Tiếng Việt
NovelToon NovelToon

Phận Đàn Bà

Cậu Hai lén bán lúa bị cô Ba phát hiện.

Nhà ông Hội đồng Võ Tấn Đức quả thật là một dinh cơ khiến ai đi ngang cũng phải ngước nhìn. Cổng tam quan xây bằng gạch nung, mái ngói đỏ au, hai bên treo câu đối sơn son thếp vàng, chữ nghĩa rực rỡ dưới ánh nắng chiều. 

Bước vô sân, gạch tàu lát thẳng tắp, hồ sen lấp lánh, hòn non bộ dựng cao, cây cảnh uốn tỉa công phu.

Nhà chính ba gian hai chái, cột gỗ lim to bóng, mái ngói âm dương chồng lớp, bên trong treo hoành phi câu đối, bàn thờ tổ tiên đặt trang nghiêm, khói hương nghi ngút. Ghế trường kỷ chạm trổ tinh xảo, tủ khảm xà cừ sáng lấp lánh, đèn dầu treo cao, ánh sáng vàng vọt soi rõ sự bề thế. Nhà ngang, nhà bếp xây song song, tiện cho việc tiếp đãi khách khứa, còn phía sau là chuồng ngựa, nhà kho, xe song mã, trâu bò, lúa gạo chất đầy.

Chung quanh là vườn cây ăn trái trĩu quả, hàng cau thẳng tắp, rặng tre xanh rì rào. Ao cá rộng, cầu gỗ nhỏ bắc ngang, hàng rào gạch bao quanh chắc chắn. 

Hội đồng Đức góa vợ hơn 10 năm. Có ba người con, cậu hai Võ Minh Khang, Võ Ngọc Sương, Võ Ngọc Diệp. Cậu hai có vợ rồi mà không chí thú làm ăn, suốt ngày ham cờ bạc, gái gú, thích hưởng thụ.

Cô Ba Sương chưa chồng, nhưng giỏi quán xuyến việc nhà. Được tá điền và gia nhân quý mến.

Cô Út Diệp thì đang học trường nữ ở Sài Gòn, mùa hè mới về quê. Tánh tình thông minh, mạnh mẽ, không chịu khuất phục.

Sáng hôm ấy, trong sân nhà Hội đồng, gia nhân kẻ thì quét lá, người thì cho gà ăn, kẻ khác gánh nước tưới cây. Cảnh tượng rộn ràng, tiếng chổi tre xào xạc chen lẫn tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, làm cho ngôi nhà vốn uy nghiêm lại thêm phần sinh khí.

Bỗng nghe tiếng xe hơi từ ngoài cổng vọng vào, ai nấy đều ngẩng đầu nhìn. Chiếc xe bóng loáng của Cậu Hai Võ Minh Khang từ từ chạy vô trong sân. Cậu Hai bước xuống, dáng điệu phóng túng, mặt mày phờ phạc như người vừa trải qua một đêm ăn chơi.

Một gia nhân vội vàng tiến lại, vừa cúi đầu vừa nói:

“Bẩm cậu, tối qua cậu đi đâu mà không thấy về? Mợ Hai trông cậu từ tối giờ, sáng nay không thấy cậu về, mặt mợ nặng mày nhẹ trong nhà đó.”

Nghe vậy, vài người làm khác đưa mắt nhìn cậu, vì mợ Hai là người đàn bà khôn ngoan, sắc sảo, tuy ngoài mặt dịu dàng nhưng trong lòng chẳng dễ dung thứ cho thói trác táng của chồng.

Cậu Hai vừa nghe gia nhân nói xong thì trợn mắt, hất hàm mà quát:

“Đàn bà thì cái tánh hay lải nhải, có gì đâu mà làm dữ. Tôi đi chơi thì tôi về, chớ có chuyện chi mà ghê gớm dữ vậy!”

Nói rồi, cậu phẩy tay một cái, chẳng buồn nghe thêm, bước một nước vô nhà, giày da gõ lộc cộc trên nền gạch. 

Cậu Hai vừa bước vô tới gian khách thì thấy Cô Ba Sương đang ngồi nơi bàn dài, trước mặt là sổ sách chất chồng. Nắng sớm chiếu qua song cửa, soi gương mặt nàng sáng rỡ, làn da trắng mịn, đôi mắt đen láy, dáng ngồi đoan trang mà vẫn toát ra vẻ dịu dàng, khiến người nhìn khó mà rời mắt.

Cậu Hai thoáng thấy, định bụng đi lướt qua luôn, chẳng buồn hỏi han. Nhưng Cô Ba ngẩng đầu, giọng trong trẻo mà nghiêm nghị:

“Anh Hai, lại đây một chút. Em có chuyện muốn hỏi.”

Tiếng gọi ấy làm bước chân Cậu Hai khựng lại. Trong lòng tuy có chút bực bội, song ánh mắt của Cô Ba vừa hiền hậu vừa cứng cỏi, khiến cậu không thể làm ngơ. 

“Có chuyện gì vậy Ba Sương?”

“Em thấy trong kho lúa vơi dần, mà nợ nần của công ngày càng nhiều trong khi hôm trước cha đã đưa tiền cho anh đi trả tá điền, rồi còn kho lúa nữa, lúa đang vô mùa mà trong kho thất thoát nhiều, em coi không yên bụng.” 

Cậu Hai nghe Cô Ba nói tới chuyện sổ sách thì mặt mày tỉnh bơ, làm như không dính dáng gì tới mình. Cậu phẩy tay, giọng cộc cằn:

“Ờ, chuyện đó em coi kỹ lại đi. Có khi tá điền chưa nộp đủ, hoặc mấy bữa nay lúa đem ra xay xát, nên kho vơi là phải. Chớ có gì đâu mà rối rắm.”

Cô Ba nghiêm giọng:

“Em đã dò kỹ rồi. Nợ nần thì chưa trả, mà tiền cha đưa cho anh cũng không thấy ghi vô sổ. Lúa trong kho lại thất thoát nhiều, không thể nói là do xay xát.”

Cậu Hai nghe vậy thì chau mày, nhưng vẫn cố biện bạch:

“Thì chắc mấy người làm tính toán sai, hoặc lúa đem ra bán đổi tiền mà chưa kịp ghi sổ. Em cứ đi kiểm tra lại với tụi tá điền, chớ hỏi tôi thì tôi đâu có rành mấy chuyện sổ sách.”

“Em hỏi là hỏi vậy thôi chớ thật ra em biết anh ăn chặn tiền của cha để đi đánh bài. Kho lúa, em kiểm từng hộc, từng bao, thấy vơi mất mấy chục giạ. Mấy người làm cũng nói là không hề đem lúa ra xay hay bán. Vậy thì tiền bạc, lúa gạo đi đâu, nếu chẳng phải vào tay anh để ăn chơi?”

Cậu Hai nghe vậy thì mặt đỏ gay, miệng lắp bắp:

“Ờ… thì… tôi có lấy chút ít đem ra ngoài xài… nhưng mà… chuyện nhỏ thôi, có gì đâu mà em làm dữ.”

Cô Ba nhìn thẳng, giọng sắc như dao:

“Anh Hai, tiền của cha, lúa của công, đâu phải của riêng anh mà muốn lấy thì lấy. Mà anh có lấy thì cũng phải biết nói với em một tiếng để lỡ cha có hỏi thì em còn biết đường trả lời. Còn đằng này anh lấy rồi im luôn, nói với anh thì anh lại chối bây bẩy.” 

Cậu Hai nghe Cô Ba nói thì mặt đỏ gay, tức ganh, liền trợn mắt mà chửi:

“Con gái thì biết gì chuyện tiền bạc với lúa gạo! Ăn nói hồ đồ, làm như mình khôn lắm. Tôi là con trai trưởng, tôi xài thì cũng là của nhà này, xài tiền của cha chớ có phải ăn chặn gì đâu mà em bày đặt vạch lá tìm sâu!”

Giọng cậu gắt gỏng, tay đập mạnh xuống bàn, làm mấy tờ sổ sách rung rinh. Cậu cố lấy uy anh trai để lấn át. Cô Ba vẫn ngồi ngay ngắn, mặt không biến sắc, chỉ nhìn thẳng vào anh trai, giọng bình tĩnh mà cứng cỏi:

“Anh Hai, em không hồ đồ. Sổ sách ghi rõ, tá điền chưa nhận tiền, kho lúa mất mấy chục giạ. Em nói có chứng cớ, chớ không phải lời suông. Anh càng chửi, càng lộ ra cái lỗi của mình thôi.”

Cậu Hai tức ganh, mặt đỏ như gấc chửi om sòm:

“Lỗi gì mày nói nghe coi! Tiền của nhà này thì tao lấy tao xài chứ bộ tao trộm cướp của người ta hay gì mà mày nói tao bậy? Đừng có ỷ cha thương rồi giở giọng hỗn hào với tao nha chưa! Cha giao cho coi sổ sách thì cứ lo mà coi, chớ có hạch sách anh Hai như kẻ dưới quyền!”

Cậu chống nạnh bước tới gần, dáng điệu hung hăng như muốn làm dữ với Cô Ba.

Ngay lúc ấy, Hội đồng Đức trong buồng bước ra, dáng uy nghiêm, mắt sáng quắc. Ông nhìn thẳng vào Cậu Hai, giọng trầm mà nặng:

“Có chuyện gì ở ngoài này vậy?”

"Thưa cha, con mới tính toán lại sổ sách thì thấy lúa trong kho thiếu hụt nhiều,  sau khi kiểm tra thì mới biết là anh Hai lấy. Còn tiền công của nhà máy cha đưa anh Hai cũng lấy đi chơi." 

Hội đồng Đức hơi nhíu mày nhìn cậu Hai.

“Con nghe chuyện đó ở đâu?”

“Thưa cha, con đã tự ra kho kiểm. Lúa trong kho cũng thiếu mấy chuyến rồi.”

Nghe tới đó ông Hội đồng thở dài. Cậu Hai lại biện bạch:

“Con năm nay mới hai mươi mấy tuổi đầu, trai trẻ tuổi nào mà không ham chơi. Cha nhìn khắp cái xóm này đi, bằng tuổi con còn đánh nhau với người ta suốt ngày.”

“Nhưng anh lấy tiền công của người làm, đó đâu phải chuyện nhỏ?”

Hội đồng Đức khoát tay đi lại đằng ghế ngồi.

“Có lấy bao nhiêu đâu, cha sẽ cho người bù vô, đám người làm đó cũng đâu có thiệt thòi.”

Cô Ba càng nghe càng sốt ruột.

“Cha cứ dung túng như vậy có ngày ảnh hư thật đó.”

Cậu Hai khoanh tay bật cười nói cô Ba: 

“Con gái chưa chồng thì biết gì, đàn ông phải ra ngoài giao du, phải ăn chơi thì sau này mới thành người được, chứ có đâu mà như con gái suốt ngày ru rú trong nhà.”

Nói xong cậu bỏ đi vô buồng, Hội đồng Đức nhìn theo thở dài. Cô Ba ngồi dậy đi lại chỗ ông lấy ly rót trà cho cha uống.

“Cha mà cứ nuông chiều anh Hai như vậy hoài có khi ảnh lấy hết ruộng đất nhà này đi chơi tổ tôm hết cho mà coi.”

“Anh Hai con có tính ham chơi thiệt, nhưng chuyện làm ăn lớn nhỏ trong nhà nó vẫn biết lo.”

“Đúng rồi anh Hai lo, lo coi lấy tiền bằng cách nào á.”

“Cha biết con lo cho cơ ngơi nhà này, nhưng anh Hai con có sai thì cũng là con trai của cha. Gia sản này, hương hỏa này, từ đường này, sau này đều phải nhờ vô nó.”

Thật ra ông biết hết, biết cậu Hai lén lấy tiền, biết cậu Hai nợ nần, biết cậu Hai tụ tập ăn chơi. Có những khoản nợ chính ông là người âm thầm trả thay. Có những lần mất lúa chính ông cho người lấp liếm. Nhưng ông không dám làm lớn bởi ông chỉ có một đứa con trai.

Cô Ba nghe cha nói vậy thì lòng lạnh đi. Chính sự dung túng ấy lại là thứ khiến cậu Hai ngày càng lún sâu vào cờ bạc, rượu chè và những thói hư tật xấu.

Giọng ông bất giác chùng xuống: 

“Đợi nó có con tự khắc sẽ biết nghĩ thôi con đừng lo! Đàn ông ai cũng vậy.”

Nàng biết cha thương anh Hai, biết anh là đứa con trai duy nhất của nhà họ Võ. Nhưng chẳng lẽ vì vậy mà mọi lỗi lầm đều có thể bỏ qua hay sao?

Cô Ba thầm nghĩ: “Cha lúc nào cũng nói anh Hai còn trẻ, Nào là sau này có con sẽ khác, nào là đàn ông ai cũng có thời ham chơi. Nhưng đã mấy năm rồi, anh Hai chẳng những không khá hơn. Mà còn ngày một quá quắt, tiền bạc trong nhà cứ thất thoát.

Những cuộc rượu chè ngày một nhiều, bạn bè quanh anh cũng toàn hạng ăn chơi lêu lổng. Nếu cứ tiếp tục như vậy… Đến khi nào mới gọi là trưởng thành?”

Cô Ba trốn cha đi lên Sài Gòn chơi với thầy Luân.

Mợ Hai có ý trông chồng từ đêm qua tới giờ, mợ đi qua đi lại ngoài hiên chờ cậu Hai về. Phía xa xa thoáng thấy cậu Hai đang bước tới, bước chân nhanh mà dứt khoát vì có chuyện bực tức trong lòng. Thấy chồng về, nàng mừng rỡ đi tới đón và ân cần hỏi han:

“Mình có bị làm sao không, sao tối qua mình không về vậy? Làm em chờ suốt đêm.”

Cậu Hai nhăn mặt phất tay nạt nộ:

“Làm sao là làm sao? Từ khi nào mà chồng muốn đi đâu cũng phải trình báo với vợ? Ai biểu không chịu ngủ, chờ cái gì mà chờ?”

Nói rồi cậu hung hăng xô cửa đi vô phòng, mợ Hai ngậm ngùi đi theo sau. 

“Tại em không thấy mình về nên lo mình dọc đường bị gì, chớ em có ý gì đâu mà mình hằn học với em quá vậy. Mốt mình có đi chơi về khuya hay là không về thì mình nói cho em biết một tiếng đặng em đỡ lo, với lại lỡ mà cha có hỏi thì em còn biết mà trả lời.”

“Thôi cô làm ơn im đi, đừng có lấy cha ra làm cái cớ mà áp đặt thằng này. Đi thì thôi còn về tới nhà là thấy cái mặt cô, nghe cô lải nhải thì biểu sao tôi đi hoài.”

Nghe cậu nặng nhẹ như vậy một tiểu thư khuê cát như mợ Hai làm sao chịu nỗi, mợ tủi thân ngồi xuống ghế bật khóc. Cậu thấy vậy cũng không thèm vỗ mà đi lại giường nằm phịch xuống. 

“Khóc, nói động tới cô một chút là khóc. Ơ đây là nhà họ Võ chớ không phải nhà họ Huỳnh đâu nghen! Cái tính tiểu thư đó của cô ở đây không có chứa, nhắm ở được thì ở còn không ở được về bển đi!”

Mợ Hai nghe chồng nói vậy thì nước mắt càng rơi nhiều hơn, nàng lấy khăn chấm khóe mắt, giọng nghẹn ngào:

“Mình nói gì kỳ vậy mình, hồi đó mình đi cưới em bằng trầu hai tay bưng, rượu hai tay rót. Hồi đó mình tự đón tôi về chớ đâu phải tự tôi bước chân vô nhà này đâu mà mình nói tôi như vậy.”

Cậu Hai nằm im re không nói, mà cái mặt còn bực lắm.

“Tôi biết mình không phải người tài giỏi gì. Mình có thể không thương em, nhưng đừng xem thường em như vậy được không?”

Cậu Hai vốn đang bực vì chuyện thua bạc, lại bị cô Ba tra hỏi chuyện tiền bạc nên trong lòng chẳng còn chút kiên nhẫn nào. Nghe vợ nói tới đó, cậu càng nổi nóng.

“Lại bắt đầu nữa! Hễ nói đụng tới cô một chút là than thân trách phận, nghe riết phát chán.”

“Nếu mình đã chán như vậy, thì ngày trước cưới tôi làm chi, để bây giờ ngày nào cũng nói những lời làm đau lòng tôi?”

Cậu Hai cười khẩy ngồi dậy.

“Tôi cưới cô vì cha tôi biểu cưới, chớ cô nghĩ tôi mê cô dữ lắm hả?”

Câu nói ấy như một nhát dao đâm thẳng vào tim Mợ Hai. Mấy năm làm dâu, dù cậu có ăn chơi, có ham vui, có bỏ bê gia đình. Nàng vẫn luôn nhẫn nhịn, bởi nàng nghĩ ít ra trong lòng chồng vẫn còn chút nghĩa tình.

Nào ngờ trong mắt cậu, cuộc hôn nhân này ngay từ đầu đã chẳng có giá trị gì.

Mợ Hai bật cười trong nước mắt.

“Ra là vậy… Vậy mà tôi cứ tưởng mình sống tử tế rồi một ngày nào đó mình sẽ nhìn thấy tấm lòng của tôi.”

Cậu Hai quay mặt đi.

“Muốn nghĩ sao thì nghĩ, tôi mệt rồi."

Nói xong, cậu kéo cái gối ôm rồi nằm quay lưng lại.

......................

Trong gian khách, cô Ba đứng bóp vai cho cha. Hội đồng Đức ngả lưng ra sau, trên tay ông cầm điếu thuốc rê, khói trắng bay lảng bảng, quấn quýt quanh mái tóc đã điểm bạc. 

“Thưa cha, sáng mai con xin phép đi lên Sài Gòn thăm em ít bữa. Lâu nay nó ở xa, con cũng nhớ, muốn coi coi tình hình nó ra sao.”

Ông Hội đồng rít một hơi thuốc, thở ra làn khói mờ, rồi chậm rãi đáp:

“Ừ, con đi thì đi, nhưng nhớ giữ gìn sức khỏe. Việc nhà cha còn lo được, chút con nói con Bông ra chợ mua chút đỉnh đồ này đồ kia đem lên cho con Út. Nó ở xa, chắc cũng nhớ nhà.”

Cô Ba khẽ gật đầu, giọng ngoan ngoãn:

“Dạ, con sẽ dặn con Bông đi chợ sắm sửa. Mai con đem lên cho em, để nó vui lòng.”

Cô Ba vừa rời gian khách, bước xuống gian sau, gương mặt nàng lập tức đổi khác. Nét mặt trở nên nặng nề, ánh mắt lộ vẻ bối rối. Trong lòng dấy lên một nỗi day dứt, thật ra mai đi Sài Gòn đâu phải để thăm em gái chỉ là cái cớ. Lòng nàng muốn đi chơi xa với thầy Luân, muốn thoát khỏi cái cảnh tù túng trong nhà. 

......................

Buổi sáng nơi bến xe, trời vừa hửng nắng, ánh vàng nhẹ phủ trên mái ngói, soi bóng người qua lại. Thầy Luân đứng nơi góc bến, mắt ngó ra đường làng. Thầy không gầy gò như hình dung của một ông giáo làng xưa, mà trái lại, vóc dáng cân đối, vai rộng, lưng thẳng, bước đi lại quá đỗi khoan thai.

Mái tóc thầy cắt gọn, đen mượt, gió sớm thổi qua càng làm nổi bật nét trẻ trung mà vẫn phong lưu. Người ta nhìn vào, khó ai nghĩ đó chỉ là một thầy giáo làng, mà như một chàng trai thành thị, đẹp trai, lịch lãm.

Chiếc xe hơi vừa trờ tới bến, bụi đường bay mờ trong nắng sớm. Lòng thầy Luân rộn ràng vì biết đó là xe của cô Ba. Cô Ba Sương bước xuống, áo dài thướt tha, tà áo lay nhẹ trong gió. Mái tóc dài vấn cao trang nhã, gương mặt sáng sủa, đôi mắt e lệ. Kế đó, con Bông lăng xăng theo sau, tay ôm lỉnh kỉnh đồ đạc.

Cô Ba tiến lại gần, giọng nhỏ nhẹ mà e lệ: “Thầy chờ lâu chưa? Em mới tới, mong thầy đừng trách.”

“Tôi chờ từ sớm, nhưng thấy cô đến thì lòng tôi vui, có chờ bao lâu cũng không ngại. Tôi mong chuyến đi này sẽ làm cô vui và cũng để tôi có dịp gần gũi, hầu chuyện cùng cô.”

Cô Ba e lệ, tay khẽ vuốt tà áo xanh ngọc, đáp nhỏ: “Đi cùng thầy, em cũng thấy yên lòng.”

Thình lình tiếng còi xe buýt vang lên inh ỏi, bác tài thò đầu ra cửa, giọng sang sảng: “Bà con lên xe lẹ đi, xe sắp chạy đó nghen!”

Khách bộ hành lỉnh kỉnh hành lý, người chen người bước lên. Thầy Luân nhìn cô Ba, ánh mắt dịu dàng, rồi khẽ đưa tay nắm lấy bàn tay mềm mại của nàng, dìu nàng bước lên bậc xe. Tà áo xanh ngọc của cô Ba khẽ lay trong gió, dáng đi e lệ mà đoan trang.

Sài Gòn dần hiện lên như một đô thị vừa mang dáng dấp phương Tây, những con đường lớn như Charner (nay là Nguyễn Huệ), Catinat (nay là Đồng Khởi) trải nhựa, hai bên là hàng cây xanh mát. Xe hơi, xe kéo, xe buýt chen lấn.

Các công trình kiểu Pháp như Nhà thờ Đức Bà, Dinh Norodom (Dinh Toàn quyền, sau là Dinh Độc Lập), Nhà hát Thành phố, Bưu điện trung tâm… nổi bật giữa lòng đô thị.

Chợ Bến Thành, Chợ Lớn tấp nập, người Hoa và người Việt buôn bán đủ loại hàng hóa. Tiếng rao, tiếng mặc cả hòa cùng mùi hương của trái cây, đồ ăn, tạo nên không khí náo nhiệt.

Trên sông Sài Gòn, ghe thuyền chở lúa gạo, trái cây từ miền Tây lên, neo đậu dọc bến Bạch Đằng. Cảnh buôn bán trên sông hòa cùng nhịp sống đô thị, vừa cổ kính vừa hiện đại. Người dân mặc áo dài, khăn đóng, xen lẫn áo sơ mi, quần tây, váy đầm theo kiểu Tây. 

Cô Ba và con Bông nhìn đến ngẩn ngơ. Nàng chưa từng thấy cảnh phồn hoa như vậy, nên trong bụng vừa ngạc nhiên vừa bâng khuâng. Con Bông thì rộn ràng, tay chỉ hết chỗ này đến chỗ kia, miệng không ngớt thốt lên:

“Cô Ba ơi, coi kìa! Nhà cao quá, người đông quá! Sài Gòn thiệt là khác xóm mình.”

Cô Ba khẽ mỉm cười, mắt vẫn dõi theo từng góc phố.

“Thầy Luân… trên đây nhộn nhịp quá chừng! Nhà cao, người đông, xe cộ rần rần. Vậy mà thầy về chốn quê bình lặng, vắng vẻ, chắc thầy buồn lắm hả?”

Thầy An khẽ mỉm cười, giọng ôn tồn: “Cô Ba nói vậy chớ quê tuy vắng, nhưng có ruộng đồng, có tiếng gà gáy, có bóng tre rợp mát. Người quê sống hiền hòa, tình nghĩa. Tôi ở đó quen rồi, đâu thấy buồn. Chỉ khi nào xa người mình thương, thì mới thấy lòng trống trải.”

Cô Ba nghe vậy thì má thoáng hồng, mắt nhìn xuống tà áo xanh ngọc, giọng nhỏ nhẹ: “Thầy nói vậy cũng phải. Quê tuy vắng, song có ruộng đồng, có bóng tre, có tình nghĩa, thì còn quý hơn cảnh phồn hoa. Miễn có người mình thương ở bên, thì chốn nào cũng nên vui, chẳng buồn chi.”

“Thầy Luân, trên đây người tấp nập, đường xá thì chằng chịt, coi bộ rối rắm quá. Lỡ mai mốt đi chơi, có khi nào lạc đường không thầy?”

Thầy An khẽ mỉm cười hiền hòa, giọng ôn tồn: “Bông chớ lo! Tôi quen đường sá nơi đây, lại có trí nhớ tốt. Dù phố phường có rối, tôi cũng đưa Bông với cô Ba đi tới nơi về tới chốn”

Con Bông cười hì hì đáp: “Phải ha, có thầy Luân sát bên, chắc chẳng khi nào lạc được.”

Xe buýt vừa ngừng nơi bến, người ta xuống rần rần, tiếng gọi nhau inh ỏi. Thầy Luân dắt cô Liên với con Bông ra ngoài, thấy một chiếc xe ngựa đang chờ khách. Thầy bước lại, nói với anh phu xe:

“Anh Hai, chở giùm tôi với hai cô đây ra quán phở ở đường Catinat (nay là Đồng Khởi)”

Anh phu xe gật đầu, thầy Luân đỡ cô Liên với con Bông lên xe ngồi hẳn hoi, phu xe mới kéo dây cương, ngựa hí một tiếng rồi lăn bánh. Đường phố Sài Gòn đông đúc, xe hơi, xe kéo chen nhau, nhưng xe ngựa cứ thong thả đi, bánh xe gõ lộc cộc trên mặt đường. 

Một lát sau, xe ngựa dừng trước quán ăn. Quán không sang trọng, chỉ mấy bộ bàn ghế gỗ, mái lợp tôn, nhưng khách ra vô nườm nượp. Mùi phở, mùi cơm tấm, mùi thịt kho bay ra thơm phức. Người ta ăn uống rôm rả, tiếng chén đũa khua lách cách, tiếng cười nói vang vang.

Thầy Luân bước xuống, trả tiền cho phu xe rồi đưa tay dìu cô Ba, kêu con Bông theo sau. Ba người vào quán, ngồi nơi góc bàn. Chủ quán thấy khách quen thì niềm nở:

 “Cậu Luân đó hả? Lâu quá mới thấy thầy ghé. Trời đất, tưởng cậu quên quán tôi rồi chớ! Lâu nay cậu đi đâu vậy?”

Thầy Luân cười hiền hòa, giọng ôn tồn, chậm rãi: “Mấy tháng nay tôi về quê dạy học dùm, nay mới có dịp về lại. Hôm nay dẫn theo cô Hai, cô Ba đi cùng, muốn mời dùng món đặc biệt của quán cho biết.”

Chủ quán cười tươi, giọng sang sảng: “Vậy ha, quý quá! Vậy là nay cậu làm thầy người ta rồi đó hen. Nhưng thầy về dưới lâu mau rồi?”

“Cũng được đâu đó hai năm rồi.”

“Thầy Luân về dưới lâu vậy, chắc nhớ Sài Gòn lắm hả? Ở đây thì náo nhiệt, nhưng dưới quê lại có cái thú riêng, phải không thầy?”

Thầy Luân cười hiền, giọng ôn tồn: “Dưới quê thì yên tĩnh, có ruộng đồng, có bóng tre. Nhưng lâu lâu nhớ cảnh phố phường.”

Thầy Luân dẫn cô Ba đi dạo quanh Sài Gòn.

Con Bông rộn ràng, mắt sáng, giọng lanh lảnh: “Quán này coi bộ đông khách quá, món ăn chắc ngon lắm. Ông chủ, nay ông tính đãi món gì vậy?”

Ông chủ quán cười hề hề, tay xoa vào chiếc khăn vắt trên vai: “Vậy thì hôm nay tôi phải đãi hai cô món phở ngon nhất ở đây. Phở này nấu theo bí truyền, nước trong mà ngọt, thịt bò tươi rói, bánh phở mềm dai. Khách ăn rồi ai cũng khen, nhớ hoài không quên.”

Ông chủ vừa nói vừa quay ra sau, gọi lớn: “Bà Tư, đem ba tô phở đặc biệt ra cho thầy Luân với hai cô đây nghen!”

Con Bông ngồi xuống hỏi thầy Luân, giọng lanh lảnh: “Ủa, thầy… món này gọi là phở hả? Em mới nghe lần đầu, chớ chưa từng ăn bao giờ. Phở là cái chi vậy thầy?”

Thầy Luân cười hiền, giọng ôn tồn, chậm rãi: “Phở là món ăn nổi tiếng ở Sài Gòn. Nước nấu từ xương bò, ngọt thanh, bánh phở làm bằng gạo, mềm dai. Ăn kèm thịt bò tươi, thêm hành ngò, chanh ớt, thì ngon hết biết. Người ta nói, ai ăn phở rồi thì nhớ hoài.”

Con Bông mắt sáng rỡ, giọng reo vui: “Vậy thì em phải ăn thử coi. Nghe thầy nói mà bụng em đã cồn cào rồi đó nghen!”

Một lát sau, khói nghi ngút từ những tô phở nóng hổi được bưng ra, mùi thơm lan khắp bàn. Nước dùng trong veo, nổi vài lát thịt bò hồng hồng, bên trên rắc hành ngò xanh mướt.

“Trời ơi, thơm quá! Cô Ba ơi, chắc ăn một lần rồi nhớ hoài đó.”

Thầy Luân ngồi đối diện, thấy cô Ba e lệ cúi mặt trước tô phở nóng hổi, thì khẽ mỉm cười, tay nhẹ nhàng lấy dĩa rau thơm đặt bên cạnh.

“Cô Ba ăn phở thì phải có ngò, có rau, thêm chút chanh mới ngon. Tôi quen tay rồi, để tôi làm giùm cô.”

Thầy chọn vài cọng ngò xanh mướt, ngắt nhỏ bỏ vào tô của cô Ba, rồi lấy thêm ít giá, ít húng quế, xếp gọn gàng. Sau đó, thầy cầm miếng chanh vàng, vắt nhẹ, giọt chanh rơi xuống làm nước phở dậy mùi thơm thanh.

Cô Ba ngẩng mặt, má thoáng hồng, mắt nhìn xuống tô phở vừa được thầy chăm chút, giọng nhỏ nhẹ: “Thầy chu đáo quá. Em chưa từng ăn phở, nay được thầy lo cho từng chút, lòng em cảm động lắm.”

Thầy Luân cười hiền, ánh mắt dịu dàng: “Cô Ba nói vậy chớ tôi chỉ muốn cô ăn ngon miệng. Phở ở đây nổi tiếng, vì nước dùng trong, thơm, khách trí thức và dân lao động đều ghé.”

Con Bông ngồi bên, thấy cảnh ấy thì cười khúc khích, giọng lanh lảnh: “Cô Ba có thầy lo cho từng cọng rau, từng giọt chanh, chắc ăn phở này rồi nhớ hoài đó nghen!”

Nàng nghe vậy thì má thoáng hồng, mắt cúi xuống tô phở nghi ngút khói, giọng nhỏ nhẹ mà pha chút e thẹn:

“Con Bông nói chi kỳ vậy. Người ta lo cho mình ăn ngon miệng thì mình cảm ơn, chớ đừng chọc ghẹo. Nói hoài làm tôi mắc cỡ lắm.”

“Ăn xong rồi tôi dẫn cô Ba với Bông đi dạo phố, coi Sài Gòn cho biết, chớ ở đây nhiều cái hay lắm.”

Đúng lúc ấy, cửa quán mở ra, Lâm Khải Phong bước vào cùng một người bạn làm ăn. Anh ấy là một thương buôn lớn ở Chợ Lớn, dáng cao, vai rộng, vận bộ vest màu sẫm, giày tây bóng loáng, mùi nước hoa sang trọng thoảng qua khiến ai gần cũng phải chú ý. Gương mặt chàng sáng sủa, đường nét rắn rỏi, đôi mắt đen sâu, vừa toát vẻ lịch lãm vừa có chút phong lưu.

Khải Phong vừa vào quán đã nhìn thấy Cô Ba. Trong lòng anh thoáng xao động, giữ lễ nghĩa, anh bước đến gần, nụ cười nhã nhặn, đưa tay ra chào:

“Chào cô Ba, thật là hữu duyên, không ngờ lại gặp cô nơi đây.”

Cô Ba ngẩng lên, thấy Lâm Khải Phong trước mặt thì thoáng giật mình, nhưng rồi cũng mỉm cười xã giao. Nàng đưa tay bắt lại, giọng dịu dàng:

“Dạ, chào cậu Lâm. Lâu rồi mới gặp lại, thật là tình cờ.”

Ánh mắt anh thoáng liếc nhanh qua phía thầy Luân. Cái liếc ấy tuy ngắn ngủi nhưng đủ để người tinh ý nhận ra có điều bất thường. 

Trong quán phở, khói nghi ngút, tiếng người nói cười rộn ràng. Lâm Khải Phong ngồi xuống cùng một người bạn làm ăn. Người bạn vừa thấy anh đưa tay bắt với Cô Ba thì lấy làm lạ, liền hỏi nhỏ:

“Cô đó là ai vậy, coi bộ quen thân với anh lắm?”

Khải Phong mỉm cười, giọng điềm đạm mà lịch sự:

“À, cô Ba đó là con gái của một thương nhân mà tôi từng làm ăn chung. Trước kia tôi cũng có mấy lần tới nhà, nên gặp lại thì nhận ra liền.”

Thầy Luân vừa nâng đũa, chợt liếc mắt về phía bàn bên kia. Anh thấy Lâm Khải Phong tuy ngồi trò chuyện với bạn, nhưng ánh nhìn lại hướng về phía bàn của Cô Ba.

Ánh mắt ấy có chút khác lạ, như chứa đựng một nỗi niềm sâu kín. Thầy Luân nhớ lại khoảnh khắc lúc nãy, khi Khải Phong bắt tay Cô Ba, anh nhìn thầy Luân như muốn dò xét, như muốn khẳng định điều gì. 

......................

Buổi chiều Sài Gòn, nắng đã ngả vàng, ánh sáng hắt xuống mái ngói đỏ, soi bóng người qua lại trên đường phố. Gió từ sông Sài Gòn thổi vào mát rượi, mang theo hơi nước lẫn chút mùi khói xe, tạo nên cái không khí vừa náo nhiệt vừa thơ mộng.

Phố Charner (Nguyễn Huệ bây giờ) đông người dạo chơi, xe ngựa, xe hơi chen nhau, tiếng rao hàng hòa cùng tiếng chuông nhà thờ xa xa. Hai bên đường là những ngôi nhà kiểu Pháp, cửa tiệm sáng đèn, bảng hiệu treo lấp lánh.

Thầy Luân đi bên cạnh cô Ba, dáng khoan thai, mắt nhìn nàng mà lòng rộn ràng. Cô Ba trong tà áo dài xanh ngọc, bước đi e lệ, mái tóc vấn cao khẽ lay trong gió chiều.

Thầy Luân cười hiền, giọng gần gũi: “Cô Ba, mình đi dạo một vòng rồi ghé Bến Bạch Đằng. Chiều nay gió sông mát lắm, lại có nhiều người ra ngồi hóng, coi cảnh tàu bè qua lại.”

Gió từ sông thổi vào mát rượi. Hai người thong thả bước xuống Bến Bạch Đằng, nước sông lấp lánh ánh vàng, tàu bè neo đậu san sát. Thầy Luân vừa đi vừa chỉ tay ra bến:

“Cô Ba coi, bến này là nơi ghe thuyền từ miền Tây chở lúa gạo, trái cây lên. Họ neo đậu dọc bến, rồi buôn bán ngay trên sông. Cảnh này vừa mang nét cổ kính của quê nhà, vừa hòa cùng nhịp sống đô thị nhộn nhịp.”

Cô Ba ngó theo, thấy từng chiếc ghe chở đầy xoài, mít, chôm chôm, xen lẫn những bao lúa chất cao, người ta chuyền tay nhau, tiếng gọi í ới vang cả một khúc sông. Bên kia, phố phường sáng đèn, xe cộ qua lại rộn ràng.

Cô Ba giọng nhỏ nhẹ, mắt long lanh: “Em chưa từng thấy cảnh nào như vầy.”

Thầy Luân cười hiền, giọng thân tình: “Sài Gòn là chỗ giao hòa. Người quê đem sản vật lên, người phố thì mua bán, trao đổi. Nhờ vậy mà thành phố này vừa giữ được hồn quê, vừa mang dáng vẻ hiện đại.”

“Đi với thầy em mới hiểu được cảnh này, chớ đó giờ ở quê chỉ thấy ghe chở lúa, chở củi, chở trái cây về chợ huyện. Người ta buôn bán đơn sơ, đâu có cảnh đông vui, vừa ghe thuyền vừa phố xá sáng rực như vầy. Nay thấy tận mắt mới biết Sài Gòn nhộn nhịp mà cũng gần gũi với quê mình.

Thầy Luân dẫn cô Ba với con Bông rẽ vào một quán cóc ven đường, mái lá đơn sơ, bàn ghế tre mộc mạc, nhưng chỗ ngồi lại nhìn thẳng ra bến sông. Ba người chọn một góc bàn ngồi xuống. Chủ quán dáng chất phác, mang ra ba ly nước mía mát lạnh, khói sương từ đá bốc lên lẫn trong hơi gió chiều.

Nó đưa ly lên môi, uống thử một ngụm, rồi bất chợt reo lên, giọng lanh lảnh, hồn nhiên: 

“Trời ơi, ngon quá chừng! Ngọt mà lại mát, uống vô thấy khoan khoái cả người. Thiệt tình, đó giờ em chỉ ăn mía thôi, cắn từng khúc nhai cho ngọt nước, chớ chưa từng uống nước mía bao giờ. Ai dè ép ra thành nước lại ngon dữ vậy!”

Nó vừa nói vừa cười khúc khích, tay khẽ lắc lắc ly nước mía, quay qua ngó cô Ba, giọng thúc giục: “Cô Ba mau uống thử đi, ngon lắm đó nghen! Uống vô rồi chắc cô cũng mê như em thôi.”

Cô Ba nghe, tay đưa ly lên môi, ánh mắt e lệ nhưng cũng tò mò. Thầy Luân ngồi đối diện, nhìn cảnh ấy thì cười hiền, lòng thấy ấm áp.

“Cô Ba uống thấy sao?”

Cô Ba khẽ mỉm cười, giọng nhỏ nhẹ: “Dạ ngon thưa thầy… Ở quê mình, con nít hay ăn mía, coi như món quà vườn. Lên Sài Gòn mới thấy người ta khéo, ép ra nước, thêm đá lạnh, uống vô mát cả người.”

“Nước mía ở đây bình dân, ai đi ngang cũng ghé uống. Vừa rẻ vừa ngon, lại mang hương vị quê nhà. Thấy cô Ba vui vậy, tôi cũng thấy lòng mình vui theo.”

“Mà thầy Luân ơi, vậy tối nay cô Ba em ngủ ở đâu vậy thầy? Nhà trọ hay chỗ nào, thầy tính chưa?”

Thầy Luân nghe khẽ mỉm cười, ánh mắt dịu dàng nhìn cô Ba, giọng trầm ấm mà gần gũi:

 “Tôi đã nghĩ rồi. Nếu cô Ba thấy tiện thì về nhà tôi ở mấy bữa. Chứ để cô trọ một mình, tôi cũng không yên tâm. Ở chốn lạ, người ta qua lại đông, tôi sợ cô buồn, lại không có ai lo cho. Còn nếu cô ngại, tôi sẽ tìm chỗ trọ gần đó, để hai cô nghỉ ngơi cho thoải mái.”

Con Bông ngồi bên, nghe thầy ngỏ ý mời về nhà thì mắt sáng rỡ, nó nhanh miệng chen vô, giọng lanh lảnh, hồn nhiên mà cũng như “mượn nước đẩy thuyền”:

“Cô Ba, thầy nói vậy hay quá đó. Ở trọ một mình vừa buồn vừa bất tiện, chi bằng mình về nhà thầy cho ấm cúng. Có thầy lo cho, cô khỏi phải nghĩ ngợi chi. Em thấy vậy là tiện nhất rồi đó nghen!”

Nó vừa nói vừa đưa mắt nhìn cô Ba, như thúc giục cô phải gật đầu. Cô Ba nghe, má thoáng hồng, tay khẽ vuốt tà áo, lòng bồi hồi. Nàng ngẩng mặt nhìn thầy Luân, giọng nhỏ nhẹ nhưng gần gũi hơn thường ngày:

“Thầy lo cho em vậy, em cũng không nỡ từ chối. Thôi thì em nghe lời thầy, về nhà thầy ở tạm mấy ngày. Miễn thầy đừng để ai dị nghị, thì em không ngại chi.”

Thầy Luân nghe nụ cười hiền hòa hiện rõ, ánh mắt sáng rỡ, giọng trầm ấm mà chan chứa tình cảm:

“Cô Ba chịu vậy, tôi vui lắm.”

“Vậy thì hay quá! Em coi như cũng được nhờ, có thầy lo cho cô Ba, chắc em cũng được ăn ké, ở ké cho vui.”

Trong khoảnh khắc ấy, nàng không đáp, chỉ khẽ cúi mặt, đôi mắt liếc sang thầy Luân. Trong ánh nhìn ấy, có chút tình riêng, có chút e lệ. Thầy Luân cũng không vội trả lời, chỉ lặng lẽ nhìn lại. Trong mắt thầy có sự dịu dàng, có niềm vui khó giấu, nhưng vẫn giữ vẻ đoan chính, không để lộ quá đà.

Download MangaToon APP on App Store and Google Play

novel PDF download
NovelToon
Step Into A Different WORLD!
Download MangaToon APP on App Store and Google Play