Chiều nay, nắng rải vàng lên bậc thềm. Gió đùa qua mái tóc bạc phơ, mơn man như bàn tay ai vuốt nhẹ trên vai. Tôi ngồi đây, như bao chiều khác, trên chiếc ghế gỗ cũ kỹ mà ông từng đóng bằng tay năm chúng tôi vừa dọn về căn nhà nhỏ này. Cái lưng ghế hơi nghiêng, một bên chân cập kênh, nhưng ông vẫn bảo: “Ngồi vầy mới dựa được vào nhau.”
Lúc ấy tôi còn cười, bảo ông già rồi mà còn nói chuyện lãng mạn. Vậy mà giờ tôi mới hiểu, cái lưng ghế nghiêng kia là để ông tựa vào tôi, hoặc để tôi tựa vào ông – tùy hôm đó ai mỏi hơn.
Ngày ông mất, chiếc ghế vẫn còn ấm.
Tôi nhớ rất rõ lần đầu gặp ông. Đó là một ngày mưa phùn, tôi đội nón lá đi mua gạo thì gặp ông đứng che dù cho một con mèo bị ướt. Cái dáng cao gầy, cái áo sơ mi bạc màu, và ánh mắt… ánh mắt như đã nhìn thấy tôi từ kiếp trước. Ông chẳng nói gì nhiều, chỉ nhìn tôi rồi gật đầu. Vậy mà cái gật đầu đó theo tôi suốt mấy mươi năm trời.
Chúng tôi không có những bức ảnh lộng lẫy, không có tuần trăng mật ở đâu xa, chẳng có quà cáp mỗi dịp lễ Tết. Nhưng sáng nào ông cũng pha cho tôi một ly nước ấm, đặt đúng bên tay phải. Ông biết tôi quen cầm ly bằng tay đó. Có lần tôi hỏi sao ông nhớ kỹ vậy, ông chỉ bảo: “Thương nhau thì phải nhớ nhau kỹ chứ.” Rồi lại cười, cái cười hiền như gió qua đồng lúa.
Khi tôi sinh đứa con đầu lòng, ông thức nguyên đêm bóp tay bóp chân cho tôi, nấu cháo bằng củi vì sợ tôi ăn đồ gas sẽ không tốt. Ông không nói thương tôi bằng lời, nhưng bàn tay ông luôn tìm lấy tay tôi mỗi khi tôi lo lắng. Lưng ông thì còng dần theo những mùa mưa nắng, còn tôi thì già đi trong bình yên ông tạo ra.
Những năm cuối đời, ông yếu hẳn. Lưng đau, mắt mờ, nhưng tối nào cũng lần mò sang giường tôi, đắp lại tấm mền, kéo nhẹ xuống chân vì sợ tôi lạnh. Cứ như thể, ông sợ tôi biến mất trong đêm như cái cách thời gian lấy đi thanh xuân của cả hai đứa.
Đến khi ông không còn nữa, tôi mới biết căn nhà này rộng đến thế. Rộng và trống. Trống cái tiếng ho khe khẽ buổi sáng, trống tiếng gọi tôi khi nước sôi trào, và trống nhất là ánh mắt hay nhìn tôi qua cửa sổ khi tôi tưới cây ngoài vườn.
Nhiều người hỏi tôi sao không dọn về ở với con cháu. Tôi chỉ cười. Làm sao tôi bỏ căn nhà mà mỗi viên gạch đều có dấu tay ông, mỗi buổi chiều lại phảng phất tiếng ông ho khẽ phía sau lưng?
Tôi vẫn giữ cái áo len ông đan dở. Đôi kim vẫn còn xỏ chỉ đỏ, sợi len rối một đoạn vì hôm ấy ông ho quá nhiều mà không kịp tháo ra. Tôi chưa từng gỡ nó. Cứ để vậy. Như để giữ lại dở dang của người thương – dở dang mà không đau, chỉ mềm lòng.
Trời chiều xuống rồi. Chiếc ghế bên cạnh tôi vẫn trống, như đã đợi ai đó rất lâu. Nhưng tôi không cảm thấy cô đơn. Bởi lẽ, tình yêu mà ông để lại… chưa từng rời đi.
Tôi cúi người nhặt một chiếc lá vừa rơi xuống bậc thềm, mỏng manh và khô giòn như một kỷ niệm cũ. Chắc ông lại thả nó xuống trêu tôi, như cái cách ông hay giấu đôi dép của tôi mỗi sáng chỉ để nhìn tôi lục đục tìm kiếm. Gió lùa qua vạt áo, mang theo mùi hoa nhài ông từng trồng trước hiên. Tôi khép mắt. Có lẽ, ở một nơi nào đó rất gần, ông vẫn đang ngồi cạnh tôi, yên lặng – nhưng không bao giờ vắng mặt.