Lại một mùa vụ thất bại đi qua, Tà La , một làng nghèo, là nơi sinh sống của hơn một trăm con người gầy so, trẻ nhỏ ốm yếu như những que củi lang thang, miếng cơm đều cậy vào một mảnh ruộng bé xíu.
Đã khó khăn, thế mà dân thì mạnh ai nấy sống, chuyện nhà ai nấy lo. Đỡ cái, làng vẫn có một cụ độ hơn bảy mươi phụ trách sổ sách , giấy xin trợ cấp từ chính phủ và cả chuyện chia cơm gạo cho bà con, Không thì, có mà chết một bầy máu lạnh.
Tưởng chừng cái nơi này chẳng thể chứa chấp thêm một ai, hay thậm chí là không bóng ma nào muốn bén mảng tới xin ở. Vậy mà chiều nọ, thằng Sáo, nhóc có miệng mồm nhanh nhẹn, chuyện gì mà vừa xảy ra là có như bồ câu loa loa tới tai nguyên một xóm vỏn ven một nốt nhạc.
- Làng có khách bà con ơi. Hình như một thầy giáo ở huyện về.
Hay tin vị khách đến chơi là một người có học thức, bà con trong làng mừng như vớ được mùa lứa nặng bông lắm. Ai cũng vội ùa xát rạt thàng Sáo mà hỏi ráo riết một câu lặp đi lặp lại như đầu đĩa dập:
-Thật không nhóc? Làng sắp có thầy giáo hả?
-Cháu nói thật. Không tin cứ ra cổng làng mà xem. Cụ trưởng đang đón tiếp thằng cha đó ở ngoải.
Mọi người nghe lời khẳng định chắt hơn rễ thụ , liền đổi hướng thẳng ra cổng, chạy ùa như ong vỡ tổ. Khi đến cổng làng, quả mồm Sáo rú rít dị mà tin chuẩn. Người đứng kế bên cụ trưởng trong hơi gầy, nhưng chưa bằng mớ xưởng xẩu đang được bọc da của người Tà Là. Thầy mặc một chiếc áo sơ mi trắng tinh tươm, mắt kính đeo chỉnh tề, chân đi dép nhưng sạch bóng.
-Trời, thằng chả cũng nghèo lắm chứ có khá khẩm hơn ai, thằng Sáo đứng trước mặt cụ trưởng và “ ma mới “ nói thẳng.
Nghe cậu nhóc nói vậy, không một lời quở trách, người lớn chỉ chăm chăm nhìn từ trên xuống dưới thầy. Đúng ha, chiếc xe đạp cà tàng của thằng chả còn tệ hơn nhà tôi. Một người trong đám đông thốt.
Chàng trai đó và cả cụ trưởng chỉ biết cười khẩy cho qua. Thầy mạnh dạng mở chóng chó, chóng xe xuống nhẹ nhàng. Thầy bước từng bước mềm mại như lông vũ, vẻ mặt chẳng tí khinh sợ, trên gương mặt ấy chỉ nở một nụ cười khả ái với đôi mắt hiền từ.
- Chào mọi người, tôi là Tú, là một thầy giáo. Nhà tôi ở gần ngay cổng ra vào làng, cô bác , anh chị, các em nhỏ nào muốn học tập, có thể ghé qua.
Nói xong thầy quay đầu, dắt chiếc xe cũ kĩ đi thẳng vào cổng với sự nhã nhặng, không quên cuí đầu chào mọi người trước khi vào nhà. Kể từ ngày đó, hôm nào nhà thầy cũng có học sinh , vài ba đứa lát đát. Cái làng nghèo này thì lấy đâu ra đủ hào mà đầu tư con em lắp đầy hết mấy bàn trống còn lại ở nhà thầy cơ chứ. Thầy giáo nhìn cảnh lớp học leo queo, đôi mắt có chút khó chịu, sau đó lại lộ rõ vẻ u buồn. Tú im lặng một đổi, trầm ngâm , rồi cũng ngẩn đầu lên , nở một nụ cười đầm thấm với tụi nhỏ đang hoang mang , loay hoay mãi với cây bút chì lùn tịt , bé tẹo. Thầy lấy phấn , viết trên bảng chữ a, ă, â, b,... một lượt kín bảng. Rồi dùng thước chỉ từng chữ, đọc thật to, rõ và các cô cậu bé con ngồi ở dưới cũng mấp theo . Thật kỳ lạ, lớp rõ chỉ vỏn vẹn chưa tới năm đứa , vậy mà khi chúng đồng thanh phát âm, thậm chí có thể lấn ác toàn bộ tiếng thầy.
Đến một hôm , Tú đi dạo quanh xóm, chợt thấy những kí tự lạ, trông hết sức ngoằn nghoèo như dấu vết cào của ngón tay người trên mặt đất rải cát, cả thân cây gần nhà cũng có dấu cạ nạ của vật có đầu nhọn . Thầy nhìn một đỗi, cuối cùng chỉ cười phì, gương mặt có chút nhẹ nhõm. Đến khi tới giờ dậy, ngoài trời gió thổi vù vù , những cánh cửa không cột dây kĩ, nhỡ bay đi cũng không phải chuyện lạ.Trong bầu không khí như thế, ọn học trò lại réo đến nhức óc:
-Gì mà nóng vậy bây, mở cửa sổ , cửa chính ra hết đi thầy, nóng vầy chắc tụi em gục mất thôi.
Dẫu ai cũng biết rõ, mở tung hết cửa, gió lùa vào là sách vở, bút thước sẽ bay lung tung, tán loạn nhưng kệ nó, học tập là đặc quyền của tất cả. Như yêu cầu vô lý của tụi nhóc, phòng học hôm ấy, bút phấn rơi đầy sàn, vở nằm góc này, sách ụp thẳng xuống đất.
Hôm đó,Tú cho một bài kiểm tra viết chính tả nhỏ, hễ ai viết được, viết đúng , viết đẹp thì sẽ được thưởng kẹo đường nhỏ xíu nhưng đó là món khoải khẩu của tụi nhóc Tà La. Người thầy trông cũng không đủ đầy dinh dưỡng là bao mà giọng khoẻ, bao giờ đọc bài, chỉ bài cho trò, giọng thầy cố nói thật lớn, rõ hơn cả loa truyền tin trong làng. Sau bài kiểm tra, tất cả đều được thầu phê tốt , tất nhiên chúng sẽ có kẹo. Rõ thầy biết số học trò , thể nhưng số kẹo trong bịt rất nhiều, lên đến mấy chục chứ không phải năm sái viên. Nghĩ thầy mùa để dành, nào đâu, phát kẹo cho trò xong, Tú bảo:
-Ối, thầy mua dư nhiều quá, để lâu,hết hạn thì chẳng còn ngon được. Thôi cho mấy em. Tú dúi bọc kẹo to vào tay một bạn nữa và quay lưng về phía bảng. Không xoá, thầy đang nắn nót lại những nét chữ bị mờ, lem hay khó nhìn , sao cho từng chữ tỉ mỉ , thẳng hàng và đều, đẹp.
Làng cứ thế theo ngày trôi ngày, cuối cùng các trò lớp thầy Tú cũng hoàn thành chương trình lớp hai. học vẫn mở tang quang bất kể thời tiết. Chất giọng mạnh, to , rõ của Tú vẫn không bị ngắt quãng hay đục mờ. Bọn trẻ cũng chăm lắm, học hàng chú tâm, sách vở sạch sẽ, gần như ít dấu bút đỏ của thầy, toàn khen.
Buồn thay, gắn bó với làng hai năm trời cống hiến cùng đồng lương ít ỏi, chắc không cầm cự nổi nên thầy Tú xin rời làng về huyện. Ngày thầy đi, ánh mắt tất cả những đứa trẻ Tà La, dù là trò trong lớp hay ngoài... đều rơm rớm hai dòng lệ ướt mèm , nom rõ vẻ cầu xin ở lại. Chỉ riêng Tú là cười tươi hơn xuân, chào tạm biệt mọi người bằng cung cách lịch sự như cái chào ngày anh đến.
-Ối giời, lũ hám của cả thôi. Làm ở đây ba cọc ba đồng thì sao chịu nổi, hắn về huyện ít ra đủ dư dả cho vợ con sau này, một bà dì nói to với mọi người khi bóng lưng Tú mờ dần mờ dần sau cổng làng.
Mọi thứ sau một tuần trời kể từ sự ra đi của Tú, trẻ em, vài đứa vẫn giữ mãi nét đượm sầu thấy rõ, mọi người quay về cuộc sống cầy xới, bán lưng cho trời , mờ hội cho đất với hi vọng về mùa bội thu. Bỗng từ đâu, một đoàn xe chính phủ , tổ chức cứu trợ dâ nghèo, tổ chức nuôi dưỡng trẻ,... nối đuôi như con trăng khổng lồ tiến vào Tà La. Từ khi nào , ngôi làng “ cô đơn” bao lần nhận đơn từ chối cứu trợ từ chính phủ giờ đây lại được sự đón tiếp nồng hậu, phép lạ của thiên thần nào đã mang may mắn, vinh hạnh này cho những kẻ khốn khổ hiếu học. Sau khi ai nấy nhận gạo, lương thực dài hạn, nước sạch để uống, trẻ em thì ôm nặng mỗi đứa cả mớ vở trắng tươm, bút viết đầy mực, bút chì cao và mới. Bước từ một trong những chiếc xe cứu trợ ấy, một càng trai ăn mặc một bộ comle giản dị nhưng vẫn trang nhã , bước xuống và dùng giọng không micro nói to:” Các trờ chia kẹo cùng ăn nhé”.