“Không phải là tôi không thích nghe, chỉ đành rằng mỗi lần nghe lại là một lần đau đến quặn lòng…”
Má Ba nức nở từng hồi khe khẽ như thế mỗi lần nói chuyện với tôi về đứa con đã mấy năm xa nhà. Người ta không gọi bà bằng cái tên bình thường nào khác mà gọi má bởi đó chính là người giữ làng với những mẩu thư tin gửi về mỗi mùa kháng chiến, là chén cơm manh áo gói ghém trong quán lá dong xôi dừa ngày nào. Vùng quê tôi chuyên trồng dừa nên nổi tiếng với món cơm dừa sáp dẻo ngọt gợi thương gợi nhớ. Mùa chiến tranh hay ngày hoà bình, lũ trẻ chúng tôi đều tranh nhau xúm tụm quanh quán bán của bà Ba, trầm ngâm nghe chuyện xưa, ngắm nghía những viên tròn xinh xinh bà làm. Đối với thế hệ trước, hai tiếng “Má Ba” vốn ngọt xớt đầu hẻm nhỏ, còn với trẻ nhỏ chúng tôi, bà thân thuộc và luôn xuất hiện đầu tiên trong tầm tay, tầm mắt. Có điều với trẻ con hay người lớn tuổi, họ thường bộc bạch những thảo thơm chân thật đến ngọt ngào.
Năm giờ sáng mỗi ngày hửng đông, bà lại lặn lội ra bờ ao như ngóng trông ai, ánh mắt vô thức nhìn về xa xăm, tay vẫn lăm lăm hòm thư cũ đã rỉ sét. Tôi biết bà ngóng chú Chiến, chiến tranh khuất bóng sau rặng tre, vậy mà chú vẫn chưa thấy trở về. Thời điểm ấy, người làng tôi đều nhủ nhầm chính là biệt tăm biệt tích nhưng chẳng ai nói ra, sợ bà buồn, bà tủi “thư người khác má giao tới nơi, sao thư này của má, mắt trời giao chậm thế, tôi buồn, buồn giùm luôn cảnh má, đôi lúc cứ ước mình con má, máu thân này nhiều ít cũng đành!”. Những lời thì thầm ấy như thông lệ mỗi tối trông trăng, vốn nhạy cảm, tôi thương bà nhiều hơn, người phụ nữ phúc hậu luôn mỉm cười trước dừa non, cưng nựng chúng bởi bà thấu tình đạt lý lắm, tình sâu nghĩa nặng lắm!
Hôm nay là một ngày đông giáp Tết đặc biệt, bà khoác chiếc khăn quàng đứng vịn chiếc chum nước nhỏ, đôi mắt mờ dần đi bỗng thất thần, thở dài những tiếng não nề. Gió đìu hiu, mặt sông gợn sóng, tiếng con sẻ nâu rập rờn cũng dập dềnh như mênh mang nỗi buồn chiều. Nỗi buồn có bánh chưng reo mà chẳng reo tiếng cười, nỗi buồn có pháo hoa sum họp một vùng trời mà giống như từng tia lửa bụi, chẳng khác nào cảnh nhà bà, các con đều làm tia lửa bụi ấy gieo lửa ấm vào đất trời. Bởi lẽ đó, tôi luôn tin vạn vật mang hơi ấm, không thì làm sao cây có thể đơm chồi nảy hoa trên mặt đất lạnh ngày mưa được?
Chúng tôi chẳng bao nhau câu nào nhưng đứa nào đứa nấy đều tất tưởi chạy sang nhà bà Ba, tay lăm lăm bọc kẹo vừng cùng mấy khoanh giò ba mẹ bảo đưa sang cho bà. Mùi huệ trắng quyện cùng hương trầm ngan ngát một hương thơm nồng nàn đến dễ chịu, tôi chăm chăm nhìn khay trầu đang ăn dở của bà, lòng thầm vui vẻ bởi ngày Tết này, ít nhất bà cũng có chúng tôi ở bên – những người bạn nhỏ âm thầm kề cạnh bên bà. Bỗng chuông cửa reo như ngân rung từng hồi, tôi chạy vội ra hòm thư nhỏ, vui vẻ chạy vào:
-Bà ơi, thư trên tỉnh gửi về, tin tức của chú Chiến đấy bà ạ!
-Chạy từ từ thôi con, kẻo ngã đấy!-Vậy mà giọng bà còn sốt sắng và lo lắng hơn tôi, (người lớn lắm khi luôn nói dối lòng mình, sao họ không cho phép trẻ con chúng tôi làm thế nhỉ).
Không gian bỗng trầm lặng, bà Ba chăm chăm nhìn phong thư trên tay, ánh mắt thở dài thườn thượt, nhẹ nhàng đưa tay ôm lấy mặt giấy. Tôi, nhỏ Lan, thằng Thiện và mấy đứa nữa tíu tít một hồi bên cạnh chiếc chõng tre hí hoáy làm cho xong bức thư, thắt một chiếc nơ xinh thật to và mềm mại. Lũ trẻ khúc khích cười, đội chiếc mũ cối màu xanh, mượn ông Năm ngày xưa đi lính, đứa quần xanh, đứa áo xanh xếp thành một hàng, nấp vào rặng cúc tần xanh rì rào. Chúng tôi háo hức bấm chuông cửa nhân lúc bà Ba còn cặm cụi trong bếp nấu bánh chưng đón giao thừa. Khi nhận được phong thư mang bìa đỏ chúc cho một năm mới may mắn, ấm no, những vết nhăn trên gương mặt người bà hiền hậu cũng cười theo tiếng ríu ran của trẻ con như chim sẻ gọi bầy. Nhưng năm nay, đó không phải là lá thư mang ý nghĩa chúc tụng bình thường, tôi đã nhờ chị Hương tự tay viết nên những dòng chữ thẳng tắp, ngăn nắp, và hơn cả, mỗi dòng thơm mùi mực ấy, chúng tôi mang vào đó câu chuyện thật đặc biệt về tấm lòng dũng cảm của một người mẹ anh hùng…
“Chiến tranh không đến cùng mùa gặt đâu má ạ, chúng con tin chắc là như thế bởi vì thực sự má đã trở thành một người mẹ mang đến tình thương thật đời thường nhưng thiêng liêng. Mỗi rạng đông, má nhớ phải quàng khăn, cái khăn nhung đen chít hình mỏ quạ ấy, nếu không Chiến sẽ rất lo cho má, sẽ không thể yên tâm đi cùng Mẹ Tổ quốc. Con biết má mong con má dù ở bất cứ nơi nào cũng nhận được hạnh phúc, điều đó khiến má trằn trọc, âu lo trong bao đêm cửa bỏ ngỏ, trong bao ngày hòm thư vẫn trống rỗng. Con biết má là má của người làng nhưng đối với lũ trẻ con chúng con, dù lớn lên rồi nhưng chẳng thể nào quên món xôi dừa rất đỗi đặc biệt ấy. Cái Hương gầy gò, bé nhỏ của má giờ đã trưởng thành, quyết định về quê ở để mỗi ngày được trò chuyện và thấy nụ cười thân thương trên gương mặt phúc hậu của người phụ nữ hiền từ, luôn sẵn sàng dang tay che chở, bảo vệ cho những mầm xanh nhỏ. Đám trẻ hiện tại cũng ngoan lắm má ạ, tụi nhỏ nhờ con viết bức thư này, chăm chút từ giấy gói, nơ thắt chỉ vì muốn được thấy má cười, thấy má an yên đón giao thừa. Con hiểu thư báo về sự hi sinh của Chiến đến tay má, nhưng bởi mãi ở trong tim nên chắc chắn con và tất cả trái tim trong nhịp đập làng mình đều mang một niềm tin rằng: Chiến là con của làng, má là má Ba-người giữ làng…”
Bà Ba chẳng nói chẳng rằng, nước mắt ngấn lệ nhìn theo chị Hương đang vẫy tay từ đằng xa. Người lớn trong làng tôi tập trung bên ngoài sân, không ngừng xôn xao mỉm cười theo hai người họ, ới vọng sang bên sân nhà bà “Má Ba may mắn quá hén, cô Hương về đây cũng là vì má, má phải hạnh phúc thì chúng tôi mới hạnh phúc được chứ!”, “Ông Năm nói đúng đó, má không thấy tụi “dừa non” háo hức đợi bánh chưng lắm ư”.
-Được, được, nay tôi phải thưởng cho tụi nhỏ, cho “dừa non” của tôi chứ!
Chính khoảnh khắc đó, tôi mới hiểu, thời gian chưa từng thoả thuận với nỗi đau, chỉ còn tình người mới kết thúc được chiến tranh, mới xoa dịu được nỗi lòng đang thổn thức từng ngày của một người mẹ với những rấm rứt còn nhiều hơn cả biển cả.