng tầng lớp lớp gia huy hình hoa lan bằng vàng ròng của Thẩm thị.
Phú khả địch quốc, quyền thế ngút trời, ngay cả đương kim thánh thượng khi đối diện với người nhà họ Thẩm cũng phải nể mặt ba phần, chưa từng dám dùng hoàng quyền ép buộc.
Nhưng điều khiến người ta đau đầu nhất lúc này lại là Thẩm gia kén rể suốt hai năm vẫn chưa chọn được người phù hợp.
Chẳng phải vì cửa vương phủ quá cao, mà là vì vị duy nhất được kế thừa khối gia sản khổng lồ này, Thẩm tiểu thư Thẩm Châu Nghi, là một nữ tử vô cùng "quái đản".
Nàng không màng đến những công tử hào hoa phong nhã phong lưu bậc nhất, cũng chẳng thèm liếc mắt nhìn đám con cháu thế gia quyền quý hữu danh vô thực. Thẩm Châu Nghi từ nhỏ đã không chạm vào cầm kỳ thi họa, nữ công gia chánh, nàng chỉ có một niềm đam mê cuồng nhiệt với cơ quan thuật toán và những thứ quái dị.
Lúc những khuê tú khác đang học thêu hoa dệt lụa, thì vị Thẩm tiểu thư này đã cầm búa, đục, tháo tung hết khóa đồng trong phủ, rã banh xe ngựa, thậm chí lẻn vào xưởng binh khí để tháo rời cả nỏ quân dụng ra nghiên cứu từng bánh răng.
Thứ nàng muốn chưa bao giờ là quyền thế
Nàng từng tuyên bố: "Kẻ muốn làm phu quân của Thẩm Châu Nghi, phải là người thông minh nhất thiên hạ."
Đáng tiếc, ròng rã hai năm trời, kẻ xếp hàng từ đầu phố đến cuối phố cầu thân đều là một lũ phàm phu tục tử, ánh mắt chỉ chăm chăm nhìn vào cái mỏ vàng sau lưng nàng. Ngu xuẩn đến mức khiến nàng phát chán.
...
Kinh thành có thanh lâu mị hoặc, thì Lan Thành có Nam Phong Quán vang danh.
Đêm buông xuống, những dải đèn lồng đỏ rực như huyết treo dọc theo những tầng lầu chạm trổ tinh xảo của Nam Phong Quán, hắt xuống mặt sông những vệt sáng lấp lánh đầy mê hoặc. Tiếng đàn sáo réo rắt hòa cùng tiếng cười đùa lả lơi phảng phất trong gió xuân.
Nơi đây không giống thanh lâu tầm thường, bởi nam nhân mới là kẻ tiếp khách. Kẻ gảy đàn múa kiếm, kẻ sa cơ lỡ vận bán rẻ tài nghệ, lại có kẻ thanh thuần như ngọc mua vui cho các quý nhân. Quan lại quyền quý từ Thịnh Kinh khi ghé qua Lan Thành đều lén lút đến đây tiêu khiển.
Mà vị khách sộp, phóng khoáng và nổi danh nhất ở cái chốn tiêu tiền như nước này chính là Thẩm Châu Nghi.
Trong nhã gian xa hoa ở tầng hai, khói hương trầm lượn lờ, tiếng trầm trồ khen ngợi vang lên liên tục không ngớt.
"Nhìn cho kỹ đây!"
Châu Nghi đang ngồi vắt vẻo trên chiếc bàn bằng gỗ lim bóng loáng, tà váy màu xanh nhạt thêu hoa trà xòe tung như một đóa sen nước. Mái tóc đen nhánh của nàng được buộc cao hơi lệch sang một bên, vài lọn tóc mai rủ xuống gò má trắng ngần, tôn lên vẻ tinh nghịch, hoạt bát vô ngần.
Trên lòng bàn tay mảnh mai của nàng là một món vũ khí nhỏ gọn, toàn thân đúc bằng thép đen bóng loáng, thanh mảnh chỉ vừa vặn một cái nắm tay.
"Thứ này, ta đặt tên là Tụ Tiễn." Nàng nhướng đôi mày thanh tú, ánh mắt lấp lánh vẻ đắc ý:
"Đừng thấy nó nhỏ nhắn như món đồ chơi mà coi thường uy lực của nó."
Dứt lời, ngón tay ngọc ngà của nàng khẽ gạt nhẹ vào một lẫy ngầm.
Vút !
Một tiếng xé gió sắc lẹm, chói tai vang lên trong không gian hẹp.
Một thanh sắt mỏng dính, bén ngót như lá liễu thanh mảnh lao đi với tốc độ kinh hoàng, bắn thẳng ra ngoài hành lang rồi ghim phập vào cây cột gỗ sồi ng nghìn năm tuổi ở phía xa.
Phập! Thanh tiễn cắm sâu vào thớ gỗ gần nửa tấc, đuôi tiễn vẫn còn rung lên bần bật, phát ra tiếng ong ong lạnh người.
Cả gian phòng im bặt trong một hơi thở, sau đó lập tức bùng nổ thành những tiếng hoan hô kinh hãi.
"Hay ! Tuyệt diệu."
"Thẩm tiểu thư quả nhiên là thiên tài cơ quan, vạn người có một."
"Món đồ nhỏ như vậy mà uy lực có thể xuyên giáp, thật khiến người ta mở mang tầm mắt."
Châu Nghi chống hai tay sau lưng, bật cười giòn giã, đôi mắt phượng cong lên thành hình mảnh trăng khuyết đầy ngạo nghễ: "Bổn cô nương phải tháo ra sửa lại tận mười bảy lần, tinh chỉnh từng cái lò xo bánh răng mới thành công đấy!"
Nói xong, nàng hào phóng vung tay, mấy thỏi bạc bảo vật nặng trịch ném loảng xoảng lên bàn: "Thưởng, ai có lời khen hay nhất hôm nay đều có phần."
Đám nam tử xung quanh lập tức vui mừng khôn xiết, ríu rít cúi đầu tạ ơn.
Bên cạnh nàng, tỳ nữ thân cận A Hoạt cũng cười đến híp cả mắt, nhanh nhẹn thu dọn lại bao đựng tiễn. Tiểu thư nhà nàng xưa nay chưa từng giống bất kỳ một vị khuê tú đoan trang nào. Không học cầm kỳ, không màng thi họa, ngày ngày chỉ thích chui vào đống sắt vụn nghiên cứu mấy món cơ quan kỳ quái rồi dẫn theo người hầu chạy khắp nơi gây chuyện. Nhưng cũng nhờ vậy, cuộc sống của A Hoạt chưa bao giờ biết đến hai chữ "tẻ nhạt".
A Hoạt còn chưa kịp rót thêm chén trà cho tiểu thư nhà mình thì...
Rầm!
Cánh cửa gỗ chạm khắc hoa văn bị một lực đạo mạnh mẽ thô bạo đẩy tung ra. Một bóng người cao lớn, vững chãi như ngọn núi sừng sững bước vào, che khuất cả ánh đèn hành lang.
Lâm Túc.
Hắn mặc một bộ huyền y bó sát người, bên hông đeo thanh trường kiếm lạnh lẽo, khí thế trầm ổn chuẩn xác của một cao thủ bảo hộ. Vừa bước vào, đôi mày rậm của hắn đã nhíu chặt lại thành một đường thẳng, ánh mắt hình viên đạn quét qua một lượt căn phòng tràn ngập những nam nhân ăn mặc yểu điệu, yêu kiều.
Gương mặt tuấn tú, góc cạnh của hắn hiện rõ vẻ vừa tức giận đến nghiến răng, lại vừa cuống quýt bất lực: "Thẩm Châu Nghi."
"Muội lại dám lén trốn đến cái nơi quỷ quái, hỗn tạp này nữa có phải không?"
Châu Nghi lúc này đang thong thả bóc một quả quýt ngọt, thấy người tới liền chẳng hề sợ hãi, ngược lại còn cười hì hì, đưa múi quýt lên vẫy vẫy: "Tới rồi đấy à? Hôm nay Lâm đại ca lại muốn dạy muội chiêu thức võ công nào đây?"
Lâm Túc nhìn bộ dạng không sợ trời không sợ đất của nàng, huyệt thái dương giật nảy lên vì đau đầu.
"Muội còn tâm trạng mà đòi luyện võ?" Hắn sải bước dài tới, chẳng nể nang gì liền nắm lấy cổ tay nàng, kéo tuột nàng đứng dậy khỏi bàn gỗ: "Thẩm thúc thúc cùng Thẩm mẫu đã dùng xong yến tiệc, vừa mới về tới phủ rồi!"
"Cái gì?"
Châu Nghi giật bắn người như bị điện giật, suýt chút nữa thì đánh rơi cả chiếc Tụ Tiễn quý giá xuống đất. Đôi mắt nàng trợn tròn, giọng cao vút: "Huynh điên rồi sao, sao giờ này mới báo hả?"
Nàng lập tức nhảy phắt xuống đất, luống cuống xách vạt váy dài chỉnh tề chạy thục mạng ra phía cửa: "Lần này tiêu đời muội thật rồi, chết chắc rồi."
Lâm Túc vừa buồn cười vừa bất lực trước bộ dạng của nàng, chỉ biết lắc đầu thở dài, sải bước lớn đuổi theo sau: "Muội chạy chậm một chút ! Bậc thang trơn lắm, ngã bây giờ!"
"Chậm cái gì mà chậm." Châu Nghi vừa vội vã lao xuống lầu vừa ngoảnh đầu lại hét lớn, gương mặt nhỏ nhắn trắng bệch ra: "Nếu để mẫu thân biết muội lại lén lút đến Nam Phong Quán tìm nam nhân bóc quýt, bà ấy chắc chắn sẽ dùng xích sắt khóa chân muội lại ba tháng mất."
Hai bóng người, một xanh một đen, như hai vệt khói vội vã lao ra khỏi đại sảnh nhộn nhịp của Nam Phong Quán.
Ngoài cửa kinh thành, một chiếc xe ngựa gỗ trắc thượng hạng, bên trên có thêu gia huy hoa lan bằng chỉ vàng lấp lánh của Thẩm gia đã chờ sẵn từ lâu, lặng lẽ đón lấy vị thiên kim tinh quái, rồi hòa vào màn đêm phồn hoa, sâu thẳm của vùng đất Lan Thành.
...
Khi cỗ xe ngựa của Thẩm gia vừa dừng bánh trước đại môn, Thẩm Châu Nghi đã vội vã vén rèm bước xuống. Thế nhưng, đập vào mắt nàng lúc này lại là một cỗ xe ngựa to lớn, xa hoa khác đang đỗ chễm chệ. Nhìn kỹ lọng che và họa tiết chạm khắc, tuyệt đối không phải người của Thẩm gia, cũng chẳng phải thương nhân ở Lan Thành.
Châu Nghi khẽ nhướng mày, cùng Lâm Túc và A Hoạt bước nhanh vào trong.
Vừa qua khỏi bình phong dẫn vào sảnh chính, nàng đã phải sững người. Giữa khoảng sân rộng, mười mấy chiếc rương gỗ lim khảm vàng đang mở toang, bên trong chứa đầy gấm vóc lụa là và trân bảo phát ra ánh sáng lấp lánh dưới ánh đèn.
Trong sảnh, phụ mẫu của nàng đang ngồi ở ghế chủ tọa, đối diện là một nam nhân trẻ tuổi ăn mặc gấm vóc vương giả. Điều khiến Châu Nghi ngạc nhiên là sắc mặt của phụ mẫu những người vốn dĩ ngạo nghễ vì nắm giữ kinh tế cả một phương, lúc này lại có vài phần khách sáo, cẩn trọng với vị khách kia.
Lâm Túc khẽ cau mày, tiến lên một bước bước, ghé sát tai nàng hạ thấp giọng:
"Hắn là thế tử của Kỳ Thân Vương, Tống Dực. Kỳ Thân Vương là nhi tử mà Thành Đức đế yêu thương nhất nhưng ngài ấy bệnh nặng nhiều năm không lo việc triều chính được, Tống Dực hắn là con trưởng, hiện tại Kỳ Vương phủ cho hắn nắm giữ quyền hành."
Vừa nghe thấy tiếng động, nam nhân trong sảnh liền quay đầu lại. Thấy Châu Nghi bước vào, hắn thong thả đứng dậy, phong thái vô cùng lịch thiệp và đúng mực của một hoàng thất quý tộc.
Châu Nghi thu lại vẻ tinh nghịch ban nãy ở Nam Phong Quán, khẽ khom người hành lễ theo đúng phép tắc của một khuê tú: "Không biết đêm muộn thế này, thế tử gia ghé thăm quý phủ là có việc gì chỉ giáo?"
Nói rồi, ánh mắt nàng thản nhiên liếc qua những món bảo vật mà đám thuộc hạ của Tống Dực đang cung kính nâng trên tay. Nào là viên dạ minh châu to bằng mắt người lấp lánh trong bóng tối, nào là chiếc vòng ngọc phỉ thúy xanh óng ánh không một vết gợn, lại thêm vài cây trâm bạch ngọc chạm trổ tinh xảo, giá trị liên thành.
Tống Dực mỉm cười, ánh mắt lộ rõ vẻ tự đắc:
"Mấy vật phẩm này là Kỳ Vương Phủ chúng ta may mắn có được. Hôm nay ta mạo muội mang tới tặng cho Thẩm tiểu thư làm quà gặp mặt, hy vọng nàng cùng bổn thế tử có cơ hội kết thân."
Hắn tiến lên một bước, giọng điệu chuyển sang vẻ săn đón: "Ta nghe danh Thẩm tiểu thư thông tuệ hơn người, tinh thông cơ quan. Chi bằng nhân cơ hội này, nàng cùng ta trao đổi một chút về cách luyện khí chế đồ? Dực mỗ cũng rất muốn học hỏi ở nàng."
Châu Nghi không đáp, nàng bước tới, tùy ý nhặt chiếc vòng ngọc phỉ thúy lên ngắm nghía dưới ánh đèn.
Thấy nàng chăm chú, Tống Dực thầm nghĩ nữ tử thiên hạ ai chẳng yêu thích trang sức, hắn liền dịu dàng đưa tay ra: "Để ta đeo giúp nàng."
Cạch.
Châu Nghi đột ngột đặt chiếc vòng trở lại khay bạc, rồi bất ngờ bật cười khúc khích. Tiếng cười trong trẻo vang lên giữa sảnh đường tĩnh mịch khiến Tống Dực khựng lại, bàn tay lơ lửng giữa không trung có chút sượng sùng.
"Thế tử gia, ngài mang vòng ngọc này tới tặng cho ta sao?"
Tống Dực thu tay về, biến sắc hỏi: "Có gì không thỏa sao?"
Châu Nghi nghiêng đầu, hàng mi cong vút chớp chớp: "Thế tử có lẽ quên mất, mỏ ngọc thô lớn nhất và có phẩm chất tốt nhất Thịnh An này vốn thuộc sở hữu của Thẩm gia ta. Mấy thứ trân bảo này của ngài, nhìn vân ngọc là biết được mài ra từ phôi ngọc của tiệm nhà chúng ta rồi. Ngài mang đồ của Thẩm gia đi một vòng, rồi lại mang nó tặng ngược lại cho chủ nhân của nó… Tiểu nữ thấy buồn cười là vì vậy."
Gương mặt Tống Dực lập tức đỏ bừng rồi chuyển sang tái mét. Hắn đường đường là thế tử Kỳ Vương Phủ, đi đến đâu cũng là trung tâm của sự chú ý, vậy mà hôm nay lại bị một nữ tử thương gia vạch trần một cách bẽ bàng thế này.
Mẫu thân ngồi phía trên thấy bầu không khí căng thẳng, vội ho một tiếng, kéo nhẹ tay áo nàng trách mắng: "Nghi bảo, không được vô lễ. Đây là tấm lòng của thế tử."
Tống Dực hít một hơi sâu để lấy lại bình tĩnh. Hắn vốn biết Thẩm gia giàu có, nhưng không ngờ mạng lưới sản nghiệp của họ lại kinh người đến mức này.
Châu Nghi lúc này mới nhàn nhạt lên tiếng: "Tấm lòng của thế tử, Châu Nghi xin ghi lòng tạc dạ. Chỉ là, người muốn hẹn gặp riêng ta ở Lan Thành này nhiều vô số kể. Ai cũng phải trải qua thử thách của ta mới có tư cách gặp gỡ."
Nghe đến đây, lòng hiếu thắng của Tống Dực lại trỗi dậy. Hắn thẳng lưng, tự tin đáp: "Ta biết tiểu thư thích người thông minh. Tống Dực ta tự thấy bản thân cũng có chút thông tuệ, mời nàng ra đề."
Châu Nghi khẽ liếc nhìn A Hoạt. Tỳ nữ thân cận lập tức hiểu ý, nhanh nhẹn chạy vào thư phòng bên cạnh, một lúc sau cầm ra một tờ giấy tuyên thành có đóng ấn ký hoa lan bằng mực đỏ của Thẩm gia, cung kính đưa cho Tống Dực.
Tống Dực nhận lấy tờ giấy trắng tinh, nghe Châu Nghi nói: "Tiểu nữ muốn thế tử vẽ cho ta một bông hoa lên đây."
Hắn sững người một lát rồi bật cười lớn: "Vẽ hoa? Chuyện này tuyệt đối không khó với ta. Bản thế tử từ nhỏ đã học họa công từ các đại gia trong kinh."
"Thế tử chớ vội mừng." Châu Nghi nhướng mày, cắt ngang lời hắn: "Bông hoa này phải sinh động như thật, xinh đẹp rực rỡ, nhưng ngài chỉ có duy nhất một cơ hội. Khi nào ngài làm được, hãy mang tờ giấy có ấn ký này đến tìm ta."
Nói xong, nàng chẳng đợi Tống Dực kịp hoàn hồn, liền xoay người dứt khoát cùng A Hoạt đi thẳng về phía hậu viện.
Lâm Túc ở lại cúi người hành lễ lấy lệ một cái theo đúng phép tắc, rồi cũng nhanh chân chạy đuổi theo bóng dáng màu xanh nhạt của vị tiểu thư nhà mình. Để lại Tống Dực đứng trơ trọi giữa sảnh chính, tay cầm tờ giấy trắng, sắc mặt âm trầm bất định.
Download MangaToon APP on App Store and Google Play