CƯNG CHIỀU CHỦ TIỆM BÁNH 2
Tác giả: Huyền Cẩn
BL;Cổ đại
Ngày thứ ba sau cuộc đối đầu ở ngõ Hàng Bột, trời trong veo như chiếc bát sứ mới lau, nắng xuân rải vàng trên mái ngói, gió thổi hương hoa xoan từ con phố bên kia lại thoang thoảng.
Cả ngõ dậy sớm hơn thường lệ. Không ai bảo ai, nhưng từ tờ mờ sáng, các nhà đã quét sân sạch bong, các bà các chị đã bày ghế nhỏ ra trước cửa, kẻ cắn hạt dưa, người nhấp trà, còn lũ trẻ con thì leo lên bờ tường, thò đầu ra ngóng như ngóng đám rước. Bà Ba Cải là người đến sớm nhất. Bà mang theo cả một rổ bánh tráng nướng, một bình trà gừng, và đặc biệt là một tấm chiếu cói được trải ngay giữa ngõ, vị trí đắc địa nhất, đối diện thẳng cửa tiệm Ngôn Ký.
"Bà Ba ơi," Tiểu Ngôn ló đầu ra từ cửa, tay còn cầm cái muôi, ngơ ngác nhìn khung cảnh. "Bà bày ra thế này là định làm gì? Hôm nay đâu phải hội?"
"Ngươi không hiểu đâu." Bà Ba Cải phe phẩy chiếc quạt nan, mặt mày hớn hở như người sắp đi xem tuồng. "Cả đời bà mới có một lần được xem con trai Thượng thư Hộ bộ quỳ giữa ngõ. Ngươi bảo đây không phải hội thì là cái gì?"
"Ông ta có thể không đến mà," Tiểu Ngôn e dè.
"Không đến á?" Bà Ba Cải trợn mắt. "Diêm Vương sống đã nói thì hắn dám không đến? Không đến thì nay mai cả nhà hắn ra chợ ngồi. Ngươi cứ chờ mà xem."
Đúng như bà nói, khi mặt trời vừa lên đến ngọn cây, từ đầu ngõ vang lên tiếng bánh xe ngựa lộc cộc. Cả ngõ im bặt.
Một cỗ xe hoa lệ dừng lại. Rèm xe vén lên, Triệu Hiển bước xuống. Hôm nay hắn không mặc áo lụa xanh ngọc, không cầm quạt ngọc, cũng không còn cặp mắt đào hoa long lanh như hôm nọ. Hắn mặc một bộ áo màu xám tro đơn giản, tóc buộc gọn bằng dải vải, khuôn mặt vẫn tuấn tú nhưng tái nhợt, quầng mắt thâm đen, như cả đêm không chợp mắt. Đằng sau hắn là một lão già gầy gò mặc áo nâu, tay run run cầm một xấp giấy tờ, tóc bạc trắng, mắt đỏ hoe, chính là lão Vương chủ tiệm lụa.
Triệu Hiển bước từng bước nặng nề vào giữa ngõ, dừng lại trước cửa tiệm Ngôn Ký. Hắn nhìn tấm biển gỗ trầm nạm chữ đỏ, nhìn hai người lính giáp bạc đứng gác, nhìn hàng trăm cặp mắt đang chăm chú dõi theo mình. Bàn tay hắn siết chặt đến nổi gân xanh.
"Nhà họ Triệu..." Hắn nghiến từng chữ, cổ họng như nghẹn lại. "Xin lỗi... lão Vương, xin lỗi Diệp công tử, xin lỗi... bà con trong ngõ. Hôm trước tại hạ có lỗi."
Cả ngõ im lặng.
"Quỳ," một giọng nói lạnh lẽo vang lên từ trên cao.
Mọi người ngẩng lên. Lăng Cảnh Uyên đang ngồi trên lưng con ngựa đen ở đầu ngõ, áo bào đen phủ bụi đường, hai tay khoanh trước ngực, ánh mắt nhìn xuống Triệu Hiển như nhìn một con kiến. Y đến từ bao giờ, không ai hay.
Triệu Hiển nhắm mắt, hít một hơi thật sâu, cơ mặt co giật. Cuối cùng, hai đầu gối hắn khuỵu xuống, đập mạnh lên nền đá xanh, phát ra tiếng "cộp" nặng nề. Cả ngõ Hàng Bột đồng loạt hít vào.
"Xin lỗi." Hắn nói, giọng khàn đặc. "Tại hạ... có lỗi."
Lão Vương run rẩy đưa xấp khế ước cho Tần Phong, khóc nấc lên, cúi đầu lạy Lăng Cảnh Uyên, lạy Tiểu Ngôn, lạy cả bà Ba Cải, khiến bà cuống quýt đỡ lão dậy, nước mắt cũng chảy theo.
Bột Bột ngồi trên bậu cửa, liếm chân, ánh mắt vàng ươm quét qua Triệu Hiển với vẻ mặt khinh khỉnh của một con mèo đã thắng cuộc.
Khi Triệu Hiển đứng dậy, chiếc áo xám phía đầu gối đã dính đầy bụi. Hắn không dám nhìn ai, chỉ lạnh lùng quay người, trước khi lên xe, hắn khẽ liếc về phía Tiểu Ngôn một cái. Ánh mắt ấy rất nhanh, rất nhẹ, không còn phong lưu cợt nhả, mà chứa một thứ âm u sâu thẳm khiến sống lưng cậu lạnh toát.
Rồi hắn biến mất.
Không ai để ý đến cái liếc mắt ấy, ngoại trừ một người. Lăng Cảnh Uyên, ngồi trên lưng ngựa, đôi mắt đen thu lại như lưỡi kiếm khép vỏ. Y khẽ nghiêng đầu, ra hiệu cho Tần Phong. Tần Phong gật đầu, lặng lẽ lùi vào bóng tối, mấy phút sau, hai bóng người áo đen từ mái nhà phóng đi như mũi tên.
Nhưng cái chuyện đó, Tiểu Ngôn hoàn toàn không biết.
---
Từ hôm ấy, cuộc sống của Diệp Thanh Ngôn đổi khác một cách kỳ lạ.
Mỗi sáng, khi trời còn chưa sáng hẳn, một cỗ xe ngựa sơn đen đã dừng ở đầu ngõ Hàng Bột. Tần Phong ngồi trên càng xe, mặt cứng như tượng gỗ, đứng chờ đến khi Tiểu Ngôn gánh thúng bánh ra, liền cung kính chắp tay: "Diệp công tử, mời lên xe."
Tiểu Ngôn từng cố từ chối đến ba ngày liền, nhưng đến ngày thứ tư, Tần Phong lặng lẽ nói một câu duy nhất: "Thế tử nói, nếu công tử không lên xe, ngài ấy sẽ đích thân đến gánh bánh cho công tử."
Tiểu Ngôn đứng ngẩn ra, tưởng tượng cảnh Thế tử Trấn Quốc Công, người cao tám thước, uy nghiêm như núi, đội cái nón lá, gánh hai thúng bánh đi qua chợ Đông. Cậu lập tức leo lên xe.
Xe ngựa lăn bánh đều đều qua những con đường lát đá, xuyên qua tiếng rao hàng và mùi khói bếp, đưa cậu đến phủ Trấn Quốc Công, nơi đã có một bàn điểm tâm đang chờ sẵn. Ở đó, người đầu tiên đón cậu luôn là Phúc bá. Ông đứng ở cổng, tay cầm cuốn sổ dày cộp, khom người: "Diệp công tử đến rồi. Hôm nay là ngày thứ chín. Thế tử đã ăn hết năm cái bánh."
"Ngày thứ chín, năm cái bánh?" Tiểu Ngôn tròn mắt. "Ngài ghi cả cái đó ạ?"
"Lão thái quân dặn, phải ghi." Phúc bá nghiêm mặt. "Ngày thứ nhất bốn cái. Ngày thứ hai bốn cái rưỡi. Ngày thứ ba năm cái. Ngày thứ tư, Thế tử ăn thêm một bát cháo. Ngày thứ năm, Thế tử cười một lần."
"Cười?"
"Vâng. Ngày thứ sáu cười hai lần. Ngày thứ bảy, ba lần. Hôm qua là lần thứ năm, khi công tử bảo Thế tử không nên đặt bánh lên đầu Bột Bột."
Tiểu Ngôn nghe xong, bất giác đỏ mặt, cái lúm đồng tiền hiện lên. Cậu gãi đầu: "Thế... thế ngài ấy vui vẻ hơn rồi ạ?"
Phúc bá nhìn cậu, đôi mắt già nua thoáng hiện lên vẻ xúc động hiếm thấy. "Diệp công tử, lão hầu hạ ba đời nhà Trấn Quốc Công, nhìn Thế tử từ lúc còn nằm nôi. Ba năm qua, lão tưởng rằng ngài ấy sẽ chẳng bao giờ còn biết cười nữa."
Ông ngừng lại, cúi đầu thật sâu: "Lão xin cảm tạ công tử."
Tiểu Ngôn hoảng hốt đỡ ông dậy, lắp bắp: "Không, không, ta có làm gì đâu, ta chỉ làm bánh thôi mà..."
"Chỉ làm bánh," Phúc bá lặp lại, khóe môi nhếch lên một nụ cười rất nhỏ, "cũng đủ rồi."
Bữa điểm tâm ở Noãn Các mỗi sáng dần trở thành một nghi thức. Lão thái quân ngồi ở chủ vị, mặc áo gấm màu ngọc bích, tay cầm chén trà, mắt sáng long lanh nhìn hai người trẻ như đang xem một vở tuồng hay. Lăng Cảnh Uyên ngồi bên cạnh, vẫn mặc áo bào lam hoặc đen, dáng vẻ nghiêm nghị lạnh lùng, nhưng mỗi khi Tiểu Ngôn bước vào, y tự động dịch ghế nhích ra một chút, để chỗ trống bên cạnh.
Chỗ đó, chiếc ghế phụ vị lót đệm nhung đỏ, đã trở thành chỗ ngồi cố định của Tiểu Ngôn.
Y luôn hỏi cùng một câu: "Ăn sáng chưa?"
Và Tiểu Ngôn luôn trả lời cùng một câu: "Ăn rồi ạ."
Và Lăng Cảnh Uyên luôn im lặng một chút, rồi gắp một cái bánh bao, một miếng trứng, hay một đũa rau xanh vào chén cậu, giọng bình thản: "Ăn thêm."
"Thế tử, ta ăn rồi mà..."
"Ăn thêm."
Rốt cuộc, cậu luôn phải ăn thêm. Và Lão thái quân luôn cười tủm tỉm, nhấp một ngụm trà, nói chậm rãi: "Ngoan lắm, cháu ngoan lắm. Nhà ta phải ăn nhiều mới có sức."
"Nhà... nhà ta?" Tiểu Ngôn ngơ ngác. "Bà nói 'nhà ta'..."
"Ờ, bà nói nhầm, bà già rồi mà." Lão thái quân giả vờ ho khan, mắt liếc sang Lăng Cảnh Uyên, và bắt gặp tai của cháu trai mình đã đỏ lựng.
---
Nhưng đó chưa phải điều lạ nhất.
Điều lạ nhất là chuyện Thế tử bắt đầu học làm bánh.
Chuyện bắt đầu vào một buổi chiều mưa nhẹ. Hôm đó, Tiểu Ngôn về tiệm sớm, đang ngồi nhóm lò cùng ông Tư Lửa thì bỗng nghe tiếng chân người bước vào, ướt sũng vì mưa. Cậu ngẩng lên, thấy Lăng Cảnh Uyên đứng ở ngưỡng cửa, áo bào đen thấm nước, tóc dính vài giọt mưa, tay cầm một chiếc ô giấy dầu.
"Thế tử? Sao ngài lại tới đây?"
"Hôm nay ta rảnh." Lăng Cảnh Uyên cụp ô xuống, bước vào bếp, nhìn quanh một lượt gian bếp nhỏ chật hẹp, rồi nhìn thớt bột trắng. "Ngươi làm bánh thế nào?"
"Hả?"
"Ta muốn học."
Tiểu Ngôn nhìn người đàn ông cao lớn đứng giữa gian bếp thấp lè tè, đầu suýt chạm xà nhà, nhất thời không biết nên cười hay nên khóc.
"Thế tử... ngài định học làm bánh làm gì?"
Lăng Cảnh Uyên im lặng một chút, ánh mắt né tránh nhìn sang chỗ khác: "Để sau này khi ngươi bận, ta có thể tự làm."
Tiểu Ngôn ngớ ra. Không hiểu sao, tim cậu lại nhói lên một nhịp nhỏ, vừa nhột vừa ấm. Cậu vội cúi đầu, xắn tay áo: "Vậy... vậy thì lại đây, ta dạy ngài."
Kết quả của buổi học ấy khiến ông Tư Lửa phải quay mặt vào tường để giấu tiếng cười.
Lăng Cảnh Uyên đứng trước thớt bột, tay đã vung được cả thanh đao mười cân, vậy mà cầm khối bột mềm lại vụng về đến khó tin. Bột dính đầy hai bàn tay, dính lên cả ống tay áo, dính cả lên cằm, thậm chí dính lên vết sẹo dưới cằm y một vệt trắng. Y nhào một hồi, bột vón thành cục, y ấn mạnh hơn, bột dẹt bẹp, y nhấc lên, bột dính vào tay không chịu rời.
"Nhẹ tay thôi," Tiểu Ngôn nói, dở khóc dở cười. "Nhẹ thôi, ngài đâu có đang đánh trận! Bột phải nhào bằng lòng bàn tay, như thế này..."
Cậu vô thức đưa tay ra, bọc lấy bàn tay to lớn của Lăng Cảnh Uyên, hướng dẫn y ấn xuống, đẩy tới, gập lại. Bàn tay cậu nhỏ hơn hẳn, trắng trẻo, ấm áp, ôm trọn những ngón tay dài thô ráp đầy vết chai của người cầm kiếm.
Cả hai cùng khựng lại.
Trong gian bếp nhỏ, ngọn lửa lò than kêu lách tách, mưa ngoài hiên rơi tí tách. Không ai nói gì. Tiểu Ngôn ngẩng đầu lên, bắt gặp đôi mắt đen sâu thẳm đang nhìn xuống mình, gần đến mức cậu thấy rõ từng sợi lông mi, thấy rõ cả bóng mình phản chiếu trong đồng tử ấy. Hơi thở của y phả nhẹ lên trán cậu, ấm nóng, mang theo mùi hương trầm nhàn nhạt.
Tim Tiểu Ngôn đập thình thịch như trống trận.
"Ngươi..." Lăng Cảnh Uyên khẽ mở miệng, giọng khàn hơn bình thường.
"D... dạ?"
"Tay ngươi... nóng."
"Là... là do lò than!" Tiểu Ngôn giật tay lại, mặt đỏ như gấc, hai tay cuống cuồng xoa xoa tạp dề. "Lò than nóng! Nóng quá! Ta... ta đi lấy nước!"
Cậu chạy biến ra sân sau, không màng mưa ướt, đứng dưới mái hiên thở hổn hển, tay ôm ngực. Bột Bột đang ngồi trên bờ tường ngước mắt nhìn cậu, đôi mắt vàng ươm nheo lại đầy ẩn ý.
"Nhìn cái gì mà nhìn," Tiểu Ngôn lầm bầm, hai má nóng bừng. "Ta... ta chỉ dạy làm bánh thôi mà."
"Meo."
"Ngươi im đi."
Ở trong bếp, Lăng Cảnh Uyên đứng lặng, nhìn bàn tay mình vẫn còn dính bột, vẫn còn lưu lại hơi ấm. Rồi y khẽ nắm bàn tay lại, như sợ hơi ấm ấy sẽ bay mất. Ông Tư Lửa liếc nhìn y, chậm rãi giơ ngón cái lên. Lăng Cảnh Uyên không hiểu ông ấy khen gì, chỉ hơi gật đầu đáp lễ, khiến ông Tư Lửa cười khà khà rồi vội cúi xuống đảo than.
Buổi học hôm đó, chiếc bánh đầu tiên của Thế tử Trấn Quốc Công được đem ra hấp. Nó méo xẹo, nứt toác, nhân đậu xanh trào cả ra ngoài, trông như một khối đá lởm chởm. Nhưng khi Tiểu Ngôn cắn thử một miếng, vừa nhai vừa mặt mày nhăn nhó vì vị mặn chát (Lăng Cảnh Uyên đã nhầm muối với đường), thì y lại đứng đó, chăm chú nhìn cậu, tim đập hơi nhanh một cách khó hiểu.
"Ngon không?"
"Ngon..." Tiểu Ngôn nuốt xuống, gượng cười, để lộ cái lúm đồng tiền. "Ngon lắm. Lần sau... lần sau chúng ta nêm ít muối hơn nhé."
Lăng Cảnh Uyên nhìn cái lúm đồng tiền ấy, một nụ cười thoáng qua trên gương mặt lạnh lùng, nhẹ như gió xuân, nhưng lần này, Tiểu Ngôn nhìn thấy rõ.
Cậu chợt nhận ra, mình đã bắt đầu đếm xem hôm nay y cười mấy lần.
---
Rồi cái ngày ấy cũng đến. Ngày hội hoa đăng.
Hội hoa đăng xuân của kinh thành Thăng Kinh là hội lớn nhất trong năm, diễn ra vào đêm rằm tháng hai, khi hoa đào nở rộ khắp nơi. Đêm ấy, cả thành phố như bừng sáng, mọi ngóc ngách đều treo đèn lồng giấy đủ màu, hồng, vàng, đỏ, lam, tím, xanh lục, từng dãy từng dãy, nối nhau kéo dài tới tận chân trời. Trên sông Thanh Thủy, hàng nghìn chiếc đèn hoa sen bằng giấy nhỏ xíu, mỗi chiếc thắp một ngọn nến, trôi lững lờ theo dòng nước, tạo thành một dải ngân hà lấp lánh giữa mặt đất. Người ta đổ ra đường đông như kiến, tiếng cười nói, tiếng rao hàng, tiếng trống múa lân, tiếng pháo nổ đì đùng hòa vào nhau thành một bản nhạc hân hoan.
Tiểu Ngôn từng đi hội mỗi năm, nhưng chưa bao giờ đi như thế này.
"Ta... ta thật sự phải đi cùng ngài sao?" Cậu ngập ngừng đứng trước cổng tiệm Ngôn Ký, chỉnh lại chiếc áo dài màu xanh ngọc mà bà Ba Cải ép cậu mặc (đó là một trong sáu bộ áo mới của Lão thái quân gửi tới). Trên áo còn thêu hoa văn mây trắng tinh xảo, khiến cậu trông như một chú công tử nhỏ con nhà quyền quý.
Lăng Cảnh Uyên đứng trước mặt cậu, hôm nay không mặc áo bào đen. Y mặc trường bào màu trắng ngà thêu chỉ bạc, tóc buộc gọn bằng dải lụa xanh, không mang kiếm, không mang giáp, chỉ đơn giản như một công tử thư sinh đi dạo hội. Nhưng dù thế nào đi nữa, khí chất của y vẫn khiến người qua đường phải ngoái nhìn, có cô gái còn đỏ mặt, đánh rơi cả khăn.
"Ừ." Y đáp gọn. "Ta chưa từng đi hội hoa đăng."
"Hả? Chưa từng? Ngài ba mươi tuổi rồi mà..."
"Hai mươi bảy."
"Hai mươi bảy mà chưa từng đi hội hoa đăng?"
"Mười lăm tuổi đã ra trận," Lăng Cảnh Uyên nói nhẹ tênh. "Mười hai năm, mỗi năm đến rằm tháng hai đều ở nơi biên ải."
Tiểu Ngôn chợt cảm thấy cổ họng nghẹn lại. Cậu không nói gì, chỉ bước tới, nắm lấy tay áo y, kéo nhẹ: "Vậy thì hôm nay ta dẫn ngài đi. Ta thông thuộc đường, chỗ nào có món ngon, chỗ nào có trò hay, ta đều biết hết. Ngài đi theo ta là chắc chắn không lạc!"
Lăng Cảnh Uyên cúi xuống nhìn bàn tay nhỏ nhắn đang nắm lấy tay áo mình, và mỉm cười.
Đêm ấy, hai người đi bên nhau suốt từ đầu phố đến cuối phố. Tiểu Ngôn dẫn y ăn kẹo hồ lô ở góc chợ Đông, quả sơn tra đỏ mọng phủ lớp đường trong veo, chua chua ngọt ngọt. Y cắn một quả, mặt hơi nhăn lại vì chua, rồi cắn thêm quả thứ hai, quả thứ ba. Tiểu Ngôn nhìn y ăn mà cười khúc khích: "Ngài thích lắm hả?"
"Chua." Y đáp. "Nhưng ngon."
Cậu dẫn y xem múa lân ở đầu phố Chu Tước, con lân rực rỡ nhảy nhót giữa tiếng trống thình thịch, một cậu bé nhảy lên đầu lân, đám đông vỗ tay reo hò. Lăng Cảnh Uyên đứng giữa đám đông, cao hơn tất cả mọi người một cái đầu, đôi mắt vốn lạnh như băng giờ phản chiếu ánh đèn màu nhấp nháy, sáng như trẻ con.
Cậu dẫn y đến sạp bán mặt nạ, chọn cho y một chiếc mặt nạ hồ ly trắng, rồi chọn cho mình một chiếc mặt nạ mèo mướp. Hai người đeo mặt nạ vào, nhìn nhau, rồi cùng bật cười. Đó là lần đầu tiên Tiểu Ngôn nghe được tiếng cười thành tiếng của Lăng Cảnh Uyên. Trầm, khàn, ấm áp, như tiếng rung của cây đàn cổ.
"Ngài cười thành tiếng rồi kìa!" Cậu reo lên. "Ta phải nói cho Phúc bá ghi vào sổ!"
"Đừng." Lăng Cảnh Uyên vội nói, nhưng khóe mắt vẫn còn cong.
Cuối cùng, họ đến bờ sông Thanh Thủy, nơi hàng trăm người đang xếp hàng mua đèn hoa sen để thả xuống nước. Tiểu Ngôn mua hai chiếc, đưa một chiếc cho Lăng Cảnh Uyên. Y cầm chiếc đèn trên tay, ngơ ngác nhìn.
"Cái này làm gì?"
"Thả xuống sông, rồi ước nguyện." Tiểu Ngôn ngồi xổm bên bờ, đặt chiếc đèn nhẹ nhàng xuống mặt nước, ngọn nến nhỏ chập chờn cháy. Cậu chắp hai tay lại, nhắm mắt, lẩm bẩm điều gì đó, thật lâu, rồi đẩy chiếc đèn ra xa.
Ánh nến nhỏ trôi lững lờ giữa muôn vàn ánh nến khác, chập chờn rồi hòa vào dải ngân hà lấp lánh.
"Ngươi ước gì?" Lăng Cảnh Uyên hỏi, giọng khẽ.
"Nói ra thì mất linh đó!" Tiểu Ngôn cười, nhưng vẫn nghiêng đầu ngẫm nghĩ, rồi thì thầm: "Nhưng mà... ta ước cho tiệm Ngôn Ký của mẹ ta mãi mãi bình an. Và... và có thêm một điều nữa."
"Điều gì?"
"Không nói!"
Lăng Cảnh Uyên nhìn khuôn mặt tròn trịa, hai má đỏ ửng dưới ánh đèn, bỗng dưng cảm thấy một khoảng lặng kỳ lạ trong lồng ngực. Y ngồi xổm xuống bên cạnh, học theo Tiểu Ngôn, thả chiếc đèn xuống nước. Ngón tay dài của y chạm vào mặt nước lạnh, đẩy nhẹ.
Chiếc đèn của y trôi đi, chậm rãi, kiên định, hướng về phía đèn của Tiểu Ngôn.
Y nhắm mắt lại. Trong bóng tối sau mi mắt, chỉ có một hình ảnh: một khuôn mặt tròn, một cái lúm đồng tiền, một đôi mắt to sáng như sao. Y không cần nói ra điều ước. Bởi vì y biết rõ, người đang ngồi cạnh y đây đã là toàn bộ điều ước của y.
"Ngươi ước xong rồi?" Tiểu Ngôn chớp mắt.
"Xong."
"Ước gì thế?"
"Nói ra thì mất linh."
Tiểu Ngôn bật cười, đá nhẹ vào chân y, rồi đứng dậy phủi tay. Nhưng ngay lúc ấy, một tràng pháo hoa lớn bỗng nổ vang trên trời, ánh sáng chói lòa xé toạc màn đêm, muôn vạn sắc màu đỏ, vàng, xanh, tím bung tỏa như hoa nở giữa không trung. Đám đông đồng loạt reo lên, xô đẩy nhau tiến về phía trước để nhìn cho rõ. Dòng người như thủy triều ập tới, đẩy Tiểu Ngôn lảo đảo, cậu lạc mất khoảng cách với Lăng Cảnh Uyên.
"Thế tử! Thế tử ơi!" Cậu hét lên giữa tiếng pháo ầm ầm, tay quơ quào trong đám đông.
Rồi có một bàn tay to lớn, nóng hổi, nắm lấy tay cậu, siết chặt.
Tiểu Ngôn ngẩng đầu, và thấy Lăng Cảnh Uyên đã đứng ngay cạnh mình, gương mặt hơi tái vì lo lắng, hơi thở dồn dập, mồ hôi rịn trên trán. Y vừa lách qua đám người, vừa chen lấn, chỉ trong chớp mắt đã tìm được cậu.
"Ta đây." Y nói, giọng khàn. "Đừng buông tay."
"Ta... ta không buông!"
Cả hai đứng đó giữa biển người, giữa muôn vàn ánh đèn, bàn tay đan chặt vào nhau. Pháo hoa nổ tung trên đầu, phản chiếu trên mặt sông thành một vũ trụ lộng lẫy. Tiểu Ngôn nhìn lên bầu trời, rồi nhìn sang người đang nắm tay mình, thấy ánh pháo hoa hắt lên gương mặt nghiêng của y, lên cái vết sẹo dưới cằm, lên hàng mi dài rũ xuống.
Cậu bỗng thấy tim mình đập rất nhanh, rất rõ ràng, rất không thể chối cãi.
Hóa ra, cảm giác này không phải do lò than nóng. Cũng không phải do đêm hội quá ồn ào. Và càng không phải do kẹo hồ lô quá chua.
Hóa ra, cậu đã thích người này rồi.
Cậu cúi đầu thật thấp, giấu đi nụ cười đang nở trên môi, giấu đi cả đôi tai đang đỏ như quả hồng chín, nhưng bàn tay thì siết chặt hơn một chút. Và Lăng Cảnh Uyên, người từng nghe tiếng gươm đao rợp trời mà không chớp mắt, lúc này lại cảm thấy tim mình đập loạn hơn bất cứ trận chiến nào.
Cả hai cứ thế nắm tay nhau, không ai nói gì, cho đến khi pháo hoa tắt hẳn.
---
Nhưng ở một góc tối cách đó không xa, dưới bóng cây liễu rủ bên bờ sông, hai gã đàn ông mặc áo đen, mặt che khăn kín, đang nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay đan vào nhau ấy.
Một gã thì thầm: "Chính là hắn. Thằng nhóc bán bánh."
"Đã theo dõi ba ngày rồi. Lúc nào cũng có Thế tử đi cùng. Chỉ có tối nay là sơ hở." Gã kia đáp khẽ, mắt lóe lên tia lạnh. "Báo với công tử, đêm nay chưa thể ra tay. Nhưng chỉ cần chờ đúng thời cơ..."
"Chờ khi nào?"
"Khi Diêm Vương sống rời kinh thành."
Hai bóng đen lặng lẽ lùi vào bóng tối, tan biến như khói. Trên mặt sông Thanh Thủy, hàng nghìn ngọn nến vẫn trôi lững lờ, lung linh, đẹp đẽ và vô tư, chẳng hề hay biết bóng đen đã kéo tới.
Sáng hôm sau đêm hội hoa đăng, kinh thành vẫn còn vương mùi pháo và mùi giấy đèn cháy dở. Trên các con phố, những dải đèn lồng đã tắt ngấm, xác pháo đỏ rải khắp mặt đường như hoa đào rụng, lũ trẻ con đi nhặt pháo lép, người quét đường lom khom gom từng đống giấy màu.
Ở ngõ Hàng Bột, Tiểu Ngôn dậy sớm hơn thường lệ. Không phải vì bột cần nhào, không phải vì lò cần nhóm, mà vì suốt cả đêm cậu không tài nào chợp mắt nổi. Mỗi lần nhắm mắt lại, cậu lại thấy một bàn tay to lớn nóng hổi đang nắm chặt tay mình, thấy pháo hoa nổ trên đầu, thấy đôi mắt đen sâu thẳm phản chiếu muôn vàn ánh sáng. Cậu lăn qua lăn lại trên giường tre đến mức Bột Bột phải nhảy xuống đất, nằm ở góc phòng, ném cho cậu một cái nhìn đầy trách móc.
"Ngươi đừng nhìn ta như thế," Tiểu Ngôn úp mặt vào gối, giọng nghèn nghẹn. "Ta... ta chỉ là... chỉ là vui thôi mà."
"Meo."
"Thật đó! Chỉ vui thôi!"
"Meo."
Cậu rên lên một tiếng rồi lấy chăn trùm kín đầu.
Khi xe ngựa của phủ Trấn Quốc Công đến đầu ngõ, cậu đã ngồi sẵn trước cửa từ lâu, hai má hây hây như vừa uống rượu, tay ôm thúng bánh còn ấm. Tần Phong ngồi trên càng xe, nhìn cậu, rồi nhìn ánh mắt long lanh khó giấu của cậu, khóe môi khẽ giật, nhưng anh ta khéo léo không nói gì, chỉ chắp tay: "Diệp công tử, mời."
Khi tới phủ, không khí ở Noãn Các có phần khác lạ. Lão thái quân đã ngồi ở chủ vị từ lúc nào, sắc mặt hơi nghiêm, tay đặt trên đầu cây trượng rồng. Phúc bá đứng bên cạnh, không mở cuốn sổ như thường lệ. Còn Lăng Cảnh Uyên, y đứng bên cửa sổ, quay lưng lại, bóng lưng cao lớn phủ dưới ánh sáng ban mai, trên người mặc bộ giáp nhẹ màu bạc.
Tiểu Ngôn khựng lại ở ngưỡng cửa. Từ hôm quen y đến giờ, cậu chưa từng thấy y mặc giáp.
"Thế tử?" Cậu lên tiếng, hơi ngập ngừng. "Ngài... ngài định đi đâu vậy?"
Lăng Cảnh Uyên quay người lại. Ánh mắt y dừng trên mặt cậu, thoáng dịu đi, nhưng vẫn giữ nét lạnh lùng của người sắp lên đường. "Sáng nay bệ hạ triệu ta vào cung. Quân doanh Bắc Sơn cách kinh thành một trăm dặm, có tin bọn man tộc quấy nhiễu biên giới, cần ta đến duyệt binh, thị sát phòng tuyến."
"Bao... bao lâu?"
"Hai ngày đi, hai ngày về."
Bốn ngày. Tiểu Ngôn nghe xong, ngực bỗng dưng trống trải một cách kỳ lạ, như thể vừa bị ai lấy mất một miếng bánh nóng. Nhưng cậu vội vàng gượng cười, để lộ cái lúm đồng tiền: "Chỉ bốn ngày thôi mà, nhanh lắm! Ngài cứ yên tâm đi. Việc nước quan trọng."
Lăng Cảnh Uyên nhìn nụ cười cố gắng ấy, im lặng một lúc lâu. Rồi y bước đến gần, từ trong ngực áo rút ra một miếng ngọc bội hình hổ nhỏ, chất ngọc xanh thẫm như nước hồ thu, mặt sau khắc hai chữ "Trấn Quốc" bằng vàng.
"Cầm lấy."
"Cái này là..."
"Ngọc bội của nhà họ Lăng." Y nắm tay cậu, đặt miếng ngọc vào lòng bàn tay, khép từng ngón tay cậu lại, chậm rãi, cẩn thận. "Ai nhìn thấy nó, giống như nhìn thấy ta. Trong kinh thành này, không ai dám động đến người cầm nó."
Tiểu Ngôn nhìn miếng ngọc, rồi nhìn y, giọng lí nhí: "Quý giá như thế... ta không dám nhận..."
"Nhận."
"Nhưng..."
"Ngươi phải nhận." Giọng y trầm xuống, gần như thì thầm. "Ta mới yên tâm."
Cậu không dám cãi nữa, hai tay nâng niu cất ngọc bội vào trong áo, sát ngực, nơi tim đang đập thình thịch.
Lăng Cảnh Uyên quay sang Tần Phong: "Ở lại. Ngươi và ba ám vệ chịu trách nhiệm bảo vệ ngõ Hàng Bột. Nếu công tử có mảy may xây xát, ngươi biết hậu quả."
"Thuộc hạ tuân lệnh!" Tần Phong quỳ một gối, giọng sắt đá.
Y lại quay sang Tiểu Ngôn, dặn dò như một đứa trẻ sắp đi xa: "Không được ra khỏi ngõ một mình. Không được ăn đồ người lạ đưa. Ăn cơm đúng bữa, ngủ đúng giờ, đừng thức khuya nhào bột."
"Ngài dặn như thể ta là con nít vậy!" Tiểu Ngôn bật cười, vừa cảm động vừa buồn cười.
"Ta không yên tâm."
Ba chữ, trầm và thật, khiến nụ cười của Tiểu Ngôn nhạt dần. Cậu cúi xuống, lấy từ trong thúng ra một gói lá chuối, dâng lên bằng cả hai tay: "Đây là bánh bông lan hấp mật ong. Ngài mang theo ăn trên đường. Nếu... nếu nhớ vị nhà thì ăn một cái."
Lăng Cảnh Uyên nhận lấy gói bánh, ấn nhẹ vào ngực, như nhận báu vật.
"Bốn ngày," y nói. "Đợi ta."
Lão thái quân ngồi ở chủ vị, giả vờ nhấp trà, mắt liếc sang Phúc bá, khóe miệng khẽ cong lên: "Ừm, cái cảnh chia tay này, còn cảm động hơn cả tuồng cải lương ngoài chợ."
"Tổ mẫu," Lăng Cảnh Uyên lạnh giọng.
"Ta nói đúng mà."
Trước khi rời phủ, y còn ngoái đầu lại nhìn một lần. Tiểu Ngôn đứng ở cổng, hai tay ôm thúng rỗng, vẫy tay thật mạnh, nụ cười rực rỡ như nắng sớm. Lăng Cảnh Uyên siết chặt dây cương, đôi mắt lóe lên một tia bất an khó gọi tên. Nhưng tiếng kèn hiệu đã vang lên, quân kỳ bay phần phật, y ghì cương, phi ngựa về phía cổng thành.
Giá như y nhìn thấy, ngay góc phố đối diện, có một bóng người đội nón lá đang lặng lẽ dõi theo, rồi biến mất trong đám đông.
---
Ngày thứ hai sau khi Lăng Cảnh Uyên rời đi, ngõ Hàng Bột vẫn yên ả như thường.
Sáng sớm Tiểu Ngôn nhào bột, trưa bán bánh, chiều đãi Bột Bột món cá khô thượng hạng mà Lão thái quân gửi tới. Bà Ba Cải thì ngày nào cũng sang, ngồi vắt chân chữ ngũ trong bếp, kể chuyện thiên hạ, còn ông Tư Lửa vẫn lặng lẽ nhóm lò, thỉnh thoảng lại nhìn ra phía cổng như có điều lo lắng. Tần Phong ngồi ở bậu cửa, tay đặt lên chuôi kiếm, ánh mắt cảnh giác nhìn từng người qua lại. Ba ám vệ trốn trên mái nhà đối diện, lâu lâu lại có một chiếc lá rơi xuống động đậy.
Đến chiều, đúng lúc trời bắt đầu nổi gió, một người đàn ông mặc quân phục màu xám tro, mặt mũi lấm lem bụi đất, phi ngựa như bay vào đầu ngõ, ngã lăn xuống trước cửa tiệm.
"Diệp công tử! Diệp công tử ở đâu?!" Gã kêu lên thảm thiết, hơi thở đứt quãng, trong tay cầm một mảnh vải trắng dính đầy máu. "Xin cứu... cứu Thế tử!"
Tim Tiểu Ngôn như ngừng đập. Cậu lao ra khỏi bếp, tay còn dính bột: "Ngươi nói cái gì? Thế tử làm sao?"
"Thế tử... ngài ấy bị phục kích ở đèo Hắc Thạch, ngã ngựa, bị thương rất nặng!" Gã lính kia khóc tu tu, quỳ rạp xuống đất. "Ngài ấy máu chảy không ngừng, mê man mà cứ gọi tên công tử... Ngài ấy nói... nói nếu không gặp được Diệp công tử, thì chết cũng không nhắm mắt!"
"Không thể nào..." Tiểu Ngôn lùi lại một bước, sắc mặt trắng bệch. Mảnh vải trong tay gã lính, cậu nhận ra ngay, đó là một mảnh của bộ giáp nhẹ màu bạc mà y mặc sáng hôm ấy, thêu hoa văn mây cuộn. Tay cậu run lẩy bẩy.
"Diệp công tử," Tần Phong bước tới, ánh mắt sắc lạnh, "người này là ai? Ta chưa từng thấy..."
"Ta là lính hầu cận của Thế tử!" Gã lính gào lên. "Thiếu tướng quân Tần Phong, xin ngài cho ngựa nhanh, cho xe ngựa, càng sớm càng tốt! Chậm thêm nửa canh giờ thì không kịp nữa!"
Tần Phong nhíu mày, đang định hỏi tiếp thì gã lính kia lảo đảo đứng dậy, từ tay áo lôi ra một bình nước nhỏ, đưa lên: "Thiếu tướng quân, xin uống ngụm nước cho tỉnh táo, ngài đã đứng canh cả ngày..."
Có gì đó không đúng, nhưng chưa kịp suy nghĩ, một mùi hương ngọt nhẹ đã xộc vào mũi Tần Phong. Anh ta vội đưa tay bịt mũi, định rút kiếm thì đầu óc bỗng choáng váng, hai chân mềm nhũn. Anh ta chỉ kịp gầm lên một tiếng khàn đục: "Diệp công tử... đừng đi..."
Rồi anh ta đổ sụp xuống đất, bất tỉnh.
"Tần đại ca!" Tiểu Ngôn thét lên.
Nhưng gã lính kia đã nhanh như chớp, chộp lấy cổ tay cậu: "Không kịp nữa rồi công tử! Xe ngựa đã chờ ở đầu ngõ! Đi mau!"
Trong khoảnh khắc ấy, đầu óc Tiểu Ngôn hoàn toàn trống rỗng. Hình ảnh bàn tay to lớn đặt ngọc bội vào tay cậu, giọng nói trầm khàn dặn "Đợi ta" cứ vang mãi trong tai. Cậu không nghĩ được gì nữa. Cậu vớ lấy thúng bánh nằm cạnh cửa, để bánh lại cho có cớ, rồi chạy theo gã lính lên cỗ xe ngựa đang đợi sẵn.
Ba ám vệ trên mái nhà lao xuống như chim ưng, nhưng cỗ xe đã lăn bánh, còn từ trong ngõ, mười gã áo xám khác nhảy ra chặn đường, gậy gộc vung loạn, đâm chém dữ dội. Tiếng đao kiếm loảng xoảng vang lên, xe ngựa mỗi lúc một xa.
Bà Ba Cải, đang ôm mớ rau muống chạy ra từ cửa sau, chứng kiến toàn bộ cảnh ấy. Bà đứng chết trân vài giây, rồi bỗng nhiên hét lên một tiếng xé họng, ném mớ rau xuống đất, xách váy chạy về phía đầu ngõ nhanh hơn bất kỳ lúc nào trong đời:
"Ối làng nước ơi! Bắt cóc! Bắt cóc rồi! Tiểu Ngôn bị bắt cóc rồi!"
---
Trong lúc đó, Tiểu Ngôn ngồi trong xe ngựa, hai tay siết chặt ngọc bội trước ngực, môi mím chặt đến trắng bệch. Cậu nhìn ra ngoài khe rèm, thấy phố phường vụt qua, thấy tường thành xám xịt, thấy cổng thành phía Tây mở ra rồi khép lại phía sau. Cậu bắt đầu nhận ra điều không ổn.
"Ngươi..." Cậu quay sang gã lính, giọng run run. "Đường ra Bắc Sơn là hướng Bắc. Sao xe lại đi về hướng Tây?"
Gã lính đối diện cười khẩy. Cái vẻ hoảng hốt lấm lem ban nãy đã biến mất, thay vào đó là nụ cười lạnh lẽo của kẻ thắng cuộc.
"Diệp công tử thông minh thật, chỉ tiếc là hơi muộn."
Tiểu Ngôn sững người. Một cảm giác lạnh buốt từ lòng bàn chân dâng lên tận đỉnh đầu. Cậu cố lao ra cửa xe, nhưng tay gã đã đè cậu lại, một chiếc khăn ẩm ướt bịt lên miệng mũi.
"Ngoan nào," gã thì thầm. "Ngủ một giấc, đến nơi sẽ có người tiếp đãi công tử."
Trước khi ý thức tan biến, điều cuối cùng Tiểu Ngôn nhìn thấy là một cục lông mướp nhỏ xíu nhảy phốc lên khỏi thúng bánh, lăn ra sàn xe, rồi lặng lẽ chui tọt vào gầm ghế.
---
Tiểu Ngôn tỉnh lại trong một căn phòng lạ.
Đầu cậu nặng như đeo đá, cổ khô rát, tay chân bủn rủn. Cậu chớp mắt nhiều lần mới nhìn rõ được xung quanh: một gian phòng rộng lớn, tường sơn đỏ thẫm, rèm châu buông rủ, trần nhà vẽ tranh mỹ nhân, lư hương tỏa khói nồng nặc mùi trầm ngọt như mật. Cậu đang nằm trên một chiếc giường lớn phủ nhung, chăn gấm thêu uyên ương.
"A, tỉnh rồi à?"
Giọng nói quen thuộc, lười biếng và đầy ý cợt nhả, vang lên bên cạnh. Tiểu Ngôn giật mình ngồi bật dậy, lùi sát vào đầu giường.
Triệu Hiển ngồi trên chiếc ghế quý phi cách đó vài bước, chân vắt chéo, tay cầm chén rượu. Hắn mặc áo lụa tím mỏng, cổ áo hở rộng, mái tóc dài xõa lộn xộn, vẻ phong lưu quen thuộc đã quay trở lại, nhưng đôi mắt đào hoa lúc này lấp lánh một thứ ánh sáng đáng ghét. Hai bên hắn là hai nàng ca nữ xiêm y mỏng manh đang rót rượu, thấy Tiểu Ngôn tỉnh dậy thì che miệng cười khúc khích.
"Ngươi!" Tiểu Ngôn nghiến răng, giọng run nhưng vẫn cố cứng rắn. "Ngươi lừa ta! Ngươi bắt cóc ta! Thế tử mà biết thì..."
"Thế tử?" Triệu Hiển bật cười, đứng dậy, chậm rãi bước lại gần, từng bước từng bước như một con mèo lớn đang đùa với con chuột. "Thế tử của cậu đang ở tận Bắc Sơn, cách đây một trăm dặm, ba ngày nữa mới về. Ta đã tính toán kỹ lắm rồi."
Hắn ngồi xuống mép giường, nghiêng người, đưa tay vén một lọn tóc rối trên trán cậu, giọng thì thầm ngọt ngào:
"Ta nhớ hôm trước, cậu ném bánh vào tay ta. Đau lắm đấy. Nhưng ta không giận. Ta thích những người có tính khí." Ngón tay hắn lướt xuống, trượt qua má cậu, dừng lại nơi cằm, nâng lên. "Vừa tròn trịa, vừa mềm mại, vừa trắng trẻo, đúng là món ta thích. Cậu nói xem, nếu Diêm Vương sống của Trấn Quốc phủ biết được, người mà hắn cất giấu trong lòng đang ở trong tay ta, thì hắn sẽ có biểu cảm gì nhỉ?"
Tiểu Ngôn giật mạnh đầu ra, tát vào tay hắn một cái bốp. "Đừng chạm vào ta!"
Hai nàng ca nữ hít vào một hơi. Triệu Hiển nhìn bàn tay bị đánh đỏ lên, thoáng ngơ ngác, rồi bật cười thành tiếng, cười đến run vai.
"Hay, hay lắm! Cậu đúng là thú vị hơn cả trăm cô gái ở Túy Hoa Lâu cộng lại." Hắn liếm nhẹ môi, ánh mắt sâu thẳm. "Yên tâm. Ta đâu vội. Kế hoạch của ta là như thế này: viết một bức thư gửi cho Diêm Vương sống, bảo hắn hủy toàn bộ hồ sơ vụ án nhà họ Triệu, còn phải quỳ ở cổng thành cả ngày, xin lỗi công khai trước mặt bá quan văn võ. Đổi lại, ta trả cậu về nguyên vẹn." Hắn nghiêng đầu, cười đầy hàm ý. "Còn trong những ngày này, cậu ở đây làm khách của ta. Ta sẽ tiếp đãi thật chu đáo."
Hai chữ "chu đáo" hắn nhả ra chậm rãi, như thể mỗi âm tiết đều mang theo một ý tứ không đứng đắn. Hai nàng ca nữ lại khúc khích cười.
Tiểu Ngôn nghe đến đó, sống lưng rịn mồ hôi lạnh. Cậu là kẻ ngây thơ, không hiểu hết những lời ám chỉ ấy, nhưng bản năng nói cho cậu biết, cậu đang ở trong một tình thế cực kỳ nguy hiểm. Đầu óc cậu quay như chong chóng. Chạy? Không được, cửa khóa, ngoài kia chắc chắn có người canh. Đánh? Cậu chẳng có võ nghệ gì. Kêu cứu? Ở nơi hoang vu này, ai nghe được?
Nhưng cậu là Diệp Thanh Ngôn, chủ tiệm bánh Ngôn Ký, người từng một mình đứng chắn trước đầu ngựa để bảo vệ thúng bánh. Cậu có thể không giỏi võ, nhưng cậu có cái miệng cãi hay như nước chảy và cái đầu nhanh trí như ống bễ lò.
Cậu hít một hơi thật sâu, nặn ra một nụ cười ngoan ngoãn nhất có thể, hai má phồng lên, đôi mắt hạnh ngân ngấn nước, để lộ cả cái lúm đồng tiền.
"Triệu công tử," cậu nói, giọng mềm nhũn, "chuyện đã đến nước này, ta biết mình chạy không thoát. Nhưng ngài nói làm khách... thì khách cũng cần ăn cơm chứ?"
Triệu Hiển nhướng mày, hứng thú: "Ồ? Cậu muốn ăn gì?"
"Ta là người làm bánh, ăn đồ nhà người ta không quen." Tiểu Ngôn cúi đầu, ngón tay xoắn góc áo, tỏ vẻ e thẹn. "Nếu ngài cho ta xuống bếp, ta sẽ làm một mẻ bánh thật ngon để tạ lễ. Coi như... coi như ta hầu hạ ngài."
Hai chữ "hầu hạ" khiến mắt Triệu Hiển sáng lên như đèn lồng. Hắn đưa tay sờ cằm, nhìn Tiểu Ngôn từ đầu đến chân, cười khoái trá: "Biết điều lắm. Được, được lắm. Ta cho cậu xuống bếp. Nhưng đừng có giở trò, xung quanh có ba mươi người của ta."
"Ta đâu dám." Tiểu Ngôn nở một nụ cười vô cùng vô tội.
---
Nhà bếp của Lãm Nguyệt Viên, biệt viện của Triệu Hiển ở ngoại ô phía Tây, to gấp ba lần bếp Ngôn Ký, dụng cụ đầy đủ, nguyên liệu phong phú. Nhưng Tiểu Ngôn không quan tâm đến những thứ đó. Cậu đứng giữa bếp, mắt quét qua từng ngăn tủ, từng bao gạo, từng hũ gia vị, tay khẽ xoa lên cánh áo, nơi ngọc bội hổ vẫn đang nằm yên.
Sau lưng cậu, bốn tên gia đinh cầm gậy đứng canh.
"Các đại ca," cậu quay lại, nở nụ cười ngọt ngào, "làm bánh cần phụ tá. Nhờ các anh giúp ta lấy bột nếp, đường phèn, hạt sen với... một ít ớt."
"Ớt?" Một tên gia đinh ngơ ngác.
"Đây là bí quyết của Ngôn Ký," cậu nghiêm mặt. "Bánh đậu xanh thượng hạng phải có chút ớt để dậy vị."
Bốn tên gia đinh nhìn nhau, gật đầu. Chúng đâu biết trên đời có ai làm bánh đậu xanh bằng ớt.
Nửa canh giờ sau, một khay bánh đậu xanh tròn trịa, trắng xinh, thơm nức mũi, được bưng lên phòng Triệu Hiển. Hai nàng ca nữ nhìn thấy bánh, mắt sáng rực. Triệu Hiển nhón một cái lên, ngắm nghía, rồi liếc nhìn Tiểu Ngôn đang đứng ngoan ngoãn bên cạnh, hai tay đan sau lưng.
"Ăn thử xem nào."
Hắn cắn một miếng lớn.
Ba giây im lặng. Rồi mặt hắn từ trắng đổi sang đỏ, từ đỏ chuyển sang tím, đôi mắt đào hoa trợn ngược, nước mắt tuôn ra như suối.
"Khụ! Khụ khụ! Nước! Nước!"
Hai nàng ca nữ nghe vậy vội vàng cắn thử, lập tức há hốc miệng, lửa cháy từ lưỡi xuống tận cổ, hai người nhảy tưng tưng khắp phòng, nước mắt nước mũi ròng ròng.
"Cay! Cay quá! Nước, cho ta nước!"
Bốn tên gia đinh xông vào hoảng loạn, thấy chủ nhân ôm bụng lăn lộn dưới đất, vội đi tìm nước, người ngã lên người, chén bát vỡ loảng xoảng. Lúc ấy, Tiểu Ngôn đã nhanh như sóc, vớ lấy chiếc áo choàng dài của Triệu Hiển treo bên cửa, lao ra ngoài hành lang.
"Bắt lấy nó!" Triệu Hiển gào lên giữa cơn ho sặc sụa. "Bắt thằng nhóc đó lại!"
Tiểu Ngôn chạy như bay qua các dãy hành lang, băng qua sân vườn, tim đập như trống. Cậu thấy một cánh cổng nhỏ ở phía sau vườn, mở toang, ngoài kia là bóng cây đen kịt và đường mòn hun hút. Cậu lao tới, nhưng vừa chạm tới cổng, một bàn tay to lớn đã tóm lấy cổ áo cậu, lôi ngược lại.
"Muốn chạy à?" Gã áo xám cao lớn gằn giọng. Chính là gã đã đến tiệm Ngôn Ký hôm đầu tiên. "Ngươi đúng là gan to!"
Cậu bị quật ngã xuống đất, đầu gối trầy xước, lòng bàn tay rớm máu. Gã đàn ông giơ chân lên định đạp, thì...
"Meo!!!"
Một bóng đen nâu từ trên cây phóng xuống như tên bắn, đáp thẳng lên mặt gã, bốn móng vuốt cắm sâu vào da thịt.
"Áááá!" Gã đàn ông hét lên thảm thiết, ôm mặt lảo đảo lùi lại.
Bột Bột đáp xuống nhẹ nhàng, đuôi dựng thẳng, lông xù lên, gầm gừ như một con hổ thu nhỏ. Nó quay lại nhìn Tiểu Ngôn, đôi mắt vàng ươm ánh lên vẻ *đã bảo ngươi rồi mà*.
"Bột Bột!" Tiểu Ngôn òa khóc, ôm chầm lấy nó. "Ngươi theo ta đến đây sao? Ngươi giỏi quá, ngươi tuyệt nhất trên đời!"
Nhưng không kịp hàn huyên. Tiếng chân dồn dập vang lên từ mọi phía. Năm tên, mười tên gia đinh cầm đuốc, cầm gậy, vây kín xung quanh. Triệu Hiển từ trong nhà đi ra, mặt còn đỏ tía vì cay, mắt sưng húp, nhưng nụ cười trên môi lại độc địa hơn bao giờ hết.
"Giỏi lắm," hắn nói, giọng khàn khàn, "giỏi lắm, thằng nhóc. Ta thật sự đã xem thường cậu."
Hắn phất tay. Hai tên gia đinh tiến lên, túm chặt hai cánh tay Tiểu Ngôn. Bột Bột lao vào cắn, nhưng bị một tên khác đá văng ra xa, lăn lộn trên đất, kêu lên một tiếng đau đớn.
"Đừng làm đau nó!" Tiểu Ngôn hét lên, nước mắt lăn dài. "Các người là đồ khốn nạn!"
"Lôi vào." Triệu Hiển lạnh lùng nói. "Nhốt trong phòng, canh cẩn thận. Bao giờ Lăng Cảnh Uyên phục tùng, ta mới tính tiếp."
Tiểu Ngôn bị lôi đi, tóc tai rối bù, áo rách vai, đầu gối rớm máu, nhưng ánh mắt vẫn sáng rực, không hề khuất phục. Cậu ngoái lại, nhìn về phía chân trời đen ngòm phía Đông, nơi kinh thành đang nằm im lìm trong đêm.
"Thế tử..." Cậu thì thầm, tay siết chặt miếng ngọc bội hổ đang nóng lên trong lòng ngực. "Ngài đâu rồi..."
---
Cùng lúc đó, tại phủ Trấn Quốc Công, ánh đèn sáng rực như ban ngày.
Bà Ba Cải, tóc tai bù xù, mồ hôi nhễ nhại, quỳ giữa sảnh chính, vừa khóc vừa kể lại toàn bộ sự việc. Ông Tư Lửa đứng phía sau, tay vẫn cầm chặt cây gậy sắt, đôi mắt đỏ rực. Tần Phong, mới được đánh thức bằng nước lạnh, quỳ dưới đất, mặt trắng bệch, tay run rẩy, tự đấm vào ngực mình.
"Là thuộc hạ vô năng! Thuộc hạ đáng chết! Xin Lão thái quân trị tội!"
Lão thái quân ngồi ở chủ vị, mặt lạnh như đá. Bàn tay bà siết cây trượng rồng đến nỗi các khớp ngón trắng bệch. Bà không nói gì suốt một lúc lâu, rồi chậm rãi đứng dậy, dáng người nhỏ bé nhưng uy nghiêm như một ngọn núi.
"Phúc bá."
"Có lão."
"Truyền lệnh của ta, mở kho binh khí của phủ. Điều toàn bộ tám trăm Trấn Quốc thân binh, lập tức ra khỏi thành, tìm khắp mọi ngả đường phía Tây." Giọng bà không hề run, mỗi chữ đều như đá rơi. "Lấy lệnh bài của ta, phái sáu kỵ sĩ nhanh nhất, đêm nay phi ngựa đến Bắc Sơn, báo cho Thế tử. Nói rằng..."
Bà ngừng lại một chút, đôi mắt tinh anh ánh lên sự sắc bén của người đã trải qua trăm năm phong ba.
"Nói rằng, người của nó bị bắt rồi."
"Vâng!"
Phúc bá vụt chạy đi, bước chân nhanh nhẹn không giống người đã ngoài sáu mươi. Cả phủ Trấn Quốc Công như thức tỉnh, tiếng trống lệnh, tiếng vó ngựa, tiếng giáp sắt va nhau vang lên rền rĩ khắp đêm.
Lão thái quân đứng giữa sảnh, nhìn về phía cửa, nơi bóng đêm đang phủ dày, khẽ lẩm bẩm:
"Thằng nhóc Uyên nhi, con mà không kịp về, tổ mẫu sẽ tự mình mang trượng đi lột da tên họ Triệu."
---
Ở Bắc Sơn, quân doanh nằm giữa hai dãy núi, cờ bay phần phật trong gió lạnh. Lăng Cảnh Uyên đứng trên vọng lâu, tay vẫn cầm gói bánh bông lan hấp mật ong Tiểu Ngôn gửi, chưa nỡ ăn. Y chỉ đang định gỡ dây buộc thì một tràng vó ngựa rền vang dưới chân núi.
Sáu kỵ sĩ áo đen phủ đầy bụi đường, ngựa sùi bọt mép, phóng lên như bay. Người dẫn đầu nhảy xuống, quỳ sụp, dâng lệnh bài rồng.
"Bẩm Thế tử! Lão thái quân có lệnh khẩn!"
Lăng Cảnh Uyên nhận lấy, đọc, và đôi mắt đen của y trong nháy mắt lạnh xuống đến mức làm cả quân doanh nín thở. Bàn tay y siết chặt tờ giấy, các đốt ngón tay kêu răng rắc, gói bánh trong tay tuột xuống đất.
Chỉ có ba chữ, ở cuối bức thư, nét chữ run rẩy của Lão thái quân:
*Tiểu Ngôn mất tích.*
Một khoảng lặng dài.
Rồi y quay người, giọng trầm thấp và tàn nhẫn như tiếng sấm nén trong mây:
"Ngựa."
"Thế tử, quân doanh còn..."
"Ngựa!"
Y nhảy lên lưng con ngựa đen, không màng đến giáp trụ, không màng đến quân lệnh, không màng đến bất cứ điều gì. Trong đầu y chỉ còn một hình ảnh: cái lúm đồng tiền, đôi mắt hạnh, tiếng nói mềm mại của một người vừa vẫy tay tiễn y ở cổng phủ với nụ cười rạng rỡ.
*Đợi ta.*
Y đã nói vậy. Vậy mà.
Con ngựa đen hí lên một tiếng dài, rồi vụt đi như mũi tên rời cung, xé toạc màn đêm, phóng về phía kinh thành. Phía sau, sáu kỵ sĩ vội vàng nhảy lên ngựa đuổi theo, nhưng khoảng cách ngày càng xa. Gió gào bên tai, cát bụi cuồn cuộn, bóng y nhỏ dần giữa núi rừng mênh mông.
Trên sườn núi, gói bánh bông lan nằm lặng lẽ dưới đất, lớp lá chuối tách ra, để lộ những chiếc bánh vàng óng, còn thoang thoảng mùi mật ong ngọt ngào, như một lời nhắn nhủ chưa kịp nói.
Đêm ở Lãm Nguyệt Viên dài như không có điểm dừng.
Tiểu Ngôn ngồi co ro trong góc phòng, hai tay ôm đầu gối, tóc rối bù, áo rách một bên vai, đầu gối còn rớm máu khô. Cánh cửa gỗ dày khóa chặt từ bên ngoài, cửa sổ bị đóng đinh, chỉ còn một khe hở nhỏ để gió lùa vào, mang theo tiếng dế kêu và tiếng chân lính canh đi qua đi lại.
Cậu không khóc nữa. Nước mắt đã cạn từ lâu, chỉ còn lại đôi mắt đỏ hoe và cái cổ họng khô rát. Trong lòng cậu, ngọc bội hổ vẫn nằm im, còn ấm hơi người, tựa như một hạt lửa nhỏ giữ cho cậu không bị bóng tối nuốt chửng.
"Cạch."
Có tiếng động nhỏ ở khe cửa sổ. Tiểu Ngôn giật mình ngẩng lên, tim đập loạn, và thấy một cái đầu tròn xoe màu nâu mướp chui vào từ khe hở, râu run run, đôi mắt vàng ươm lấp lánh trong bóng tối.
"Bột Bột!" Cậu thì thào, vội chạy lại, đưa tay ra.
Con mèo mướp trườn qua khe hở, nhảy vào lòng cậu, cơ thể nhỏ bé run lên bần bật. Một bên tai nó rách, chân sau còn khập khiễng, nhưng nó vẫn kêu khẽ "meo" một tiếng đầy kiêu hãnh, dụi đầu vào cằm cậu như để nói: *Ta vẫn còn sống, ta đâu có dễ bị đánh bại.*
"Ngươi bị thương rồi..." Tiểu Ngôn ôm chặt nó, giọng nghẹn ngào. "Đồ ngốc, sao ngươi không chạy về nhà?"
"Meo."
"Ta biết rồi, ta biết rồi. Ngươi không bỏ ta." Cậu vùi mặt vào bộ lông mềm của nó, khẽ cười trong nước mắt. "Ngươi là con mèo anh hùng nhất thế gian."
Đúng lúc ấy, có tiếng chân bước gần lại, tiếng khóa cửa lách cách. Tiểu Ngôn nhanh tay nhét Bột Bột vào trong lớp áo, siết chặt hai tay ra sau lưng, lùi sát vào tường.
Cánh cửa mở ra. Triệu Hiển đứng ở ngưỡng cửa, tay cầm bình rượu, mặt đỏ ửng, bước chân hơi loạng choạng. Trên người hắn là bộ áo lụa mỏng màu đỏ sẫm, vạt áo xộc xệch, mái tóc buông xõa, mùi rượu nồng nặc bay vào phòng. Đôi mắt đào hoa vẫn còn hoe đỏ vì bánh ớt ban chiều, nhưng nụ cười trên môi thì ngày càng ngả về phía điên loạn.
"Chưa ngủ à?" Hắn cười khẽ, đóng cửa lại sau lưng, tiếng khóa lách cách vang lên như một lời đe dọa. "Ta cũng vậy. Ban chiều bị cậu chơi một vố đau, mãi vẫn còn cay ở cổ họng. Cậu có biết không, chưa từng có ai dám đối xử với ta như thế."
"Vậy thì ngươi nên tự hỏi tại sao," Tiểu Ngôn đáp, giọng run nhưng vẫn cố cứng rắn.
"Ha!" Triệu Hiển bật cười, ngồi xuống chiếc ghế cách cậu vài bước, chân vắt chéo, nốc một ngụm rượu. "Cậu nói chuyện thú vị lắm. Mấy cô nương ta gặp, người thì khóc, người thì cầu xin, người thì giả vờ đoan trang. Chưa ai mắng ta là khốn nạn cả."
Hắn đặt bình rượu xuống, nghiêng người tới, ánh mắt dán chặt lên gương mặt Tiểu Ngôn, chậm rãi, từng chút một, từ đôi mắt, xuống má, xuống bờ vai hở ra vì rách áo. Ánh nhìn ấy khiến Tiểu Ngôn nổi hết da gà.
"Nói thật, ta thấy cậu hợp mắt ta lắm." Giọng hắn hạ xuống, dịu dàng đến lạnh người. "Hay là thế này, ngày mai, khi Lăng Cảnh Uyên chưa kịp về, cậu ở lại đây với ta. Ta sẽ cho cậu ăn ngon mặc đẹp, tiền bạc châu báu, muốn gì có nấy. Cái tiệm bánh nhỏ xíu của cậu, ta cho người xây lại to gấp mười lần..."
"Không."
"Không?" Triệu Hiển nhướng mày.
"Không, không, không!" Tiểu Ngôn hét lên, giọng vỡ ra vì tức giận. "Ta không cần! Ngươi có cho ta cả núi vàng ta cũng không cần! Tiệm bánh của ta là của mẹ ta, do mẹ ta viết từng chữ trên tấm biển! Ngươi thì biết cái gì mà nói chuyện mua bán? Ngươi chỉ biết dùng tiền và quyền để cướp của người khác thôi!"
Cậu thở hổn hển, nước mắt lăn dài trên má, nhưng đôi mắt sáng rực như hai ngọn lửa nhỏ.
"Còn Thế tử..." Giọng cậu run lên nhưng đầy kiêu hãnh. "Ngài ấy không chỉ mạnh hơn ngươi. Ngài ấy còn là người tốt, người tốt nhất mà ta từng gặp. Ngươi không xứng nhắc đến tên ngài ấy!"
Triệu Hiển im lặng. Nụ cười dần tắt trên môi hắn. Ánh mắt hắn tối sầm, cơ hàm siết chặt, bàn tay đặt trên tay ghế nổi gân xanh.
"Được. Rất được." Hắn đứng dậy, bước chậm về phía cậu, mỗi bước như đè nặng lên sàn nhà. "Vậy thì để ta cho cậu biết, người tốt nhất mà cậu gặp, có bảo vệ được cậu không..."
Bàn tay hắn vươn ra, túm lấy cổ áo Tiểu Ngôn.
Trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ diễn ra rất nhanh.
"Meo!!!"
Bột Bột nhảy vọt ra khỏi áo cậu, móng vuốt cào một đường dài trên mu bàn tay Triệu Hiển. Hắn rú lên đau đớn, rụt tay lại. Tiểu Ngôn không bỏ lỡ cơ hội, cúi xuống, dồn hết sức bình sinh cắn mạnh vào cổ tay còn lại của hắn.
"Á! Thằng nhóc chết tiệt!"
Triệu Hiển hất mạnh, Tiểu Ngôn ngã dúi xuống sàn, đầu đập vào chân giường choáng váng. Hắn gầm lên, rút từ trong thắt lưng một con dao găm nhỏ, ánh thép lạnh lẽo phản chiếu ánh nến.
"Ta đã cho cậu cơ hội..."
Ầm!!!
Một tiếng nổ dữ dội vang lên từ phía cổng chính, chấn động cả tòa biệt viện. Bụi đất từ xà nhà rơi lả tả, ánh nến rung lên bần bật. Tiếng la hét, tiếng đao kiếm, tiếng ngựa hí vang dội, xen lẫn tiếng gầm giận dữ mà Tiểu Ngôn nghe một lần là nhớ suốt đời.
Triệu Hiển sững sờ, quay đầu nhìn về phía cửa.
---
Cánh cổng chính của Lãm Nguyệt Viên, dày ba tấc, bịt sắt, đã bị húc văng ra như một mảnh giấy.
Con ngựa đen lao vào, hai chân trước nhấc cao, hí vang như sấm dậy. Trên lưng nó, Lăng Cảnh Uyên ngồi thẳng, áo bào đen tả tơi vì gió, tóc rối bời, mồ hôi thấm đẫm, ánh mắt đỏ ngầu như hai cục than hồng. Từ Bắc Sơn về đây, một trăm dặm đường, y đã phi ngựa không nghỉ một khắc, thay hai con chiến mã, bỏ lại sáu kỵ sĩ không biết ở tận đâu. Chiếc áo bào đen loang lổ bụi đất và máu, không rõ của y hay của ngựa.
"Chặn hắn lại!" Một gã áo xám gào lên.
Hai mươi tên gia đinh cầm gậy, cầm đao lao ra. Lăng Cảnh Uyên không thèm nhìn. Y nhảy khỏi lưng ngựa, dưới chân chưa kịp chạm đất, cây trường thương trong tay đã quét ngang một vòng, kéo theo tiếng gió rít chói tai.
Rầm! Rầm! Rầm!
Năm tên gia đinh bay ngược ra sau như chiếc lá bị gió thổi, đập vào tường, ngã lăn ra đất, rên rỉ không dậy nổi. Y bước tới, từng bước một, chậm rãi, nhưng bước nào cũng nặng như đá. Hai tên khác xông tới từ hai bên, y chỉ nghiêng người tránh, khuỷu tay thúc mạnh, cán thương đập ngang, hai tên đổ gục, gậy văng đi loảng xoảng.
"Tần Phong!" Y gầm lên.
"Có thuộc hạ!" Từ phía sau, Tần Phong dẫn theo hai trăm Trấn Quốc thân binh ập vào, giáp bạc sáng loáng, cờ hiệu bay phần phật. "Thế tử, xin ngài giao đám này cho thuộc hạ!"
"Bắt sống hết!" Lăng Cảnh Uyên ném lại một câu, không quay đầu, rồi lao thẳng về phía tòa nhà chính.
Y không cần hỏi Tiểu Ngôn ở đâu. Y nghe được tiếng khóc chặn nghẹn, tiếng kêu quen thuộc, nghe được một tiếng "meo" rất nhỏ nhưng đầy giận dữ. Y đá tung cánh cửa gỗ đầu tiên, rồi cánh cửa thứ hai, rồi phóng lên cầu thang, băng qua hành lang, cho đến khi dừng lại trước một cánh cửa gỗ khóa chặt.
Y giơ chân, đạp.
Rầm!
Cánh cửa bật tung khỏi bản lề.
Cảnh tượng hiện ra trước mắt y khiến tim y như ngừng đập.
Tiểu Ngôn nằm bệt dưới sàn, áo rách nát, tóc rối bời, trán rớm máu, khóe môi tím bầm. Con mèo mướp xù lông đứng chắn trước mặt cậu, tuy chân khập khiễng nhưng vẫn gầm gừ như hổ. Phía trước cậu, Triệu Hiển đang đứng, tay cầm dao găm, gương mặt méo mó, vừa quay đầu lại thì đã thấy một bóng đen phủ xuống.
Lăng Cảnh Uyên không nói một lời.
Y nắm lấy cổ tay cầm dao của hắn, bóp mạnh.
Rắc.
"Áááááá!" Triệu Hiển thét lên, con dao rơi loảng xoảng xuống sàn, cổ tay đã bị bẻ gãy theo một góc kỳ quái.
Y chưa dừng lại. Bàn tay kia tóm lấy cổ áo hắn, nhấc bổng lên, đập mạnh vào tường. Bức tường gỗ nứt toác một đường dài, Triệu Hiển ho ra máu, chân đá loạn xạ trong không trung.
"Ta đã nói," giọng Lăng Cảnh Uyên trầm thấp, khàn đặc, lạnh như băng ngàn năm, "nếu có lần thứ hai..."
"Thế... Thế tử... tha..."
"...thứ gãy tiếp theo sẽ không phải là quạt."
Y giơ tay lên. Bàn tay nắm chặt thành nắm đấm, gân xanh nổi hằn, sát khí cuồn cuộn như sóng dữ.
"Thế tử!"
Một tiếng gọi khàn khàn, run rẩy, vang lên sau lưng.
Bàn tay y khựng lại giữa không trung.
"Thế tử... đừng..." Tiểu Ngôn chống tay ngồi dậy, nước mắt giàn giụa, giọng nhỏ như hơi thở. "Đừng giết hắn... ngài... ngài sẽ bị... bị người ta bàn tán... Giao cho quan phủ... giao cho bệ hạ..."
Lăng Cảnh Uyên thở dốc, lồng ngực phập phồng, đôi mắt đỏ ngầu vẫn dán vào Triệu Hiển. Y đứng như thế một lúc lâu, bàn tay run lên từng đợt vì kìm nén. Rồi y buông tay ra, Triệu Hiển rơi phịch xuống sàn, ôm cổ tay gãy, cuộn tròn như con tôm luộc, rên rỉ không thành tiếng.
"Tần Phong." Y nói, không quay đầu. "Trói hắn lại. Lôi về kinh thành. Nếu hắn chết trên đường, ngươi cũng đừng sống."
"Vâng!"
Lăng Cảnh Uyên quay người lại.
Chỉ trong nháy mắt, toàn bộ khí thế khủng khiếp trên người y tan biến. Y quỳ một gối xuống sàn, đưa cả hai tay ra, như thể sợ chạm vào một món đồ sứ quý giá dễ vỡ, nhẹ nhàng đỡ lấy vai Tiểu Ngôn.
"Ngươi... ngươi có bị thương không? Ở đâu đau?" Giọng y run rẩy, hoàn toàn khác với người vừa bẻ gãy tay Triệu Hiển. "Đầu? Tay? Chân? Nói cho ta biết."
Tiểu Ngôn nhìn y. Gương mặt y bám đầy bụi đất, tóc rối, môi nứt nẻ, đôi mắt đỏ hoe như vừa khóc. Người đàn ông từng khiến cả biên ải run sợ, người mà cả kinh thành gọi là Diêm Vương sống, giờ đang quỳ trước mặt cậu, tay run đến nỗi không dám ôm.
"Ngài..." Cậu nghẹn ngào. "Ngài đến rồi..."
"Ừ. Ta đến rồi."
"Ta không sao... ta chỉ bị trầy đầu gối một chút..." Cậu cố nở nụ cười, để lộ cái lúm đồng tiền mờ nhạt, nhưng nước mắt lại chảy ra như suối. "Ta đã giữ ngọc bội của ngài, ta không để hắn lấy..."
Cậu run rẩy rút miếng ngọc bội hổ trong ngực áo ra, dâng lên bằng cả hai tay, như thể đang trình báo với một vị tướng quân sau trận chiến.
Lăng Cảnh Uyên nhìn miếng ngọc, rồi nhìn cậu. Đôi mắt y bỗng ngập nước. Y không nói gì nữa, chỉ đưa tay ra, kéo cậu vào lòng, ôm chặt, chặt đến mức cậu gần như nghẹt thở, hai cánh tay to lớn run rẩy quấn quanh người cậu như tấm áo giáp bảo vệ.
"Xin lỗi." Giọng y khàn đặc bên tai cậu, nghẹn lại. "Ta đến muộn. Xin lỗi."
"Không muộn..." Tiểu Ngôn vùi mặt vào vai y, hai tay ôm lấy tấm lưng rộng, bật khóc thành tiếng. "Ngài đến rất nhanh rồi... ta biết ngài sẽ đến mà..."
"Meo."
Bột Bột ngồi bên cạnh, liếm chân, nhìn hai người ôm nhau với vẻ mặt của một con mèo đã hoàn thành nhiệm vụ. Rồi nó khập khiễng bước tới, dụi đầu vào chân Lăng Cảnh Uyên.
"Hắt xì!" Y hắt hơi một cái. Rồi khẽ khàng nói, giọng ấm áp: "Cảm ơn, ngươi đã bảo vệ cậu ấy."
Bột Bột kêu một tiếng, đuôi vểnh cao, có vẻ rất hài lòng.
---
Sáng hôm sau, tin tức lan ra khắp kinh thành như lửa cháy đồng khô.
Triệu Hiển, con trai độc nhất của Hộ bộ Thượng thư, bị bắt giữa đêm, tội danh bắt cóc, cưỡng ép, mưu đồ hành hung người dưới sự bảo hộ của Trấn Quốc phủ. Kèm theo đó, hàng loạt chứng cứ mà Tần Phong đã thu thập trong những ngày qua được dâng lên điện Kim Loan: vụ đoạt đất ngoại thành, vụ ép chết cô nương Liễu Nhi ở Túy Hoa Lâu, vụ cướp tiệm lụa lão Vương, và cả sổ sách tham ô của Hộ bộ Thượng thư Triệu Đức Khải, những khoản thu chi mờ ám mà Lăng Cảnh Uyên đã bí mật điều tra suốt nhiều tháng.
Hoàng thượng nổi giận đùng đùng. Chiếu chỉ ban xuống ngay trong buổi triều sớm: tước chức Triệu Đức Khải, tịch thu gia sản, lưu đày ba nghìn dặm. Triệu Hiển bị đánh sáu mươi trượng, phế bỏ mọi chức tước, giam vào ngục Thiên Lao, chờ ngày trục xuất biên cương.
Ngày hắn bị áp giải qua phố, cả kinh thành đổ ra xem. Người ta đứng đông nghẹt hai bên đường, nhổ nước bọt, ném rau thối, chửi rủa ầm ĩ. Triệu Hiển đầu tóc bù xù, mặc áo tù xám xịt, cổ tay quấn băng, gương mặt tuấn tú sưng vù, đôi mắt đào hoa không còn ánh sáng, trông như một cái xác không hồn.
Đi ngang qua ngõ Hàng Bột, hắn vô thức ngẩng đầu, nhìn thấy tiệm bánh nhỏ có hai tấm biển treo cạnh nhau. Và trước cửa tiệm, cậu bé mặt tròn đang đứng cạnh một người đàn ông cao lớn áo đen, cười rạng rỡ, tay cầm chiếc bánh đậu xanh.
Ánh mắt hắn dừng lại đó một khoảnh khắc. Rồi hắn cúi đầu, để mặc xích sắt lôi đi.
Bà Ba Cải đứng bên đường, tay chống nạnh, mắt trợn trừng, đợi hắn đi qua rồi mới nhổ một bãi nước bọt, hùng hồn tuyên bố: "Đáng đời! Trời có mắt mà!"
Ông Tư Lửa đứng phía sau, khẽ gõ gậy sắt xuống đất hai tiếng, đầy ý tứ.
---
Nhưng đó là chuyện của kinh thành.
Còn ở bên ngoài thành, trên một sườn đồi xanh mướt nằm giữa những rặng đào nở rộ, có hai người đang ngồi bên nhau trên thảm cỏ, ngắm bình minh.
Lăng Cảnh Uyên đã tắm rửa, thay áo mới, vết bụi đất đã biến mất, để lộ khuôn mặt tuấn tú lạnh lùng, nhưng dưới đôi mắt vẫn còn quầng thâm vì mấy ngày không ngủ. Tiểu Ngôn ngồi cạnh y, đầu gối đã băng gạc, trán dán một miếng thuốc, trên vai khoác chiếc áo bào lam rộng thùng thình của y. Bột Bột nằm cuộn tròn trong lòng cậu, chân sau quấn vải, ngủ ngon lành.
Trời dần sáng. Phía Đông, những tia nắng đầu tiên xuyên qua tầng mây, nhuộm cả bầu trời thành sắc hồng cam ấm áp. Hoa đào rụng lả tả, cánh hoa hồng phớt bay lượn trong gió, đáp xuống tóc, xuống vai, xuống bàn tay hai người.
"Đẹp quá." Tiểu Ngôn thì thầm.
"Ừ."
Họ im lặng một hồi lâu. Chỉ có tiếng gió xào xạc qua tán đào, tiếng chim hót líu lo đâu đó. Rồi Lăng Cảnh Uyên khẽ mở miệng, giọng trầm và chậm rãi:
"Trên đường về, ta nghĩ rất nhiều."
"Nghĩ gì?" Tiểu Ngôn nghiêng đầu.
"Nếu ta đến muộn." Y ngừng lại, giọng khẽ run. "Nếu ta không kịp. Nếu ngươi..."
"Ngài đến kịp rồi mà."
"Ta biết." Y quay sang nhìn cậu, đôi mắt đen sâu thẳm không còn vẻ lạnh lùng, chỉ còn lại một thứ chân thành đến đau lòng. "Nhưng khi ta nghĩ đến chuyện suýt mất ngươi, ta mới hiểu ra một điều."
Tiểu Ngôn nín thở. Tim cậu đập thình thịch như trống hội.
"Từ ngày ta ăn miếng bánh đầu tiên của ngươi, ta tưởng rằng ta chỉ cần vị ngọt ấy." Lăng Cảnh Uyên chậm rãi nói, từng chữ rõ ràng. "Nhưng không phải. Ta cần người làm ra vị ngọt ấy. Ta cần cái lúm đồng tiền của ngươi. Ta cần tiếng ngươi mắng ta, tiếng ngươi cười, tiếng ngươi nói 'ăn rồi ạ' mỗi sáng khi ta biết ngươi chưa ăn gì."
"Ngài..."
"Diệp Thanh Ngôn." Y gọi tên đầy đủ của cậu, giọng trầm khàn, nghiêm túc. "Ta thích ngươi. Không phải vì bánh, không phải vì cảm kích. Ta thích ngươi, vì ngươi là ngươi."
Trời đất như ngừng lại. Cánh đào rơi chậm, gió cũng ngừng thổi. Tiểu Ngôn ngồi đó, miệng hé mở, mắt mở to, bột ngọt đổ vào tim, không biết phải nói gì. Cậu muốn cười, muốn khóc, muốn nhảy lên, muốn chui xuống đất, tất cả cùng một lúc.
"Ngươi... ngươi..." Cậu lắp bắp, mặt đỏ như trái đào chín. "Ngài nói lại lần nữa!"
"Ta thích ngươi."
"Lại lần nữa!"
"Ta thích ngươi." Khóe môi y cong lên, lần đầu tiên nở một nụ cười thật sự dịu dàng.
"Lại... lại..."
"Tiểu Ngôn."
"Dạ?"
"Ngươi thì sao?"
Tiểu Ngôn sững người. Rồi cậu ôm chặt Bột Bột vào lòng, giấu mặt vào bộ lông mềm, giọng lí nhí như muỗi kêu: "Ta... ta cũng thế..."
"Ta không nghe rõ."
"Ta nói ta cũng thế!" Cậu ngẩng đầu lên, mặt đỏ bừng, mắt long lanh, hét thật to. "Ta cũng thích ngài! Ta thích ngài từ đêm hội hoa đăng, khi ngài nắm tay ta! Không, có lẽ còn sớm hơn! Ta thích ngài từ khi ngài ăn cái bánh dính đất mà không chê!"
Cả đồi đào vang vọng tiếng cậu. Chim bay tán loạn. Bột Bột hé một mắt, liếc nhìn rồi lại nhắm lại.
Lăng Cảnh Uyên bật cười. Tiếng cười trầm ấm, thoải mái, rộng mở, như băng tan mùa xuân. Y đưa tay ra, nhẹ nhàng nâng cằm cậu lên, ngón cái khẽ chạm vào cái lúm đồng tiền trên má.
"Vậy ngươi ước gì, đêm hoa đăng?"
"Ngài nói trước đi!"
"Ta ước," y khẽ nói, "người đang ngồi bên cạnh ta, cả đời này chỉ cưng chiều một mình ta, và để ta cưng chiều lại."
Tiểu Ngôn ngẩn ra. Rồi nước mắt lại lăn ra, nhưng lần này là nước mắt hạnh phúc. Cậu nắm lấy bàn tay to lớn đang đặt trên má mình, áp sát vào, thì thầm:
"Ta ước... được ở bên người ấy, đến khi tóc bạc răng long."
Hai điều ước, không ai nói trước, mà giống nhau đến kỳ lạ.
Lăng Cảnh Uyên cúi đầu xuống. Y hôn lên trán cậu, nhẹ như cánh hoa đào rơi. Rồi lên đôi mắt ướt, lên chóp mũi đỏ, và cuối cùng, chậm rãi, dịu dàng, đặt một nụ hôn lên đôi môi run rẩy của cậu. Chỉ chạm nhẹ, ngắn ngủi, nhưng ngọt hơn tất cả những chiếc bánh cậu từng làm.
Bột Bột giật mình tỉnh giấc, kêu "meo" một tiếng bất mãn rồi nhảy ra khỏi lòng cậu, bước sang chỗ khác nằm tiếp.
---
Khi mặt trời đã lên cao, hai người mới trở về kinh thành.
Trước cổng phủ Trấn Quốc Công, cả nhà đã đứng chờ từ sớm. Lão thái quân ngồi trên ghế bành mà Phúc bá cho khiêng ra, tay chống trượng rồng, mặt nghiêm như đá. Phúc bá đứng bên cạnh, cuốn sổ trên tay đã ghi kín ba trang. Bà Ba Cải, ông Tư Lửa, thậm chí cả lão Vương chủ tiệm lụa và chị bán vải cũng có mặt, mỗi người xách theo một thứ gì đó, lồng chim, giỏ trứng, túi gạo, bó hoa, xếp thành hàng trước cổng. Tần Phong đứng ở góc, đầu cúi gằm, mặt vẫn còn vẻ hối lỗi.
Khi cỗ xe ngựa dừng lại, Lăng Cảnh Uyên nhảy xuống trước, rồi quay lại, đưa tay đỡ Tiểu Ngôn xuống, động tác nâng niu như đỡ một viên ngọc. Bột Bột thò đầu ra khỏi ngực áo cậu, ngáp một cái thật dài.
"Tiểu Ngôn!" Bà Ba Cải là người đầu tiên lao tới, ôm chầm lấy cậu, khóc lóc thảm thiết. "Ối con ơi! Bà lo chết đi được! Cả đêm bà không chợp mắt! Bà đã định vác chổi đi tìm tên họ Triệu rồi!"
"Bà Ba... con không sao mà, bà đừng khóc..."
Ông Tư Lửa cũng bước tới, vỗ vai cậu thật mạnh, mắt đỏ hoe, tay vẫn giơ ngón cái, miệng mấp máy không thành tiếng, có lẽ đang nói: *Giỏi lắm, cháu giỏi lắm.*
Tần Phong quỳ sụp xuống trước mặt Tiểu Ngôn, dập đầu: "Diệp công tử, thuộc hạ vô năng, để công tử chịu khổ! Xin công tử tha tội!"
"Tần đại ca!" Tiểu Ngôn hoảng hốt đỡ anh ta dậy. "Anh bị bỏ thuốc mê mà, không phải lỗi của anh! Với lại, nếu anh không tìm được đường đến đó nhanh như vậy, thì ta cũng chết chắc rồi!"
Tần Phong ngẩng đầu, mắt đỏ hoe, lần đầu tiên trong đời, cái mặt gỗ ấy lại rơm rớm nước.
Lão thái quân chờ đợi mọi người ồn ào xong, mới chậm rãi lên tiếng: "Đủ rồi. Để thằng bé vào nhà, để ta xem nó có bị thương nặng không."
Bà chống trượng đứng dậy, bước tới gần Tiểu Ngôn, đôi bàn tay nhăn nheo run run sờ lên trán, lên má, lên vai cậu, kiểm tra từng chút một. Đến khi chắc chắn cậu không sao, bà mới thở phào một hơi dài, đôi mắt tinh anh ướt át.
"Tốt, tốt. Về là tốt rồi." Bà vỗ nhẹ lên tay cậu. "Cháu ngoan, bà đã chuẩn bị canh gà hầm sâm, ăn xong đi ngủ một giấc."
"Tổ mẫu." Lăng Cảnh Uyên bỗng lên tiếng.
Cả sân im lặng.
Y bước tới cạnh Tiểu Ngôn, đứng thẳng, nắm lấy tay cậu trước mặt tất cả mọi người. Tiểu Ngôn giật mình, định rút lại, nhưng y siết chặt hơn, không cho cậu thoát.
"Cháu có chuyện muốn nói."
Lão thái quân nhướng mày: "Nói."
Lăng Cảnh Uyên hít sâu một hơi. Người đàn ông từng đối mặt với hàng ngàn quân địch mà không chớp mắt, lúc này lại đứng trước bà nội mình, đôi tai đỏ dần lên.
"Cháu muốn cưới Diệp Thanh Ngôn."
Tiếng lá rơi cũng nghe rõ.
Tiểu Ngôn đứng đơ ra, mặt trắng rồi đỏ, đỏ rồi trắng, miệng há hốc như con cá mắc cạn: "Ngài... ngài nói gì... cưới... ta... ta là nam nhân..."
"Ta biết." Lăng Cảnh Uyên nhìn cậu, ánh mắt dịu dàng nhưng kiên định. "Ở Đại Nam này, nam nhân kết duyên với nam nhân không phải chuyện lạ, luật lệ có sẵn. Ta không quan tâm ai nghĩ gì. Ta chỉ muốn hỏi ngươi: Ngươi có bằng lòng không?"
Cả sân im phăng phắc. Bà Ba Cải bịt miệng. Ông Tư Lửa quên cả gõ gậy. Phúc bá cầm bút, tay lơ lửng trên trang giấy. Tần Phong đứng cứng như tượng.
Tiểu Ngôn nhìn Lăng Cảnh Uyên. Nhìn đôi mắt đen sâu thẳm ấy, nhìn bàn tay đang nắm chặt tay mình, nhìn bầu trời xanh phía sau y, nhìn những cánh hoa đào còn vương trên tóc y. Rồi cậu cười, một nụ cười rạng rỡ nhất từ trước đến nay, cái lúm đồng tiền hằn sâu, mắt cong như trăng non.
"Bằng lòng!" Cậu hét lên, giọng vang khắp sân. "Ta bằng lòng! Bằng lòng một trăm lần! Một nghìn lần!"
Bột Bột "meo" một tiếng thật to như để làm chứng.
Cả sân bùng nổ trong tiếng reo hò, tiếng vỗ tay, tiếng khóc, tiếng cười. Bà Ba Cải khóc như mưa, ông Tư Lửa lau nước mắt bằng tay áo lem than, Tần Phong bật khóc thành tiếng, Phúc bá vội vàng ghi vào sổ, tay run đến mức nét chữ xiêu vẹo.
Lão thái quân nhìn cháu trai, nhìn cậu bé mặt tròn đứng cạnh nó, rồi bật cười khanh khách, cười đến rơi cả nước mắt, cây trượng gõ xuống đất vang lên từng nhịp vui sướng.
"Ta chờ câu này lâu lắm rồi!" Bà tuyên bố, giọng sang sảng. "Phúc bá!"
"Có lão!"
"Truyền lệnh xuống, cả phủ chuẩn bị. Chọn ngày lành tháng tốt, bày tiệc ba ngày ba đêm. Ta muốn cả kinh thành đều biết, Trấn Quốc phủ sắp có hỷ sự!"
"Vâng!" Phúc bá ôm cuốn sổ, run rẩy đến mức suýt làm rơi bút. "Lão... lão đã đợi ngày này ba đời rồi!"
Nắng vàng rải trên mái ngói lưu ly, hoa đào bay đầy trời, tiếng cười ngập cả sân phủ. Giữa muôn người, Lăng Cảnh Uyên và Tiểu Ngôn đứng bên nhau, tay đan chặt, không ai nói gì, chỉ nhìn nhau mà cười.
Chiếc bánh đầu tiên mà Tiểu Ngôn từng đưa cho y, chiếc bánh đậu xanh dính bụi bên đường ngày nào, hóa ra chính là mở đầu cho tất cả.
Ngày lành tháng ba, hoa đào cuối mùa nở rộ như muốn dồn hết sắc hương cho một lần cuối cùng.
Từ nửa tháng trước, cả kinh thành Thăng Kinh đã không ai nói chuyện gì khác ngoài hỷ sự của phủ Trấn Quốc Công. Ở các quán trà, người ta kháo nhau rằng Thế tử Lăng Cảnh Uyên, Diêm Vương sống lạnh như băng, sắp cưới một cậu bé bán bánh mặt tròn có lúm đồng tiền. Ở chợ Đông, chị bán vải đã đếm được một trăm lẻ tám chiếc rương sính lễ chất từ phủ đến ngõ Hàng Bột. Ở phố Chu Tước, các tiệm lụa treo vải đỏ kín cả mặt tiền, thợ kim hoàn thức trắng đêm chế tác trang sức. Còn ở ngõ Hàng Bột, bà Ba Cải bận đến mức quên cả bán rau, ngày nào cũng đứng giữa ngõ chỉ huy như một vị tướng quân.
"Rương thứ ba mươi hai! Gấm Tô Châu, mười cuộn! Ghi vào!"
"Rương thứ ba mươi ba! Trân châu Nam Hải, hai hộp!"
"Ối giời ơi, rương thứ ba mươi tư toàn là vàng thỏi! Ông Tư Lửa, ông đếm hộ tôi với, tay tôi run quá!"
Ông Tư Lửa ngồi trên chiếc ghế đẩu, râu bạc phơ, bình tĩnh gật đầu, mỗi lần bà Ba Cải hô một rương thì ông lại gõ gậy sắt xuống đất một tiếng cộp, nghe như tiếng trống lệnh.
Sính lễ của Trấn Quốc phủ dài từ đầu ngõ đến tận cuối phố. Ngoài gấm vóc, châu báu, vàng bạc, còn có ruộng đất ở ngoại thành, ba cửa tiệm ở phố Chu Tước ghi tên Tiểu Ngôn, một tòa biệt viện nhỏ bên hồ Tây, mười hai chậu mai cổ thụ, hai mươi vò rượu trăm năm, và một chiếc lò nướng bằng đồng chế tác riêng, trên thân khắc bốn chữ "Ngôn Ký Ngự Dụng". Đáng kể nhất là chiếc rương cuối cùng, được khiêng bởi tám người, phủ lụa vàng. Bên trong là một tấm biển gỗ trầm cao ba thước, do chính tay hoàng thượng ngự bút:
**"Thiên Hạ Đệ Nhất Bánh."**
"Bệ hạ nghe chuyện," Phúc bá cúi đầu, giọng nghẹn ngào, "liền ban ngự bút chúc phúc cho hai vị."
Tiểu Ngôn đứng trước tấm biển, mắt trợn tròn, miệng há hốc, hai tay run run chạm vào từng nét chữ vàng. Rồi cậu quay sang nhìn bà Ba Cải, nhìn ông Tư Lửa, nhìn Bột Bột đang ngồi chễm chệ trên chiếc rương vàng thỏi, và bật khóc nức nở.
"Mẹ ơi..." Cậu thì thầm, nước mắt lăn dài. "Mẹ thấy chưa, tiệm của mẹ được hoàng thượng đề biển rồi..."
Bà Ba Cải ôm cậu vào lòng, cũng khóc như mưa: "Mẹ con biết rồi, biết rồi. Trên trời mẹ con đang cười đó."
Bên phía Trấn Quốc phủ cũng nhận lại lễ đáp. Đó là ba mươi khay bánh đủ loại do chính tay Tiểu Ngôn làm suốt ba đêm, một tấm chăn bông thêu uyên ương do các bà các chị trong ngõ mỗi người khâu một mũi, và đặc biệt là một chiếc bánh bông lan hấp mật ong to như cái mâm, ở giữa cắm một tấm thẻ nhỏ viết bằng nét chữ xiêu vẹo: *Ngày giỗ mẹ, em làm cho chàng ăn.*
Lão thái quân nhìn tấm thẻ, im lặng rất lâu, rồi lau nước mắt, quay đi giả vờ ho.
---
Sáng ngày cưới, trời trong xanh không một gợn mây.
Đón dâu, theo lệ, là đoàn của Lăng Cảnh Uyên phải đến ngõ Hàng Bột, vượt qua "cửa ải" của bên nhà Tiểu Ngôn, mới được rước người về phủ. Từ tờ mờ sáng, cả ngõ đã giăng đèn kết hoa, đỏ rực từ đầu đến cuối. Trước cổng tiệm Ngôn Ký, hai bên tấm biển "Thiên Hạ Đệ Nhất Bánh" treo hai chiếc đèn lồng lớn, dán chữ Hỷ vàng chói.
Đàn trai bên Tiểu Ngôn đã đứng chờ sẵn thành hàng ngang. Đó là một đội hình khá... đặc biệt.
Đứng chính giữa là ông Tư Lửa, hôm nay ông mặc áo dài màu xanh thẫm mới toanh, râu tóc chải gọn gàng, tay vẫn cầm gậy sắt, dáng vẻ oai phong như một vị lão tướng, đảm nhận vai người cha đưa con đi lấy chồng. Bên phải ông là bác Thiết, thợ rèn đầu ngõ, cao to vạm vỡ, hai cánh tay như hai khúc gỗ, mặt mũi đỏ gay vì phấn khích, tay xách một cái búa nhỏ. Bên trái là lão Vương, chủ tiệm lụa đã lấy lại được cửa hàng, tay áo còn lau nước mắt, hôm nay đích thân may hỷ phục cho Tiểu Ngôn. Cạnh đó là cậu Hà, thư sinh nghèo ở cuối ngõ, mặt trắng như con gái, ôm chồng sách và một cuốn thơ chúc mừng, run run vì lo lắng. Bà Ba Cải, dĩ nhiên, là người chỉ huy tối cao, mặc áo gấm đỏ thẫm, đầu cài hoa mẫu đơn, tay cầm chiếc quạt nan to bằng cái nia.
Khi tiếng kèn trống vang lên từ đầu ngõ, bà Ba Cải hắng giọng, phe phẩy quạt: "Chuẩn bị! Đến rồi!"
Đoàn rước dâu của phủ Trấn Quốc Công tiến vào ngõ Hàng Bột, chật kín cả con phố. Đi đầu là đội kèn trống, tiếp theo là hai mươi kỵ binh giáp bạc, cờ hiệu bay phần phật, rồi đến chiếc kiệu tám người khiêng phủ lụa đỏ thêu long phụng, và cuối cùng, cưỡi trên con ngựa đen bờm chải bóng mượt, chính là chú rể.
Lăng Cảnh Uyên hôm nay mặc hỷ phục đỏ thẫm thêu chỉ vàng, trên ngực đeo bông hoa lụa đỏ lớn, mái tóc búi cao cài trâm ngọc, không còn vẻ lạnh lùng của Diêm Vương sống, mà tuấn mỹ như thần tiên hạ phàm. Dưới ánh nắng, cái vết sẹo trắng mảnh dưới cằm y trở thành nét duy nhất còn nhắc nhớ về người chiến thần ngày nào. Cả ngõ Hàng Bột hít vào một hơi, các cô gái đứng trên bậc cửa suýt ngất xỉu.
Phía sau y, bốn thanh niên cưỡi ngựa theo hàng, chính là đàn trai bên Cảnh Uyên. Và Tiểu Ngôn, đang lén nhìn qua khe cửa sổ tầng hai, chợt quên cả thở.
Người đầu tiên là Tần Phong. Hôm nay anh ta mặc áo đỏ sẫm, khuôn mặt vẫn cứng như tượng gỗ, nhưng nhìn kỹ mới thấy ngũ quan rất đẹp, sống mũi cao, cằm vuông, đôi mắt đen nghiêm nghị, trông như một bức tượng thần hộ pháp.
Người thứ hai là Bùi Nhất Lang, tiên phong tướng quân, bạn chiến hữu nhiều năm của Cảnh Uyên. Y trạc hai mươi lăm, khuôn mặt sáng như trăng rằm, đôi mắt hoa đào cong cong, khi cười lộ hàm răng trắng đều, cả người toát ra vẻ ấm áp như ánh nắng tháng ba. Vừa ngồi trên lưng ngựa, y vừa vẫy tay chào các cô gái trên bậc cửa, khiến tiếng thét vang lên lảnh lót.
Người thứ ba là Mộ Tĩnh Chi, quân sư của Trấn Quốc quân. Y mặc trường bào xanh nhạt điểm hoa văn trúc, tóc buộc lỏng bằng dải lụa trắng, tay cầm chiếc quạt xếp bạch ngọc, phong thái nho nhã, thanh tao như một cành trúc đón gió. Khi y khẽ mỉm cười, cả con ngõ như bỗng dưng thoảng mùi hương lan.
Người thứ tư là Sở Hạo Vũ, tướng trẻ nhất quân doanh, hai mươi hai tuổi, thân hình cao lớn rắn chắc, vai rộng eo thon, làn da nâu khỏe khoắn, nụ cười sảng khoái, vừa cưỡi ngựa vừa vác một cây trường thương buộc lụa đỏ, oai phong lẫm liệt.
Tiểu Ngôn ghé sát cửa sổ, đôi mắt sáng rực như hai ngọn đèn: "Trời ơi... phù rể nhà chàng... ai cũng đẹp như tranh vẽ..."
"Meo," Bột Bột ngồi trên bậu cửa, liếc cậu một cái đầy cảnh giác.
"Nhìn, nhìn cái gì mà nhìn. Ta chỉ ngắm thôi mà."
Dưới sân, cuộc "chặn cửa" đã bắt đầu.
"Dừng lại!" Bà Ba Cải chống nạnh đứng chắn giữa ngõ, quạt nan phe phẩy. "Muốn rước Ngôn nhi nhà ta, phải qua ba cửa ải! Không qua, đừng hòng bước chân vào cổng!"
Lăng Cảnh Uyên xuống ngựa, chắp tay hành lễ, giọng trầm và nghiêm túc: "Xin bà cứ ra đề."
"Cửa thứ nhất!" Bà Ba Cải hô lớn. "Thử tay nghề! Ngôn nhi nhà ta là chủ tiệm bánh đệ nhất thiên hạ, chú rể phải làm được một chiếc bánh ra hồn, trong thời gian một nén nhang!"
Cả đàn trai bên Cảnh Uyên đồng loạt cứng người.
Tần Phong hoảng hốt thì thầm: "Thế tử, ngài từng nhầm muối với đường..."
"Ta biết." Lăng Cảnh Uyên bình thản đáp, xắn tay áo, bước đến chiếc thớt đã bày sẵn giữa ngõ.
Cả ngõ nín thở nhìn y nhào bột. Động tác lần này đã khác hẳn buổi chiều mưa hôm ấy. Bàn tay từng cầm kiếm giờ nhẹ nhàng ấn, gập, đẩy, xoay, đều đặn và chắc chắn. Y nhồi nhân đậu xanh, gói bột, nặn hình bông hoa, nhẹ nhàng đặt vào xửng hấp mà ông Tư Lửa đã chuẩn bị sẵn. Nén nhang cháy được một nửa thì hương bánh bắt đầu lan tỏa.
Khi xửng bánh được mở ra, mười hai chiếc bánh hình hoa đào trắng hồng, tròn trịa xinh xắn, đặt ngay ngắn trên đĩa sứ.
Bà Ba Cải nhón một cái, cắn thử, mắt trợn tròn. Bà nhai chậm rãi, nuốt xuống, im lặng một lúc, rồi quay sang nhìn ông Tư Lửa.
Ông Tư Lửa cũng nhón một cái. Ông nhắm mắt, gật gù, rồi giơ hai ngón cái lên trời.
"Qua!" Bà Ba Cải hô lớn, giọng nghẹn lại. "Mấy tháng qua ngươi học lén ở bếp, tưởng bà không biết sao? Cửa thứ hai!"
Cửa thứ hai là thử thách của bác Thiết thợ rèn: Đàn trai bên Cảnh Uyên phải thắng trong một cuộc vật tay. Sở Hạo Vũ hào hứng xông lên, nhưng thua ngay ván đầu tiên vì bác Thiết mạnh như trâu. Đến lượt Tần Phong, mặt vẫn cứng đờ, hai bên giằng co suốt nửa nén nhang, cuối cùng Tần Phong thắng nửa ngón tay, bác Thiết cười ha hả, vỗ vai anh ta đau điếng.
Cửa thứ ba là thử thách của cậu Hà và lão Vương: làm một bài thơ chúc phúc. Mộ Tĩnh Chi phe phẩy quạt bước ra, ngâm một bài thơ tứ tuyệt trôi chảy như nước, khiến cậu Hà đỏ mặt gật gù, còn lão Vương thì khóc nức nở vì cảm động.
Cuối cùng, bà Ba Cải lau nước mắt, xòe hai tay ra: "Cửa ải đã qua, nhưng còn một thứ nữa. Bao lì xì!"
Cả đàn trai bên Cảnh Uyên đồng loạt móc túi, hàng trăm bao lì xì đỏ chói bay ra như mưa. Bà Ba Cải ôm được một đống, cười tít cả mắt.
Cánh cổng tiệm Ngôn Ký mở ra.
Tiểu Ngôn bước ra từ trong bóng tối của gian nhà, mặc hỷ phục đỏ tươi thêu hoa mẫu đơn vàng, cổ áo viền lông trắng, thắt lưng ngọc bích, tóc dài búi gọn đội mũ ngọc, hai má được thoa chút phấn hồng, đôi mắt hạnh long lanh như chứa cả bầu trời. Cái lúm đồng tiền trên má ẩn hiện, đáng yêu đến mức mấy cô gái ngoài ngõ đồng loạt "ôi" lên một tiếng.
Lăng Cảnh Uyên đứng chôn chân tại chỗ.
Y đã tưởng tượng cảnh này rất nhiều lần, nhưng không lần nào giống thực tế. Người trước mặt nhỏ nhắn, rực rỡ, ánh mắt sáng ngời đang nhìn y, như bông hoa đào đầu tiên nở trong ngày xuân.
"Uyên ca," Tiểu Ngôn cất tiếng, giọng hơi run, nhưng nụ cười lại rạng ngời. "Chàng đến rước em rồi."
Lăng Cảnh Uyên nghe tiếng "em" ấy, lồng ngực bỗng nóng lên. Trước giờ Tiểu Ngôn vẫn xưng "ta" gọi "ngài", chưa bao giờ gọi y thân mật như thế. Y bước tới, cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cậu, giọng trầm khàn:
"Ngôn nhi."
"Dạ?"
"Hôm nay em đẹp lắm."
Tiểu Ngôn đỏ mặt, cúi đầu, ngón tay siết nhẹ tay y.
---
Rước dâu về phủ, đoàn người đi qua các con phố đông nghịt, hai bên đường người chen chân xem. Trên đường đi, Tiểu Ngôn ngồi trong kiệu, vén rèm nhìn ra ngoài, bỗng thấy đoàn phù rể đi song song ngay bên cạnh, Bùi Nhất Lang thấy cậu nhìn, liền nháy mắt, cười tươi rói: "Tẩu tử hôm nay xinh quá!"
"Cảm ơn Bùi tướng quân..." Tiểu Ngôn ngượng, nhưng vẫn không nhịn được ngắm nghía nụ cười ấm áp kia.
Ngay sau đó, Mộ Tĩnh Chi cũng nghiêng người, cúi đầu chào, chiếc quạt bạch ngọc khẽ đưa: "Chúc mừng Thế tử phu nhân."
"Đa... đa tạ Mộ tiên sinh..." Tiểu Ngôn nhìn dáng vẻ thanh nhã như trúc ấy, tim bất giác đập nhanh, mắt cứ dán vào chiếc quạt bạch ngọc, rồi lại chuyển sang cánh tay rắn chắc của Sở Hạo Vũ đang vác thương, rồi lại sang gương mặt nghiêm nghị của Tần Phong. Cậu vừa nhìn vừa lẩm bẩm: "Trời ơi, đẹp quá, đẹp quá đi mất... sao chàng lại quen được nhiều người đẹp thế..."
Bỗng có một bàn tay to lớn thò vào kiệu, che ngang tầm mắt cậu.
"Ngôn nhi."
Giọng trầm thấp, dịu dàng, nhưng có gì đó nguy hiểm đang ẩn trong từng chữ. Tiểu Ngôn giật mình ngẩng lên, thấy Lăng Cảnh Uyên đã cưỡi ngựa sát bên kiệu tự bao giờ, cúi đầu nhìn cậu, gương mặt tuấn mỹ vẫn giữ nét bình thản, nhưng đôi mắt đen sâu thẳm đã tối đi vài phần.
"D... dạ?"
"Em đang nhìn ai?"
"Em... em nhìn... nhìn đường!"
"Đường ở phía trước." Lăng Cảnh Uyên nhẹ nhàng nói. "Phù rể của ta ở phía bên phải."
Tiểu Ngôn tái mặt, lắp bắp: "Em chỉ... chỉ ngắm một chút thôi mà! Bùi tướng quân cười đẹp như... như nắng, Mộ tiên sinh thì như trúc, còn Sở tướng quân..."
"Em còn nhớ tên hết?" Lăng Cảnh Uyên nhướng mày.
"Ơ... không, không..."
"Ngôn nhi." Y cúi thấp hơn nữa, môi kề sát tai cậu, giọng thấp đến nỗi chỉ có hai người nghe thấy. "Hôm nay là ngày cưới của chúng ta. Nếu em còn nhìn thêm một lần nữa..."
Y ngừng lại, hơi thở nóng phả vào vành tai cậu.
"...đêm nay, ta sẽ phạt."
Tiểu Ngôn đỏ bừng mặt, nóng đến tận cổ, hai tay bịt tai lại, lắp bắp: "Phạt... phạt gì cơ?"
Lăng Cảnh Uyên không trả lời. Y chỉ đưa tay xoa nhẹ mái tóc cậu, khóe môi nhếch lên một nụ cười ẩn ý, rồi thúc ngựa lên phía trước. Sau lưng y, Bùi Nhất Lang, người từng nghe hết cuộc trò chuyện, đang cười đến rung cả vai, còn Mộ Tĩnh Chi chậm rãi mở quạt, che nửa gương mặt, đôi mắt cong cong đầy vẻ thú vị. Tần Phong thì mặt vẫn đơ như tượng gỗ, nhưng tai đã đỏ lên tận gốc.
Từ đó đến hết đường, Tiểu Ngôn ngồi thẳng lưng trong kiệu, hai mắt nhìn chằm chằm vào màn rèm, không dám liếc trái liếc phải một lần nào nữa. Nhưng đầu óc cậu thì không sao yên được: *Phạt gì? Chàng sẽ phạt gì?*
---
Sảnh chính của phủ Trấn Quốc Công hôm nay đã biến thành một biển đỏ.
Đèn lồng lụa treo kín các xà nhà, cột trụ quấn lụa hồng, trên tường dán hàng chục chữ Hỷ khổng lồ, sàn nhà trải thảm nhung đỏ thêu long phụng. Ở giữa sảnh đặt một bàn thờ trời đất, nến long phụng cháy sáng, hương trầm nghi ngút. Hai bên là hàng trăm bàn tiệc kê san sát, khách khứa ngồi kín, từ các quan lớn trong triều, tướng lĩnh quân doanh, cho đến bà con hàng xóm ngõ Hàng Bột được mời đặc biệt ngồi bàn đầu. Thái giám cung đình cũng có mặt, mang theo ngự tứ của hoàng thượng.
Trên cao đường, ghế chủ vị đặt hai chiếc. Lão thái quân ngồi bên phải, áo gấm đỏ tía, trượng rồng dựng đứng, nét mặt trang nghiêm nhưng đôi mắt long lanh. Bên trái, theo lời đề nghị đặc biệt của bà, ông Tư Lửa ngồi thay cho cha của Tiểu Ngôn. Ông mặc áo xanh thẫm, lưng thẳng tắp, bàn tay già nua run run đặt trên đầu gối. Trước mặt ông có một bài vị nhỏ khắc tên cha mẹ Diệp Thanh Ngôn, đặt cạnh nén hương đang cháy.
Còn ở góc sảnh, giữa các quan khách, còn có một bức thư niêm phong từ biên ải, do Trấn Quốc Công gửi về, chờ được đọc trước mặt cả nhà.
"Giờ lành đã đến!" Phúc bá đứng giữa sảnh, giọng vang như chuông. "Cử hành đại lễ!"
Tiếng nhạc nổi lên, nhịp trống trang nghiêm. Lăng Cảnh Uyên và Tiểu Ngôn cùng bước vào từ cửa sảnh, hai người mặc hỷ phục đỏ thẫm đôi, tay nắm sợi dây lụa đỏ, mỗi người giữ một đầu. Từng bước đi qua hai hàng khách khứa, ánh mắt hàng trăm người dõi theo, có người xúc động, có người ngưỡng mộ, có người lau nước mắt.
Đến chính giữa sảnh, hai người dừng lại, đứng song song.
"Nhất bái thiên địa!"
Hai người cùng quay ra cửa lớn, cúi lạy. Nắng ngoài trời chiếu vào, chiếu lên hai bóng áo đỏ song hành.
"Nhị bái cao đường!"
Hai người quay lại, đối diện Lão thái quân và ông Tư Lửa. Tiểu Ngôn quỳ xuống, trán chạm đất, rồi ngẩng lên, nhìn thấy đôi mắt già nua đỏ hoe của ông Tư Lửa, nhìn thấy bài vị của cha mẹ, cổ họng nghẹn lại, nước mắt lăn dài trên má.
"Cha, mẹ..." Cậu thì thầm, giọng nhỏ như gió. "Con lấy chồng rồi. Người ấy rất tốt với con. Cha mẹ yên tâm..."
Ông Tư Lửa, người xưa nay chưa từng nói một lời, đột nhiên mở miệng, giọng khàn đục như gỗ mục nhưng vô cùng rõ ràng:
"Tiểu Ngôn... ngoan..."
Cả sảnh lặng đi. Bà Ba Cải bịt miệng khóc nấc. Lão thái quân quay đi lau nước mắt. Chính Lăng Cảnh Uyên, kẻ chưa từng rơi lệ trên chiến trường, cũng phải nhắm mắt lại thật lâu.
"Ông..." Tiểu Ngôn ngẩng đầu, sững sờ. "Ông nói được sao?"
Ông Tư Lửa mỉm cười, đôi mắt già nua ngập nước: "Ta... chờ ngày này... mười bảy năm rồi..."
Hóa ra suốt bao năm, ông không phải không thể nói. Chỉ là từ ngày vợ chồng chủ tiệm Ngôn Ký qua đời, ông đã lặng lẽ thề rằng chỉ khi nào chứng kiến đứa nhỏ ấy có được hạnh phúc trọn vẹn, ông mới mở lời. Nay lời thề đã trọn.
Tiểu Ngôn òa khóc, cúi đầu bái thêm ba lạy. Lăng Cảnh Uyên cũng quỳ xuống bên cạnh, dập đầu thật sâu trước ông, giọng trầm nghiêm trang: "Xin ông yên tâm. Cả đời này, con sẽ không để Ngôn nhi chịu một chút ấm ức nào."
Ông Tư Lửa khẽ gật đầu, vươn bàn tay chai sần vỗ lên vai y, thật lâu.
"Phu thê giao bái!"
Hai người quay mặt vào nhau. Ánh mắt chạm nhau, dưới muôn vàn ánh nến, giữa hàng trăm người chứng kiến. Tiểu Ngôn mắt còn đẫm nước, nhưng cười, cái lúm đồng tiền sâu hoắm. Lăng Cảnh Uyên nhìn cậu, đôi mắt dịu dàng đến mức có thể làm tan chảy cả băng tuyết.
Họ cùng cúi xuống, trán chạm trán.
"Lễ thành!"
Tiếng trống rền vang, pháo nổ đì đùng ngoài sân, tiếng reo hò vang dội khắp sảnh. Khách khứa vỗ tay, giấy hoa đào rắc đầy trời. Bột Bột ngồi trên xà nhà, đeo một chiếc nơ đỏ nhỏ xíu, "meo" lên một tiếng dài rất chi là long trọng.
Viên thái giám cung đình bước lên, mở cuộn thánh chỉ, giọng lanh lảnh: "Hoàng thượng chỉ dụ! Ban cho Trấn Quốc Thế tử Lăng Cảnh Uyên và phu nhân Diệp thị, bách niên giai lão, tình duyên mỹ mãn! Ban thưởng hoàng kim ngàn lượng, ngọc như ý một đôi!"
"Tạ ơn bệ hạ!"
Sau đó là bức thư của Trấn Quốc Công từ biên ải, do Phúc bá run run đọc: *Con trai ta, nghe tin con cuối cùng đã tìm được người khiến con biết cười, cha rất mừng. Cha không về kịp, nhưng gửi kèm bảo kiếm gia truyền, con hãy trao lại cho Ngôn nhi. Từ nay, nó là con dâu nhà họ Lăng. Nếu con dám để nó chịu thiệt, cha sẽ tự mình từ biên ải về đánh gãy chân con.*
Cả sảnh cười ồ. Lăng Cảnh Uyên khẽ ho, tai đỏ ửng.
---
Tiệc cưới kéo dài suốt ba ngày ba đêm, đúng như lời Lão thái quân tuyên bố.
Ngày đầu tiên, khách khứa ăn uống thỏa thích. Trên hàng trăm bàn tiệc bày đầy sơn hào hải vị, và ở giữa mỗi bàn là một đĩa bánh Ngôn Ký, được ngợi khen hết lời. Các quan lớn cạn chén chúc mừng, các bà mệnh phụ tranh nhau xin công thức. Phúc bá cầm sổ ghi chép, mỗi lần có khách đến thì lại ghi, ghi đến kín cả bảy quyển sổ.
Tần Phong uống quá chén, mặt đỏ gay, ôm cổ Sở Hạo Vũ khóc lóc: "Ta... ta suýt làm mất Diệp công tử... ta có lỗi với Thế tử..." Sở Hạo Vũ vỗ lưng anh ta, cười ha hả: "Không sao, không sao! Ta hiểu, ta hiểu!" Bùi Nhất Lang thì chạy khắp nơi ép người ta uống rượu, bị Mộ Tĩnh Chi cầm quạt gõ vào đầu. Bác Thiết thợ rèn và lão Vương ngồi chung một bàn, nâng ly chúc nhau đến khi cả hai đều gục xuống. Cậu Hà thì ngâm thơ cả đêm, ngâm đến khi Bà Ba Cải phải nhét bánh vào miệng cậu để cậu ngừng.
Lão thái quân nâng chén rượu ngồi ở chủ vị, mắt nhìn hai người trẻ ngồi cạnh nhau, tay đan chặt dưới bàn, thỉnh thoảng lại lén nhìn nhau rồi cười, cả ngày không buông nhau ra. Bà nhấp một ngụm, khẽ thì thầm với Phúc bá: "Lão Phúc à, đời này ta đã thấy đủ rồi."
Phúc bá nghẹn ngào gật đầu: "Vâng, vâng... đủ rồi ạ."
---
Đêm tân hôn, khi tiếng nhạc và tiếng cười ở tiền sảnh đã lắng xuống, khi ngọn đèn lồng cuối cùng trên hành lang được thổi tắt, hỷ phòng nằm sâu trong hậu viện phủ Trấn Quốc Công chỉ còn lại ánh nến long phụng lay động.
Căn phòng được trang hoàng kín một màu đỏ ấm áp. Màn lụa đỏ thêu uyên ương rủ xuống quanh chiếc giường gỗ hoàng hoa lê rộng lớn, chăn nệm đỏ tươi, gối thêu hoa mẫu đơn, trên bàn bày hai chén rượu giao bôi, một đĩa đậu phộng, hạt sen, táo đỏ, long nhãn, nghĩa là "sớm sinh quý tử", dù chẳng ai cần điều đó. Ngoài cửa sổ, ánh trăng rằm lấp lánh chiếu vào, trải một dải bạc lên sàn.
Tiểu Ngôn ngồi thẳng lưng bên mép giường, hai tay đặt trên đầu gối, mặt đỏ đến tận mang tai, không dám ngẩng đầu. Bộ hỷ phục cồng kềnh đã cởi bớt, chỉ còn lớp áo lót đỏ mỏng bên trong. Trong lòng cậu, tim đập loạn như trống hội.
Cánh cửa khẽ mở, đóng lại. Tiếng bước chân quen thuộc vang lên chậm rãi, đến gần.
"Ngôn nhi."
"D... dạ."
Lăng Cảnh Uyên ngồi xuống bên cạnh cậu. Y cũng đã thay áo, chỉ còn áo lót đỏ thẫm, mái tóc dài xõa nhẹ trên vai, gương mặt tuấn tú phảng phất men rượu nhưng đôi mắt lại vô cùng tỉnh táo. Y cầm hai chén rượu giao bôi, đưa một chén cho cậu.
"Uống."
Tiểu Ngôn run run nhận lấy chén, hai cánh tay hai người vòng qua nhau, rượu nồng cay chạm môi, chảy xuống cổ họng, ấm nóng đến tận lồng ngực. Cậu ho khẽ vì cay, Lăng Cảnh Uyên bật cười, đưa tay vuốt lưng cậu.
"Không quen uống?"
"Không..." Cậu lí nhí. "Chỉ uống nước trà thôi."
"Vậy sau này ở nhà, ta chỉ pha trà cho em."
Y đặt chén rượu xuống, lặng lẽ nhìn cậu một lúc. Ánh nến hắt lên khuôn mặt tròn trịa đỏ hồng, lên hàng mi cong run nhẹ, lên môi hơi ướt vì rượu. Y đưa tay ra, nâng cằm cậu lên, buộc cậu nhìn vào mắt mình.
"Em sợ sao?"
"Không... không sợ." Tiểu Ngôn cắn môi, hai tay nắm chặt vạt áo. "Chỉ là... em hồi hộp thôi."
"Ta cũng thế."
Cậu ngẩng đầu lên, ngạc nhiên: "Chàng cũng hồi hộp?"
"Ừ." Khóe môi Lăng Cảnh Uyên cong lên. "Ba năm trước, giữa vòng vây hàng vạn quân địch, ta không hề run. Nhưng lúc này, tay ta run thật."
Y nắm lấy tay cậu, đặt lên ngực trái mình. Dưới lớp áo mỏng, Tiểu Ngôn cảm nhận rõ ràng một nhịp đập dồn dập, mạnh mẽ, nhanh như chiến mã phi nước đại. Cậu bỗng thấy mình chẳng còn sợ nữa. Cậu bật cười khúc khích, lúm đồng tiền hiện ra, rồi nhẹ nhàng ngả đầu vào vai y.
"Vậy thì cả hai cùng hồi hộp."
"Ừ, cả hai."
Ánh mắt hai người chạm nhau, rồi Lăng Cảnh Uyên cúi xuống, đặt lên môi cậu một nụ hôn. Không còn là cái chạm nhẹ như cánh hoa trên đồi đào, mà là một nụ hôn dài, sâu, chan chứa tất cả nỗi nhớ nhung chờ đợi. Tiểu Ngôn nhắm mắt, hai tay vòng lên cổ y, cảm nhận hơi ấm đang lan tỏa khắp cơ thể.
"Uyên ca..." Cậu thì thầm khi được buông ra, hơi thở gấp gáp.
"Phải gọi là gì?" Y áp trán vào trán cậu, giọng trầm khàn.
Tiểu Ngôn đỏ mặt, ngập ngừng một hồi, cuối cùng lí nhí:
"Phu... phu quân."
Hai chữ ấy như một mồi lửa. Lăng Cảnh Uyên khẽ hít vào, đôi mắt đen sâu thẳm tối lại, dịu dàng mà nồng nàn. Y đưa tay kéo chiếc màn lụa đỏ xuống, ngăn cách hai người khỏi cả thế giới.
Ngoài cửa sổ, ánh trăng tròn vành vạnh nhìn xuống hậu viện yên tĩnh. Trong lồng đèn long phụng, hai ngọn nến đỏ cháy song song, ngọn này soi ngọn kia, mỗi lúc một quyện vào nhau, ánh lửa lay động như nhịp đập của hai trái tim. Sau lớp màn lụa, chỉ còn nghe những tiếng thì thầm nho nhỏ, những tiếng cười khẽ, tiếng gọi tên nhau đứt quãng, "Ngôn nhi", "phu quân", quyện với hơi thở, với nhịp tim, với đêm xuân dịu dàng.
Bột Bột, vốn định nhảy vào phòng tìm chỗ ngủ, vừa đến cửa đã bị Tần Phong nhanh tay bế lên, mang đi thật xa. Nó "meo" phản đối một tiếng, nhưng Tần Phong chỉ nghiêm mặt nói: "Đêm nay, ngươi đừng làm phiền."
Đêm ấy, nến long phụng cháy mãi đến tận canh năm mới lụi.
---
Sáng hôm sau, ánh nắng len qua khe cửa sổ, rọi lên chiếc giường lụa đỏ.
Tiểu Ngôn tỉnh dậy trong vòng tay ấm áp. Cậu chớp mắt nhiều lần, ngơ ngác nhìn trần màn thêu uyên ương, rồi ký ức tối qua ùa về khiến mặt cậu đỏ bừng như quả gấc chín. Cậu đang định lén chui vào chăn thì một giọng nói trầm khàn vang lên bên tai:
"Tỉnh rồi?"
Lăng Cảnh Uyên nằm bên cạnh, một tay chống đầu, tay kia vẫn ôm eo cậu, mái tóc xõa rối, khuôn mặt tuấn tú nhuốm vẻ lười biếng thỏa mãn mà chưa từng có ai được thấy. Y nhìn cậu chằm chằm, ánh mắt dịu dàng đến mức khiến tim cậu mềm nhũn.
"Uyên... phu quân..." Cậu lí nhí, kéo chăn che nửa mặt. "Đừng nhìn em như thế..."
"Không được nhìn?"
"Xấu hổ lắm..."
"Nương tử của ta xinh đẹp thế này, sao lại không được nhìn?" Y cười khẽ, đưa tay vén một lọn tóc rối trên trán cậu, rồi chợt khựng lại.
Ánh mắt y dừng ở cổ cậu.
Trên chiếc cổ trắng nõn, chỗ sát dưới quai hàm bên trái, có một dấu răng nhỏ, đỏ thẫm, còn hằn rõ từng đường cắn, như một con dấu tình yêu đóng lên mảnh giấy trắng.
Lăng Cảnh Uyên im lặng mấy giây. Rồi y ho một tiếng thật khẽ, hơi quay mặt đi, nhưng khóe môi đã không giấu nổi nụ cười. Tai y đỏ lựng.
"Sao... sao thế?" Tiểu Ngôn ngơ ngác, đưa tay sờ cổ, rồi giật mình: "Á! Đây là cái gì?! Chàng... chàng cắn em?!"
"Ta..." Lăng Cảnh Uyên nghiêm mặt, giọng hơi ngập ngừng. "Ta không cố ý. Lúc đó... ta hơi mất kiểm soát."
"Chàng là chó hả?!" Tiểu Ngôn hét lên, hai tay ôm cổ, mặt đỏ đến tận chân tóc. "Sao lại cắn ở chỗ dễ thấy thế này! Lát nữa còn phải ra ăn sáng với Lão thái quân! Với cả Phúc bá! Với cả Tần đại ca! Với cả... mọi người sẽ nhìn thấy hết!"
"Ta xin lỗi." Lăng Cảnh Uyên nói vậy, nhưng nụ cười lại càng rõ hơn. Y cúi xuống, hôn nhẹ lên dấu răng, ngón tay dịu dàng vuốt ve. "Nhưng mà... ta không hối hận."
"Chàng!" Tiểu Ngôn nắm gối ném vào mặt y. "Chàng còn dám nói!"
Lăng Cảnh Uyên đón lấy chiếc gối, cười thành tiếng, trầm ấm và hạnh phúc, rồi kéo cậu vào lòng, hôn lên tóc. "Được rồi, được rồi. Để ta tìm khăn quàng cho em."
Nửa canh giờ sau, khi cả hai bước vào Noãn Các ăn sáng, Tiểu Ngôn quấn một chiếc khăn lụa màu hồng đào kín cổ, đi đứng khập khiễng, mặt đỏ hơn cả áo cưới. Lão thái quân ngồi ở chủ vị, mặc áo gấm tím, tay cầm chén trà, nhìn hai người từ đầu đến chân, rồi lặng lẽ nhìn chiếc khăn quàng giữa tiết trời tháng ba ấm áp.
Bà nhấp một ngụm trà, khóe mắt cong lên thành những nếp nhăn cười đầy ẩn ý.
"Ngôn nhi này," bà chậm rãi hỏi, "trời nóng thế này mà con quàng khăn, có bị lạnh cổ à?"
"D... dạ... dạ, hơi... hơi lạnh ạ!" Tiểu Ngôn lắp bắp.
"Vậy sao?" Lão thái quân gật gù, quay sang Phúc bá đang đứng bên với cuốn sổ. "Lão Phúc, ghi lại: ngày thứ nhất sau hôn lễ, Ngôn nhi bị lạnh cổ. Nhớ dặn phòng bếp nấu canh gừng, à không, canh bổ, cho nó ăn thật nhiều."
"Lão ghi rồi ạ." Phúc bá nghiêm nghị đáp, bút chạy lướt trên giấy, nhưng đôi vai đã rung lên bần bật.
Tần Phong đứng cạnh cửa, nhìn trần nhà. Bột Bột ngồi trên bậu cửa sổ, đeo chiếc nơ đỏ, liếm chân, nhìn Tiểu Ngôn bằng đôi mắt vàng ươm đầy thâm ý.
Còn Lăng Cảnh Uyên ngồi bên cạnh cậu, mặt vẫn lạnh nhạt, nhưng dưới bàn, bàn tay y đã lặng lẽ nắm lấy tay cậu, siết nhẹ. Tiểu Ngôn liếc y một cái đầy trách móc, nhưng rồi không nhịn được, bật cười.
Gió xuân thổi qua Noãn Các, mang theo hương hoa đào cuối mùa, hương bánh mới nướng, và tiếng cười của những người đã tìm thấy nhau.