Cái con giun đất ở góc vườn nhà ông giáo Phổ khổ sở nhất là cái tính hay mơ mộng.
Trần đời, người ta sinh ra vốn đã có phận vị. Con chép vượt vũ môn hóa Long ngư, vảy rồng sáng quắc, rẽ sóng mà bay lên chín tầng mây, oai phong lẫm liệt biết chừng nào. Con trăn lớn dầm mình dưới vực sâu ngàn năm, uốn khúc hóa Giao long, thét ra mây mưa, làm rung chuyển cả đất trời. Thậm chí đến con thuồng luồng, con ba ba dưới đầm lầy cũng còn có chút máu mủ rồng thiêng để mà mơ tưởng chuyện phất phơ mây gió.
Thế mà cái giống giun đất như nó, mình mẩy thì đỏ quạch, nhớp nhúa, trần trụi không một mảnh vải che thân, quanh năm chỉ biết rúc vào cái thứ bùn đất hôi hám, ăn phân mục rạ mà sống, vậy mà cũng đú đởn đòi học đòi cái thói hóa rồng.
Thiệt là cái sự đời nực cười!
Cái thằng cu Tí con nhà bên cứ hay ra góc vườn bới giun đi câu cá. Hôm nay nó lại cầm cái mai nhỏ, chọc phập một nhát xuống luống rau khoai lang. Con giun đất giật thót mình, oằn cái thân hình bé nhỏ dài ngoẵng quằn quại trốn chạy. Nó chui tụt xuống cái tầng đất sâu hơn, chỗ có rễ tre mục và hơi ẩm bốc lên ngây ngấy.
Nó buồn lắm chứ. Nó tủi cho cái phận giun dế của mình.
Tại sao? Tại sao con cá chép vảy đầy bùn mà lại được thiên hạ ca tụng chuyện vượt vũ môn? Tại sao con rắn rết độc ác kia lại được người ta lập đền thờ miếu mạo gọi là Long vương? Còn nó? Nó cũng có mắt, có mũi, có cái linh hồn bé tí tẹo đang cựa quậy trong lồng ngực đất đen này cơ mà. Vạn vật có linh trí, há chẳng lẽ loài giun đất chúng nó bị trời cao bỏ quên từ thủa hồng hoang hay sao?
– Mày mơ cái gì đấy, anh bạn nhỏ? – Một tiếng nói khàn khàn, chậm chạp vang lên từ dưới gốc cây ổi già.
Con giun đất ngẩng cái đầu cùnụt lên, thấy cụ Rết già đang cuộn tròn nằm nghỉ sau lớp vỏ cây mục. Con Rết già này sống ở cái vườn này mấy đời người rồi, râu ria trụi lủi, chân cẳng rụng gần hết, cái thân hình to bè xám xịt trông gớm ghiếc nhưng lại khôn ngoan lọc lõi hơn đời.
– Cụ ơi... – Con giun thút thít, dĩ nhiên là bằng cái thứ ngôn ngữ của loài vật dưới lòng đất – Con... con muốn hóa rồng.
Cụ Rết già khẽ nheo cái đôi mắt đục ngầu, rồi phát ra một thứ âm thanh nghe như tiếng cười nhạo cợt lách cách:
– Hóa rồng ư? Hừm, cái giống râm bụt mà đòi trổ bông sen! Cá chép hóa Long ngư vì nó bơi ngược dòng nước xiết, chịu đớn đau lột xác. Rắn hóa Giao long vì nó nuốt độc, chịu ngàn năm phong ba bão táp dưới đáy vực sâu. Còn mày? Mày chỉ là một khúc ruột thừa của đất, không xương không cốt, không vảy không sừng. Ai cho mày cơ hội mà đòi hóa với chả rồng? Thôi, câm cái mồm lại, lo mà rúc sâu xuống đất để tránh con gà, con vịt nó mổ xác đi con ạ. Đừng có trèo cao ngã đau, mà thực ra thì mày có bao giờ đứng nổi đâu mà ngã!
Cụ Rết nói xong thì bò trườn vào trong hốc cây, mặc cho con giun đất nằm ngây ra ở đấy, cái thân hình nhỏ nhoi run lên bần bật vì tủi hờn.
Đúng thế, ai cho nó cơ hội đâu?
Trời đất sinh ra loài giun vốn đã bị đóng khung trong cái kiếp sống hèn mọn này rồi. Chẳng có dòng thác dữ nào để nó bơi ngược. Chẳng có cái vũ môn nào mở cửa đón nó. Nó chỉ có thể bò lổm gmổm trong cái vũng bùn lầy lội của vườn nhà ông giáo Phổ, sống leo lắt qua ngày chờ đến lúc chết khô dưới cái nắng hạn hoặc bị con gà bới móc.
Nhưng mà... lòng nó vẫn cứ ấm ức. Cái đốm sáng linh trí le lói trong cái đầu óc bé tí tẹo ấy không chịu tắt. Nó không tin là trời xanh lại bất công đến thế. Nếu vạn vật có linh trí, nghĩa là ai cũng có một cái phần linh hồn thiêng liêng như nhau. Chỉ là chưa ai cho nó cơ hội thôi. Đúng, chưa ai thèm nhìn đến cái giống giun dế chúng nó bao giờ!
Chiều hôm ấy, trời bỗng trở giông.
Những đám mây đen kịt từ sau dãy núi Ba Vì ùn ùn kéo tới, che kín cả bầu trời tháng sáu. Gió thốc từng cơn lạnh buốt qua rặng chuối tiêu, rít lên qua những kẽ lá điều. Một thứ áp suất nặng nề đè nặng lên mặt đất, khiến người ta cảm thấy ngộp thở.
Ông giáo Phổ ở trong nhà đang ho sắng sặc, tiếng đài bán dẫn rè rè phát ra bản tin thời tiết cảnh báo mưa lũ.
Ngoài vườn, mưa bắt đầu trút xuống những hạt nặng trịch. Nước từ trên mái ngói dột ào ào xuống luống rau khoai. Chỉ trong chốc lát, cái góc vườn nhà ông giáo biến thành một cái ao bùn nhỏ, nước đỏ ngầu cuồn cuộn chảy tràn qua các lối đi.
Đó là một cơ hội. Hay là một tai ương?
Nước cuốn trôi đi lớp đất xốp phía trên, làm lộ ra cái thân hình mềm oặt của con giun đất. Nó bị dòng nước cuốn đi, lăn lóc qua mấy hòn sỏi sắc nhọn, đau đớn muốn đứt từng khúc ruột. Thế nhưng, thay vì cuộn tròn lại chờ chết như mọi lần, con giun bỗng nghiến răng – cái hành động mà loài giun chưa từng làm bao giờ – dồn hết tất cả sức lực còm cõi của nó để quẫy đạp.
Nó không trôi theo dòng nước xuống cái cống rãnh hôi hám ngoài ngõ. Nó ngóc cái đầu lên, hướng thẳng về phía ngọn nước đang xoáy tròn ở cái giếng khơi cũ kỹ bị bỏ hoang góc vườn.
Cái giếng khơi ấy sâu lắm, nước trong vắt và lạnh buốt, thông với mạch nước ngầm sâu thẳm của dòng sông cái ngoài làng. Từ xưa, người ta bảo dưới cái giếng ấy có mạch long mạch ngầm, nơi tụ khí thiêng của đất trời.
"Cá hóa Long ngư, rắn hóa Giao long... Ta không có vảy, không có sừng, nhưng ta có cái tâm của kẻ muốn vươn lên!"
Con giun đất hét lên trong vô thức, buông mình lao thẳng xuống cái miệng giếng đen ngòm, sâu hút hoắm.
õm!
Một tiếng động rất khẽ giữa màn mưa gió đùng đùng.
Dưới đáy giếng sâu, nước lạnh thấu xương buốt thịt. Không có ánh sáng mặt trời, chỉ có bóng tối đặc quánh và cái áp lực khủng khiếp của mạch nước ngầm đang dồn ứ. Con giun đất tưởng chừng như mình đã tan thành trăm mảnh. Cái thân thể mềm nhũn của nó rách bươm, máu tươm ra hòa lẫn vào dòng nước lạnh.
Nhưng kì lạ thay, trong cái khoảnh khắc cận kề cái chết ấy, một luồng sáng ấm áp từ dưới đáy lòng giếng bỗng bừng lên. Đó không phải là ánh sáng của trăng sao, mà là thứ ánh sáng nguyên thủy của đất mẹ, thứ linh khí đã nuôi dưỡng nó qua bao nhiêu mùa mưa nắng mà nó chưa từng nhận ra.
Linh trí của vạn vật không phân biệt sang hèn. Khi một sinh vật nhỏ nhoi nhất dám đem cái mạng sống hèn mọn của mình ra để thách thức với số phận, thì trời đất cũng phải động lòng.
Cái thân hình mềm oặt của con giun bắt đầu dài ra. Những đốt thịt nhăn nheo bỗng căng phồng lên, phủ một lớp vảy mỏng óng ánh sắc màu của bùn đất và kim khí. Cái đầu cùnụt mọc lên hai cái sừng nhỏ xíu bằng nhánh rễ tre. Đôi mắt nó mở lớn, không còn đục ngầu sợ hãi nữa, mà sáng quắc như hai đốm lửa ma trơi trong đêm tối.
Nó không còn là con giun đất rúc bờ rúc bụi nữa.
Từ dưới đáy giếng khơi, một tiếng u u trầm đợt vang lên, rung chuyển cả mặt đất.
Sáng hôm sau, trời tạnh hẳn.
Ông giáo Phổ chống gậy bước ra vườn xem xét mảng rau khoai bị mưa dập nát. Khi đi ngang qua cái miệng giếng khơi cũ kỹ vốn đã khô cạn từ lâu nay bỗng đầy ắp nước trong vắt, ông giật mình đánh rơi cả cái gậy xuống đất.
Mặt nước giếng phẳng lặng như gương.
Và ở ngay giữa lòng giếng, một sinh vật kỳ lạ đang uốn mình bơi lượn. Nó dài độ tầm thước, thân thon lẳn, mang một thứ màu sắc kỳ ảo giữa màu nâu trầm của đất mẹ và ánh vàng óng của phù sa sông ngòi. Trên đầu nó vươn lên hai nhánh sừng nhỏ dại, uy nghi.
Nó ngước đôi mắt sáng rực nhìn ông giáo Phổ một cái thật sâu, rồi vẫy đuôi tạo thành một vòng nước xoáy tròn.
Vèo một tiếng, sinh vật ấy phóng vút lên không trung, rẽ qua đám mây trắng mỏng manh vừa dạt đi sau cơn mưa, bay thẳng về phía dòng sông lớn phía chân trời, để lại sau lưng cái vườn rau ướt sũng và sự ngỡ ngàng đến lặng người của con người ở lại.