Người Lính Phi Công Mỹ tìm Lại Tình đầu Đang mang Thai ở Việt Nam, sau gần 50 năm lạc mất nhau...
Tôi đứng chết lặng ở Bến Ninh Kiều, gió sông thổi lạnh buốt sống lưng. Cách đó chưa đầy ba mươi mét, một ông lão người Mỹ tóc bạc trắng ngồi bất động trên ghế gỗ cũ kỹ, vai run run, tay nắm chặt bức ảnh ngả vàng. Nước mắt ông rơi lã chã, không kìm nén. Tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ tung. Chân tôi muốn bước tới, nhưng cả cơ thể như bị đóng băng. Tôi sợ. Sợ rằng tất cả chỉ là giấc mơ đau đớn, và khi tỉnh dậy, nỗi mất mát sẽ cướp đi của tôi thêm một lần nữa.
Hơn bảy mươi tuổi, cuộc đời tôi tưởng đã nguội lạnh. Vậy mà khoảnh khắc ấy, tất cả ký ức ùa về như sóng dữ, khiến tôi nghẹn họng, nước mắt nóng hổi lăn dài trên má không hay.
Tôi là Lê Ngọc Châm. Sinh ra ở Sài Gòn những năm 1940s, cha là kỹ sư người Pháp, mẹ người Việt. Năm 1968, bom đạn khiến gia đình tôi dời xuống Cần Thơ. Tôi hai mươi tuổi, làm phiên dịch cho Hội Chữ thập đỏ. Đó là nơi tôi gặp Thomas Bradley – trung úy phi công Mỹ hai mươi hai tuổi, thuộc phi đoàn trực thăng 175.
Lần đầu tiên anh nhìn tôi ở trạm y tế dã chiến Trà Nóc, ánh mắt anh dừng lại lâu đến mức tôi phải quay đi, mặt nóng bừng. Anh tìm mọi cớ gặp tôi. Có hôm anh vẽ nguệch ngoạc một bông sen tặng tôi, có hôm anh chờ tôi tan ca rồi rủ đi dạo Bến Ninh Kiều. Tôi từ chối rất nhiều lần. Hàng xóm dị nghị, mẹ tôi lo lắng: “Con gái nhà lành, đừng dây dưa với lính Mỹ, mai sau khổ lắm con ơi.”
Nhưng tình yêu thời chiến đến như cơn mưa rào mùa hạ, không gì cản nổi. Chúng tôi gặp nhau lén lút. Anh thuê căn phòng nhỏ sau tiệm vải đường Nguyễn Thị Minh Khai. Những buổi chiều mưa tầm tã, chúng tôi ngồi nép dưới hiên quán chè, anh nắm chặt tay tôi, hôn lên mu bàn tay lạnh cóng. “Châm, anh sẽ không bỏ em,” anh thì thầm bằng giọng Anh nặng trịch. Tôi nép vào ngực anh, nghe tim anh đập mạnh, mùi thuốc súng và xăng máy bay vẫn còn vương trên áo. Đêm 2 tháng Giêng năm 1970, dưới cơn mưa phùn lạnh buốt, chúng tôi đã vượt qua giới hạn của hai con người đang yêu nhau trong lòng chết chóc.
Tôi biết mình mang thai vào tháng thứ ba. Nỗi sợ hãi gặm nhấm tôi từng ngày. Thomas nhận lệnh khẩn chuyển đi Biên Hòa hỗ trợ chiến dịch Campuchia. Trước khi đi, anh ôm tôi thật chặt: “Em chờ anh. Anh sẽ trở lại.” Tôi muốn nói với anh rằng tôi đang có con của anh, nhưng lời nói mắc nghẹn trong cổ họng. Tôi sợ anh day dứt, sợ anh phải chọn giữa quân ngũ và tôi, sợ anh mang theo nỗi lo ấy vào chiến trường. Tôi im lặng. Và chính sự im lặng ấy đã cướp mất con tôi sau này.
Tôi về quê Tam Bình, Vĩnh Long sinh con gái tháng 10 năm 1970. Bé có đôi mắt nâu sâu, hàng mi dài y hệt Thomas. Tôi đặt tên Lê Mai Linh. Những năm tháng sau 1975, cuộc sống đảo lộn. Lời đồn “con lai Mỹ” khiến tôi bị cô lập. Chồng tôi sau này – một người cán bộ về hưu – ban đầu không biết chuyện, nhưng khi hay tin, ông đã giận dữ suốt nhiều năm. “Mày giấu tao chuyện lớn thế này?” Những trận cãi vã nổ ra, mẹ chồng tôi thì ngày ngày mắng chửi: “Nhà này có con hoang Mỹ, xấu hổ với làng xóm.” Tôi cắn răng chịu đựng, vừa làm ruộng, vừa may áo cho thuê để nuôi hai đứa con sau này và lo cho Mai Linh.
Năm 1975, Sài Gòn hỗn loạn. Mẹ tôi bệnh nặng nằm viện, van xin tôi đưa Mai Linh lên trung tâm SOS Tân Định tạm gửi vài tuần để tránh đạn bom và loạn lạc. Tôi do dự rất nhiều, nhưng cuối cùng đành ký giấy gửi tạm. Chỉ nghĩ vài ngày sau đón về. Ai ngờ sáng hôm sau, con bé đã bị đưa lên chuyến bay Operation Baby Lift sang Pháp. Khi tôi đạp xe đạp từ Cần Thơ lên Sài Gòn, nước mắt rơi đầy đường, chạy vào trung tâm gào khóc, họ lạnh lùng nói hồ sơ thất lạc, con bé đã đi rồi.
Tôi ngã quỵ ngay giữa sân. Tiếng khóc của tôi vang vọng, mùi thuốc khử trùng bệnh viện lẫn với mùi mồ hôi và bụi đường khiến tôi nôn oẹ. Về nhà, tôi nhốt mình trong căn nhà tranh vách đất suốt ba tháng, không ăn không ngủ. Chồng tôi lúc ấy cũng đang khó khăn với công việc mới, ông trách tôi: “Mày ngu quá, sao không giữ con lại?” Những lời ấy như dao cắt vào tim. Tôi mất con, mất cả niềm tin vào chính mình.
Nửa thế kỷ trôi qua. Tôi già đi, tóc bạc trắng, sống trong căn nhà nhỏ ven sông Tam Bình. Hai đứa con sau lớn lên, lập gia đình, nhưng tôi vẫn một mình trong nỗi đau thầm lặng. Đêm nào tôi cũng mơ thấy Mai Linh khóc gọi mẹ, giật mình tỉnh dậy, nước mắt ướt đẫm gối. Tôi nghĩ mình sẽ mang nỗi day dứt này xuống mồ.
Cho đến một buổi sáng đầu năm 2023, cháu trai Hoàng Sơn – con trai út của tôi – gọi điện giọng run run: “Bà ơi, có một ông người Mỹ tên Thomas Bradley đang tìm bà qua diễn đàn cựu binh…”...
Tôi sững sờ, tay cầm điện thoại run đến mức suýt rơi. Không tin nổi.....
................................................
Xem tiếp tại bình luận 👇👇