Cưng Chiều Chủ Tiệm Bánh 3 (Cuối)
Tác giả: Huyền Cẩn
BL;Cổ đại
Nếu có ai hỏi Phúc bá rằng, trong ba đời chủ nhân mà ông hầu hạ, điều gì khiến ông ngạc nhiên nhất, thì ông sẽ đặt bút xuống, thở dài một hơi thật sâu, rồi nói: "Là chuyện Thế phu nhân của phủ Trấn Quốc Công đã đổi tính chỉ trong vòng một tháng."
Thật vậy, chỉ một tháng sau hôn lễ, cậu bé Diệp Thanh Ngôn ngoan ngoãn, chăm chỉ, dậy sớm hơn gà, nhóm lò trước cả ông Tư Lửa, đã biến mất không dấu vết. Thay vào đó là một Ngôn nhi hoàn toàn khác: ngủ nướng đến giờ Tỵ, đi chân trần khắp hành lang, ăn bánh xong không chịu lau miệng, và luôn có một lý do hết sức chính đáng để không muốn làm bất cứ chuyện gì.
Cuốn sổ của Phúc bá ghi lại tất cả:
*Ngày thứ chín sau hôn lễ: Thế phu nhân dậy giờ Thìn ba khắc, than buồn ngủ. Thế tử tự tay rửa mặt.*
*Ngày thứ mười hai: Thế phu nhân dậy giờ Tỵ. Thế tử tự tay đi giày.*
*Ngày thứ mười sáu: Thế phu nhân không muốn đi bộ ra Noãn Các, bảo chân mỏi. Thế tử bế đi, không hề chần chừ.*
*Ngày thứ hai mươi: Lão nô quyết định thôi không ghi thêm nữa. Vì ghi mãi cũng đều một chuyện.*
Nhưng ông vẫn ghi.
---
Sáng hôm ấy, ánh nắng đã lên cao ba sào, chiếu qua song cửa sổ hoa lê, rọi lên chiếc giường gỗ rộng thênh thang trong hỷ phòng vẫn còn treo màn lụa đỏ.
Tiểu Ngôn nằm sấp giữa đống gối, mái tóc rối như tổ chim, chăn gấm quấn quanh eo, hai chân thò ra ngoài ngọ nguậy. Cậu đã tỉnh từ nửa canh giờ trước, nhưng nhất quyết không chịu mở mắt, chỉ dụi mặt vào gối, thỉnh thoảng lại rên hừ hừ như một chú mèo con bị đánh thức.
"Ngôn nhi." Giọng nói trầm ấm vang lên bên giường.
"Không dậy." Tiểu Ngôn lầm bầm vào gối.
"Trưa rồi."
"Trưa thì trưa. Em mệt."
"Mệt vì sao?"
Tiểu Ngôn im lặng một giây, rồi ngẩng đầu lên, mắt vẫn nhắm nghiền, chu môi ra vẻ vô cùng ấm ức: "Vì chàng. Đêm qua chàng không cho em ngủ."
Lăng Cảnh Uyên đứng bên giường, đã chỉnh tề trong bộ trường bào lam nhạt, tay cầm một bát cháo bốc khói nghi ngút. Vành tai y thoáng ửng đỏ, nhưng mặt vẫn giữ nét bình thản: "Là em không chịu ngủ. Ta bảo em nghỉ sớm, em còn kể chuyện đến canh ba."
"Chuyện gì chàng cũng có lý." Tiểu Ngôn hừ một tiếng, lăn người sang bên kia, dùng chăn trùm kín đầu. "Em không dậy. Trừ khi..."
"Trừ khi?"
Chiếc chăn hé ra một khe nhỏ, lộ ra một con mắt hạnh long lanh cùng cái lúm đồng tiền đang lấp ló. Tiểu Ngôn nheo mắt, dùng giọng ngọt như đường phèn: "Trừ khi phu quân tự tay đút cháo cho em."
Gian phòng yên lặng chừng ba nhịp thở. Ngoài cửa, Tần Phong đang đứng canh, tai vểnh lên nghe ngóng, mặt cứng như đá nhưng vai đã bắt đầu run.
Lăng Cảnh Uyên nhìn cậu, thở dài một tiếng nhẹ như gió, rồi ngồi xuống mép giường, khuấy nhẹ bát cháo, múc một thìa, thổi cho nguội, đưa tới miệng cậu.
"Há miệng."
Tiểu Ngôn chui ra khỏi chăn, ngồi dậy với vẻ hài lòng, há miệng ăn, nhai chóp chép, mắt cong như trăng non. Ăn xong thìa thứ ba, cậu lại kêu: "Phu quân, cháo nóng."
"Ta đã thổi rồi."
"Thổi thêm."
Y thổi thêm. Tiểu Ngôn lại kêu: "Nhiều hành quá."
"Ta gắp ra."
"Ít muối."
"Để ta bảo bếp nấu lại."
"Thôi khỏi, ăn cũng được." Tiểu Ngôn cười khì khì, nhướng người hôn chụt lên má y một cái. "Phu quân tốt nhất trên đời."
Lăng Cảnh Uyên đứng hình một lúc. Rồi khóe môi y cong lên, ánh mắt mềm nhũn như nước, y đặt bát cháo xuống, đưa tay vuốt mái tóc rối của cậu: "Ngồi im, ta chải đầu cho."
Cảnh tượng ấy, Tần Phong đứng ngoài cửa nhìn qua khe hở, đã không dưới trăm lần. Người đàn ông đã từng một mình chém hàng chục quân địch, chỉ huy ba vạn đại quân, nay đang cẩn thận cầm lược ngà, chải từng lọn tóc cho người ngồi trước mặt như đang thực hiện một nghi lễ thần thánh. Còn người được chải, mặt mày hớn hở, hai chân đung đưa, miệng ngân nga một điệu hát chẳng thành câu.
"Tần đại ca!" Tiểu Ngôn bỗng nhìn thấy cái bóng ngoài cửa, gọi to. "Anh vào đây!"
Tần Phong cứng người, bước vào, chắp tay: "Thế phu nhân có gì sai bảo?"
"Hôm nay anh đưa em ra chợ Đông nhé? Em muốn ăn bánh tráng nướng."
"Việc này..." Tần Phong liếc nhìn Lăng Cảnh Uyên. Y đang chải tóc, mắt không hề ngước lên, chỉ nhàn nhạt buông một câu: "Đi đi. Mang thêm hai ám vệ."
"Rõ."
Khi Tần Phong lui ra, anh ta cúi đầu, khẽ thở dài. Dù đã quá quen với việc Thế tử chiều phu nhân, nhưng mỗi lần chứng kiến vẫn thấy hơi... đau tim.
---
Nhưng hư hỏng đâu chỉ dừng ở chuyện ngủ nướng.
Ngày thứ hai mươi hai, Tần Phong bị chơi khăm.
Chuyện xảy ra vào một buổi trưa nắng đẹp. Anh ta vốn có thói quen ngồi tựa cột hành lang nghỉ ngơi một lát giữa ca trực. Hôm ấy trời ấm, gió nhẹ, hương hoa hải đường thoang thoảng, anh ta ngồi đó, đầu ngả nhẹ, thiêm thiếp ngủ.
Khi tỉnh dậy, anh ta thấy các nha hoàn đi ngang qua đều cúi đầu nín cười, chạy đi thật nhanh. Anh ta khó hiểu, đưa tay lên sờ mặt, thấy dính dính. Đi tới cái ao sen, nhìn xuống mặt nước, anh ta đông cứng.
Trên gương mặt nghiêm nghị của Tần Phong, hai bên má mỗi bên vẽ ba sợi râu mèo dài ngoằn ngoèo bằng mực đen, trên trán còn có một chữ "Vương" to tướng, nét bút đậm nhòe. Ở chóp mũi, một chấm tròn xoe bôi mực đỏ.
"Ai..." Anh ta gằn giọng, mắt hằn lên tia sát khí. "Ai dám!"
"Meo."
Từ trên nóc hành lang, Bột Bột đang ngồi liếm chân, đuôi vắt vẻo, ánh mắt vô tội. Bên cạnh nó là một chiếc cọ lông thỏ còn dính mực.
Tần Phong nhìn chiếc cọ, nhìn Bột Bột, rồi quay sang một bụi hải đường gần đó. Sau bụi cây, một cái đầu tròn xoe vội vàng rụt xuống, nhưng chiếc áo lụa hồng đào lộ ra ngoài không sao giấu nổi.
"Thế phu nhân." Tần Phong nói, giọng đều đều.
"Không phải em!" Bụi cây đáp lại lập tức.
"Thế phu nhân, ngài đang ngồi ngay sau bụi hải đường."
"Em... em đang ngắm hoa!"
"Ngài đang cầm bút."
Bụi cây im lặng. Một lát sau, Tiểu Ngôn chậm chạp bước ra, mặt đỏ bừng, tay giấu sau lưng, cố nặn ra nụ cười ngây thơ nhất có thể: "Là... là Bột Bột làm đó! Em chỉ... chỉ đứng xem thôi!"
"Bột Bột không biết cầm bút."
"Thì... thì chắc nó có học lỏm ở đâu đó..."
Bùm.
Từ phía sau, một giọng trầm khàn bật cười thành tiếng. Lăng Cảnh Uyên đã đứng ở cuối hành lang từ lúc nào, tay còn cầm cuộn công văn, ánh mắt dừng trên khuôn mặt vằn vện của Tần Phong, rồi chuyển sang khuôn mặt đỏ bừng của Tiểu Ngôn, và y không thể nhịn được nữa. Y cười, thật sự cười, tiếng cười trầm ấm vang vọng khắp hành lang, kéo dài đến nỗi phải dựa lưng vào cột.
"Thế tử!" Tần Phong khổ sở.
"Xin... xin lỗi." Lăng Cảnh Uyên gạt nước mắt vì cười, hít sâu vài hơi, cố lấy lại vẻ nghiêm nghị, nhưng khóe môi vẫn giật giật. Y quay sang Tiểu Ngôn, giọng nhẹ như đang nói với đứa trẻ: "Ngôn nhi, không được nghịch Tần Phong."
"Nhưng mà anh ấy ngủ trông buồn cười lắm." Tiểu Ngôn cãi. "Miệng còn hé ra như cá vàng. Em thấy ngứa tay."
"Ngứa tay cũng không được."
"Vậy chàng phạt em đi." Cậu bỗng ngẩng cao đầu, ánh mắt long lanh, cười tinh quái. "Phạt như hôm đó chàng đã hứa."
Hai chữ "hôm đó" khiến Lăng Cảnh Uyên sặc một tiếng, tai đỏ như tôm luộc. Tần Phong vội quay mặt đi, giả vờ chăm chú nhìn con cá chép trong ao, dù thật ra tai anh ta cũng đang nóng ran.
"Ngươi..." Y hạ giọng, giận không nổi. "Ngươi đúng là..."
"Em đúng là gì?" Tiểu Ngôn chớp chớp mắt, tiến tới, kéo nhẹ tay áo y, rồi kiễng chân lên, thì thầm vào tai y một câu gì đó mà chỉ có hai người nghe thấy.
Lăng Cảnh Uyên đứng chết trân. Một lúc sau, y đưa tay che nửa mặt, giọng khàn khàn: "Tần Phong, hôm nay ngươi được nghỉ."
"Vâng!" Tần Phong đáp nhanh như chớp, quay người bỏ đi, mặt vẫn còn râu mèo nhưng bước chân nhẹ tênh như được ân xá.
---
Đến cả Lão thái quân cũng không thể làm ngơ trước sự thay đổi của cháu dâu.
Trưa hôm ấy, bà gọi Lăng Cảnh Uyên đến phòng riêng, mời y ngồi xuống, tự tay rót trà, nét mặt nghiêm nghị đến nỗi y tưởng có chuyện chính sự.
"Uyên nhi," bà mở lời, giọng chậm rãi, "con có để ý gần đây Ngôn nhi thay đổi không?"
"Cháu có để ý ạ."
"Ngày xưa nó ngoan biết bao nhiêu. Sáng sớm ra bếp làm bánh, chiều ra chợ bán hàng, tối về nhóm lò, chưa từng than một tiếng. Lúc bà gặp nó lần đầu, nó còn quỳ xuống lạy như tế sao." Bà đặt chén trà xuống. "Bây giờ thì sao? Ngủ đến giờ Tỵ, ăn cháo phải có người đút, đi ra Noãn Các phải có người bế. Hôm qua nó còn ném gối vào mặt Phúc bá vì lão ghi sổ."
Lăng Cảnh Uyên trầm mặc một lúc lâu, rồi nghiêm túc đáp: "Tổ mẫu, cháu biết cháu đã chiều em ấy quá."
"Vậy thì..."
"Nhưng cháu thích."
Lão thái quân sững người. Lăng Cảnh Uyên ngồi thẳng lưng, ánh mắt bình thản nhưng kiên định: "Em ấy mất cha mẹ từ mười ba tuổi, một mình gánh cả cái tiệm, ngày nào cũng nhào bột, gánh bánh, tính từng đồng. Suốt bảy năm chưa từng được ngủ nướng, chưa từng được làm nũng, chưa từng có ai dỗ dành. Bây giờ em ấy hư, em ấy nghịch, em ấy đòi đủ thứ, cháu lại thấy... vui."
Y ngừng lại một chút, giọng khẽ đi:
"Vì như vậy nghĩa là, cuối cùng em ấy đã cảm thấy an toàn."
Gian phòng lặng đi. Lão thái quân nhìn cháu trai một hồi lâu, đôi mắt tinh anh dần ướt. Rồi bà bật cười khe khẽ, lắc đầu, chậm rãi nhấp một ngụm trà.
"Ừ. Ta cũng nghĩ vậy." Bà gật gù. "Ta đã bảo con đừng chiều quá, nhưng mà... thật ra hôm qua ta cũng vừa cho nó thêm một trăm lượng vàng để mua hồ lô."
"Tổ mẫu!"
"Ta nói thật thôi." Lão thái quân nghiêm mặt. "Cháu dâu của ta, bà không chiều thì ai chiều?"
Ngoài cửa, Phúc bá đứng nghe từ đầu đến cuối, lặng lẽ mở sổ ra, ghi: *Hôm nay, Lão thái quân và Thế tử cùng nhất trí rằng, Ngôn nhi hư là do được chiều. Cả hai đều không định sửa.* Rồi ông cẩn thận gấp sổ lại, thở dài một hơi đầy mãn nguyện.
---
Tuy nhiên, đêm ấy, sự "hư hỏng" của Tiểu Ngôn đạt đến đỉnh điểm.
Canh ba đã điểm. Cả phủ Trấn Quốc Công chìm trong yên tĩnh, ngọn đèn cuối cùng đã tắt, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích ngoài vườn. Lăng Cảnh Uyên đang ngủ say, một tay ôm eo người bên cạnh, hơi thở đều đặn.
"Uyên ca."
Không có tiếng đáp.
"Phu quân."
Y nhíu mày khẽ, vẫn chưa tỉnh.
"Lăng Cảnh Uyên!"
Y bật mở mắt, ngồi dậy trong nháy mắt, tay quơ ngay lấy thanh kiếm đặt đầu giường, phản xạ của một người đã ngủ hàng năm trời giữa nơi tên đạn: "Có chuyện gì?"
Tiểu Ngôn ngồi xếp bằng giữa giường, mặc áo lót trắng, tóc rối tung, đôi mắt hạnh sáng rực trong bóng tối, hai tay ôm gối, vẻ mặt vô cùng nghiêm túc:
"Em muốn ăn kẹo hồ lô."
Lăng Cảnh Uyên nhìn cậu thật lâu, kiếm vẫn cầm trong tay. Bên ngoài trời tối đen như mực, tiếng canh ba vừa điểm xong. "Ngôn nhi... bây giờ đã là canh ba."
"Em biết."
"Các tiệm đã đóng cửa."
"Em biết."
"Vậy..."
"Nhưng mà em thèm." Tiểu Ngôn chu môi, giọng bỗng nhỏ xíu, mắt ươn ướt, cái lúm đồng tiền khẽ hiện ra. "Cái chua chua ngọt ngọt đó, giống hôm hội hoa đăng. Chàng không thương em nữa sao?"
Lăng Cảnh Uyên nhắm mắt, hít sâu một hơi. Y biết rõ đây là chiêu trò. Y biết rõ hơn ai hết rằng mỗi lần Tiểu Ngôn dùng cái giọng ấy, mọi nguyên tắc của y đều sụp đổ. Y đặt kiếm xuống, đứng dậy, khoác áo bào, lẩm bẩm: "Ngươi đúng là..."
"Yêu chàng nhất!" Tiểu Ngôn reo lên, hôn chụt một cái vào má y.
Nửa canh giờ sau, người dân phố Chu Tước, những kẻ thức khuya và những kẻ thức sớm, đều bị đánh thức bởi một cảnh tượng khó tin. Giữa màn đêm đen đặc, một con ngựa đen phóng như bay trên đường lát đá, trên lưng là một người áo bào đen bay phất phới, mặt lạnh như băng, đi từng nhà gõ cửa. Cánh cửa của một cửa tiệm kẹo bật mở, ông chủ tiệm già, mặc áo ngủ, mắt nhắm mắt mở, vừa nhìn thấy khuôn mặt trước mặt liền hét toáng lên: "Diêm... Diêm Vương sống!"
"Ta muốn mua kẹo hồ lô." Lăng Cảnh Uyên bình tĩnh nói.
"Kẹo... kẹo hồ lô?" Ông chủ tiệm run bần bật, đầu gối khuỵu xuống. "Thế tử... giờ này... giờ này..."
"Nếu không có, ta sẽ đi tiệm kế tiếp."
"Có! Có ạ! Tiểu nhân có! Tiểu nhân làm liền!"
Cuối cùng, ông chủ tiệm già cùng cả nhà vợ con thức dậy, nhóm bếp, nấu đường, xâu quả sơn tra trong đêm, hoàn thành hai mươi xâu kẹo hồ lô đỏ mọng, đường trong veo lấp lánh. Lăng Cảnh Uyên trả bằng một thỏi vàng, dặn: "Không cần thối." Rồi phi ngựa quay về phủ, gió đêm thổi tung vạt áo, tay ôm chặt bọc kẹo, cẩn thận như ôm đứa trẻ sơ sinh.
Khi y về đến hỷ phòng, Tiểu Ngôn đã ngủ say từ lâu, cuộn tròn trong chăn, tay nắm chặt góc gối, miệng hơi hé mở, khuôn mặt tròn trịa dịu dàng dưới ánh nến, trông như đứa trẻ vô tội nhất thế gian.
Lăng Cảnh Uyên đứng bên giường, cầm bọc kẹo hồ lô, nhìn người đang ngủ, không nỡ đánh thức. Một lát sau, y bật cười thật khẽ, lắc đầu. Y ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường, cầm lấy một xâu kẹo, cắn một quả.
Chua đến nhăn mặt. Nhưng y vẫn ăn tiếp, từng quả, từng quả, chăm chú nhìn khuôn mặt say ngủ, cho đến khi nắng sớm bắt đầu nhuộm trắng khung cửa sổ.
Sáng hôm sau, khi Tiểu Ngôn tỉnh dậy, việc đầu tiên cậu làm là mở mắt tìm kẹo hồ lô.
"Phu quân! Kẹo hồ lô của em đâu?"
"Ta ăn rồi."
"Hả?!" Tiểu Ngôn bật dậy, mắt tròn xoe. "Chàng ăn hết sạch hai mươi xâu?"
"Em ngủ rồi."
"Nhưng mà, nhưng mà..." Tiểu Ngôn nhìn vào những cây tre xâu trống trơn xếp ngay ngắn trên bàn, mặt méo xệch, mắt đỏ lên. "Chàng nửa đêm đi mua cho em mà em không được ăn miếng nào! Chàng độc ác! Chàng đền đi!"
"Ta không thể đền ngay bây giờ."
"Vậy thì tối nay đi mua tiếp!"
"Ngôn nhi..."
"Em không biết! Em không biết! Em muốn!" Tiểu Ngôn lăn lộn trên giường, đá chăn tung tóe, giọng vừa nũng vừa giận. Lăng Cảnh Uyên đứng bên nhìn, bất lực vò trán, rồi đưa tay bế cả người lẫn chăn lên, ôm chặt vào lòng.
"Được rồi, được rồi. Tối nay ta đi mua."
"Hai mươi xâu?"
"Ba mươi xâu."
Tiểu Ngôn lập tức nín khóc, ngẩng đầu, mắt sáng rực, cười khì khì: "Phu quân tốt nhất trên đời!"
Lăng Cảnh Uyên nhìn nụ cười ấy, chợt nhận ra bản thân đã hoàn toàn thất bại, và chẳng hề có ý định gượng dậy.
---
Chiều hôm đó, khi Tiểu Ngôn đang ngồi vắt vẻo trên xích đu ngoài vườn ăn bánh, còn Bột Bột thì ngồi chễm chệ trên đùi cậu, bà Ba Cải từ ngõ Hàng Bột sang thăm, mang theo một giỏ rau muống và một bụng chuyện.
"Ối giời, Ngôn nhi! Trông con hồng hào quá!" Bà vừa vào đã kêu lên, cầm tay cậu xoay qua xoay lại. "Mập ra rồi này! Ăn ngủ tốt thế à?"
"Bà Ba!" Tiểu Ngôn nhảy xuống xích đu, ôm chầm lấy bà. "Bà mang gì đến cho con thế?"
"Rau muống với chuyện." Bà Ba Cải cười khà khà, ngồi phịch xuống ghế đá. "Chuyện ở ngõ mình ấy mà. Ngôn Ký của con bây giờ đông khách gấp mười lần. Người ta xếp hàng từ sáng sớm để mua cái bánh do ông Tư Lửa với cậu Hà làm. Hà nó học nghề nhanh lắm, bây giờ là thợ chính rồi. Còn ba cái tiệm ở Chu Tước thì có chị bán vải với lão Vương trông coi, sổ sách sạch sẽ. Con không phải lo gì hết."
"Vậy thì tốt quá!" Tiểu Ngôn cười tít mắt.
"Nhưng mà..." Bà Ba Cải ngập ngừng, nhìn cậu từ đầu đến chân, đôi mắt tinh quái chớp chớp. "Thằng bé này, sao bà thấy con khác quá vậy? Trước kia con ngoan như cục bột, bây giờ ngồi ăn bánh mà chân đung đưa, còn đòi người ta đút..."
"Con... con đâu có hư!" Tiểu Ngôn đỏ mặt cãi. "Là Uyên ca chiều con mà!"
"Ồ hố." Bà Ba Cải bật cười, vỗ đùi cái đét. "Thế thì bà hiểu rồi. Đúng là người ta bảo, được chiều mới hóa hư. Nhưng mà thôi, hư một chút cũng tốt. Ngươi khổ sở đủ rồi, bây giờ có người thương thì cứ hư cho thỏa thích!"
Tiểu Ngôn nhìn bà, bỗng thấy mắt cay cay, cậu lao vào ôm bà thêm một cái nữa, vùi mặt vào vai bà, giọng nghèn nghẹn: "Cảm ơn bà Ba."
"Cảm ơn cái gì." Bà vỗ lưng cậu, cũng nghẹn ngào. "Mẹ con trên trời chắc đang vui lắm."
Từ đằng xa, dưới tán hoa hải đường, Lăng Cảnh Uyên đứng lặng nhìn cảnh ấy, hai tay chắp sau lưng, ánh mắt dịu dàng như nước. Y không tiến lên, chỉ đứng đó rất lâu, bởi vì có những khoảnh khắc mà người ta chỉ cần nhìn thôi, là đã thấy đủ rồi.
---
Tối đến, sau bữa cơm thịnh soạn do đích thân Tiểu Ngôn xuống bếp nấu (món duy nhất cậu vẫn còn kiên trì làm), hai người ngồi cạnh nhau bên hiên hậu viện, ngắm trăng lên trên mặt hồ sen. Bột Bột ngủ khò khò trong lòng Tiểu Ngôn, thi thoảng lại "meo" một tiếng trong mơ, còn Lăng Cảnh Uyên thì thỉnh thoảng lại hắt hơi, nhưng vẫn kiên quyết không đẩy nó ra.
"Uyên ca."
"Ừ."
"Em có phải... hư quá không?"
Lăng Cảnh Uyên nghiêng đầu nhìn cậu. Trong ánh trăng, gương mặt tròn trịa của cậu hơi lo lắng, ngón tay vô thức vò vạt áo.
"Vì sao lại hỏi vậy?"
"Thì... Lão thái quân bảo em đổi tính, bà Ba Cải cũng bảo vậy. Em cũng thấy mình... ngày càng nghịch. Em sợ..." Cậu ngập ngừng. "Em sợ chàng sẽ chán em."
Lăng Cảnh Uyên im lặng một lát, rồi đưa tay vòng qua vai cậu, kéo cậu tựa vào ngực mình, cằm đặt lên đỉnh tóc.
"Ngôn nhi."
"Dạ?"
"Ngày đầu tiên ta gặp em, em nằm giữa đường, đầu đội một cái bánh, mặt dính đầy bột, còn chỉ mặt ta mắng." Y khẽ cười, giọng trầm thấp vang lên từ lồng ngực. "Khi ấy ta nghĩ, đứa nhỏ này thật là gan to. Sau này ta mới biết, em không phải gan to, mà là quá quen với việc phải tự bảo vệ mình."
Tiểu Ngôn ngước lên, mắt long lanh.
"Bây giờ em không cần tự bảo vệ nữa." Y nói chậm rãi, từng chữ như khắc vào đá. "Em muốn ngủ nướng thì cứ ngủ, muốn nghịch thì cứ nghịch, muốn đòi kẹo hồ lô giữa canh ba thì cứ đòi. Ta chiều em không phải vì em hư, mà vì ta muốn bù lại tất cả những năm tháng em chưa từng được như thế."
"Uyên ca..." Tiểu Ngôn nghẹn ngào, dụi đầu vào ngực y.
"Hơn nữa," giọng y dịu xuống, khóe môi cong lên, "một Ngôn nhi hư hỏng, ta thấy còn đáng yêu hơn."
Cậu bật cười trong nước mắt, đấm nhẹ vào ngực y: "Chàng thật là..."
"Là gì?"
"Là... là người tốt nhất thế gian!"
"Ta biết." Y đáp thản nhiên, khiến cậu cười nắc nẻ.
Trăng lên cao, soi xuống mặt hồ sen loang loáng bạc. Bột Bột trở mình trong lòng cậu, ngáp một cái thật dài. Gió đêm thoảng mùi hoa hải đường, ngọt ngào và dịu dàng.
Đúng lúc ấy, Phúc bá từ xa bước vội đến, chân đạp nhẹ lên nền gạch, tay cầm một phong thư niêm phong bằng sáp đỏ, trên góc phong bì đóng dấu Trấn Quốc.
"Thế tử, Thế phu nhân," ông cúi đầu, giọng hơi run vì xúc động, "có thư khẩn từ biên ải. Là của Quốc Công gia."
Lăng Cảnh Uyên nhận lấy thư, bóc niêm, đọc lướt qua. Y ngẩng đầu lên, đôi mắt thoáng ánh lên vẻ kinh ngạc, rồi từ từ chuyển sang nụ cười.
"Cha nói gì vậy?" Tiểu Ngôn tò mò nghiêng đầu.
"Cha sẽ về kinh." Y đáp, giọng ấm áp. "Nửa tháng nữa. Ông ấy nói, ông ấy muốn được gặp đứa con dâu đã làm cho con trai ông ấy biết cười."
Tiểu Ngôn ngây người ra một giây. Rồi mặt cậu tái nhợt, cậu bật dậy, làm Bột Bột lăn xuống đất kêu "meo" bất mãn.
"Cha chàng... sắp về? Nửa tháng nữa? Nhưng mà em..." Cậu quơ tay loạn xạ, giọng hoảng hốt. "Em thế này! Ngủ nướng! Ăn vạ! Vẽ râu mèo lên mặt Tần đại ca! Ngài ấy mà biết em hư như thế, ngài ấy có ghét em không? Có bắt chàng bỏ em không? Ối trời ơi, em phải sửa ngay! Từ mai em dậy sớm! Em nhóm lò! Em sẽ ngoan như xưa!"
Lăng Cảnh Uyên nhìn cậu cuống cuồng chạy quanh, không nhịn được, bật cười thành tiếng, vươn tay kéo cậu lại, ôm chặt vào lòng.
"Ngôn nhi, bình tĩnh."
"Sao mà bình tĩnh được! Cha chồng đó!"
"Cha ta," y nói, vừa cười vừa hôn lên trán cậu, "sẽ thương em còn hơn cả ta."
"Thật không?"
"Thật." Ánh mắt y dịu dàng. "Bởi vì ông ấy là người đã viết cái câu 'đánh gãy chân con' trong thư đó."
Tiểu Ngôn ngớ người, rồi cũng phì cười. Cậu ngả đầu vào ngực y, nghe tiếng tim đập vững vàng bên tai, cảm nhận bàn tay ấm áp đang vuốt tóc mình.
Ngoài kia, trăng tròn vằng vặc soi sáng cả kinh thành, những ngọn đèn lồng lay động trong gió. Một mùa xuân nữa đang dần qua đi, để lại những cánh hoa đào cuối cùng rơi xuống mặt hồ, như những lời chúc phúc thầm lặng.
Và ở phía chân trời phương Bắc, một cỗ xe ngựa đang lặng lẽ lăn bánh, mang theo một người cha đã xa nhà nhiều năm, đang háo hức trở về gặp đứa con dâu mà ông chưa từng thấy mặt.
Nửa tháng trôi qua nhanh hơn Tiểu Ngôn tưởng, và cũng chậm hơn cậu mong.
Suốt mười lăm ngày ấy, Thế phu nhân của phủ Trấn Quốc Công sống trong trạng thái mà Phúc bá gọi là "cải tà quy chính tạm thời". Sáng nào cậu cũng dậy từ khi trời còn tối om, rón rén ra khỏi giường, đi chân trần xuống bếp, nhào bột, nhóm lò, nặn bánh, y hệt những ngày còn ở ngõ Hàng Bột. Cậu không đòi ai đút cháo, không đòi ai chải đầu, không vẽ râu mèo lên mặt Tần Phong, cũng không nửa đêm đòi kẹo hồ lô. Cả phủ nhìn cậu bằng ánh mắt vừa cảm động vừa bất an, như nhìn một con mèo hoang bỗng dưng tự giác dọn ổ.
Người hoảng nhất là Lăng Cảnh Uyên.
Sáng hôm thứ ba, y tỉnh dậy, thấy bên cạnh trống không, lập tức bật dậy, chân trần chạy khắp hậu viện, tay nắm chặt kiếm, gọi to: "Ngôn nhi! Ngôn nhi đâu rồi?"
"Em ở đây mà!" Tiểu Ngôn thò đầu ra khỏi gian bếp, mặt lem bột, tay cầm cái muôi. "Chàng làm gì mà la làng thế?"
Lăng Cảnh Uyên đứng giữa sân, tóc rối, áo mở nửa vạt, nhìn cậu chằm chằm rồi bước tới, đưa tay sờ trán cậu: "Em... em bị sốt sao? Có chỗ nào khó chịu? Để ta gọi thái y."
"Em khỏe như trâu!" Tiểu Ngôn gạt tay y ra. "Em đang chuẩn bị cho ngày Quốc Công gia về, em phải làm ba trăm cái bánh, mỗi loại một trăm..."
"Không cần phải thế." Y ôm lấy cậu, giọng trầm khàn. "Em cứ ngủ nướng như trước, ta thích hơn."
"Nhưng mà cha chàng..."
"Cha ta không phải quái vật."
"Ngài ấy cao hơn chàng nửa cái đầu, giọng như sấm, còn đe dọa đánh gãy chân chàng trong thư!"
"Đó là cách ông ấy thể hiện tình thương."
Tiểu Ngôn nhìn y đầy nghi ngờ. Bột Bột ngồi trên bệ cửa sổ, liếm chân, thầm nghĩ rằng hai vợ chồng này đúng là chẳng ai thuyết phục nổi ai.
---
Ngày Quốc Công hồi kinh, trời nắng vàng như mật.
Từ tờ mờ sáng, cả phủ Trấn Quốc đã nhộn nhịp. Cổng lớn mở toang, thảm đỏ trải từ cửa thành đến tận thềm phủ, hai hàng thân binh giáp bạc đứng chờ. Trên các con phố, dân chúng tụ tập đông đúc, phất cờ reo hò, bởi vị đại tướng quân vang danh khắp cõi Đại Nam, người đã trấn thủ biên ải suốt mười lăm năm, hôm nay cuối cùng cũng trở về.
Lão thái quân mặc áo gấm đỏ thẫm thêu chỉ vàng, ngồi trên ghế bành đặt ở cổng chính, tay cầm trượng rồng, đôi mắt sáng ngời nhưng bàn tay run nhẹ. Phúc bá đứng bên cạnh, cuốn sổ ôm sát ngực, lưng thẳng tắp. Bà Ba Cải và ông Tư Lửa cũng được mời tới, ngồi ở hàng ghế danh dự, bà thì hồi hộp cắn hạt dưa liên tục, ông thì im lặng nhìn về phía cuối đường.
Còn Tiểu Ngôn, cậu mặc chiếc áo dài màu xanh ngọc mà Lão thái quân đã chọn, tóc búi gọn cài trâm bạch ngọc, hai tay ôm khay bánh đậu xanh, đứng cạnh Lăng Cảnh Uyên, chân run lẩy bẩy.
"Bình tĩnh." Y khẽ nói, bàn tay nắm lấy tay cậu.
"Em bình tĩnh mà!" Tiểu Ngôn đáp, giọng cao vút. "Em... em chỉ đang tập thở thôi!"
Phía xa, tiếng kèn hiệu vang lên. Tiếng vó ngựa như sấm rền từ cuối đường dội lại. Một đội kỵ binh áo giáp đen xuất hiện, cờ hiệu Trấn Quốc phần phật bay, theo sau là một con chiến mã trắng cao lớn, trên lưng là một người đàn ông.
Ông ta trạc năm mươi lăm, thân hình vạm vỡ như tháp sắt, vai rộng gấp rưỡi con trai, cao hơn Lăng Cảnh Uyên gần nửa cái đầu. Gương mặt rám nắng, râu quai nón đen rậm điểm bạc, mày rậm mắt sâu, một vết sẹo dài chạy từ trán xuống má trái khiến ông trông càng dữ tợn. Ông mặc chiến bào đen phủ giáp bạc, lưng đeo trường kiếm, chỉ cần ngồi trên lưng ngựa cũng đủ khiến cả con phố im phăng phắc.
Đó là Trấn Quốc Công Lăng Trấn Sơn, người mà quân địch nghe tên đã run, người mà cả nước gọi là "Bắc Cương Chiến Thần".
Ông xuống ngựa, bước đi từng bước nặng nề, tiếng giáp sắt va nhau leng keng. Mọi người trong phủ đồng loạt quỳ xuống. Ông không nhìn ai, ánh mắt đi thẳng đến chiếc ghế bành, nơi có một bà lão tóc bạc đang chống trượng đứng dậy.
"Mẫu thân." Ông quỳ một gối, cúi đầu, giọng trầm như chuông đồng. "Nhi tử bất hiếu, mười lăm năm mới về thăm người."
Lão thái quân nhìn con trai, đôi mắt tinh anh bỗng ướt nhòe. Bà giơ tay, đánh nhẹ lên vai ông một cái: "Thằng nhãi ranh, biết về là tốt rồi. Đứng lên, để ta xem con gầy hay mập."
Trấn Quốc Công đứng dậy, được mẹ xoa xoa khắp mặt mũi vai vế, gương mặt dữ tợn thoáng hiện ý cười. Rồi ánh mắt ông chuyển sang phía Lăng Cảnh Uyên, người con trai mười lăm năm ông chưa gặp mặt, giờ đã cao lớn phong độ, tuấn mỹ oai nghiêm chẳng kém gì mình.
"Uyên nhi."
"Phụ thân."
Hai cha con nhìn nhau, không ai nói thêm, chỉ khẽ gật đầu, nhưng trong khoảnh khắc ấy, mười lăm năm xa cách dường như tan biến. Trấn Quốc Công vươn tay, vỗ lên vai con trai một cái mạnh đến nỗi chân Lăng Cảnh Uyên trượt lùi nửa bước.
"Được lắm. Cha nghe nói con biết cười rồi."
"...Vâng."
"Vậy thì, con dâu của ta đâu?"
Cả sân im bặt. Tiểu Ngôn cảm thấy mọi ánh mắt đổ dồn vào mình. Cậu nuốt nước bọt, cố gắng bước lên một bước, cúi người thật thấp, hai tay nâng khay bánh, giọng run run nhưng rõ ràng:
"Con... con là Diệp Thanh Ngôn, bái kiến... bái kiến phụ thân."
Trấn Quốc Công nhìn cậu. Gương mặt cứng rắn như đá của ông không biểu lộ gì, ánh mắt sắc lạnh quét từ đầu đến chân cậu, khiến Tiểu Ngôn cảm thấy như bị một con hổ nhìn chằm chằm. Bột Bột, đang ngồi trên vai cậu, xù lông, gầm gừ khe khẽ.
Khoảnh khắc im lặng kéo dài ba nhịp thở. Năm nhịp thở.
Rồi ông đưa tay, cầm lấy một chiếc bánh đậu xanh trên khay, cắn một miếng.
Ông nhai chậm rãi. Đôi mày rậm nhíu lại, rồi giãn ra. Đôi mắt sâu thẳm chớp chớp. Vết sẹo trên má giật nhẹ.
"Ta..." Giọng ông bỗng khản đặc. "Ta ở biên ải mười lăm năm, ăn toàn lương khô. Đã lâu lắm rồi, ta không được ăn thứ gì ngọt như thế này."
Ông ăn hết cái bánh, rồi cầm thêm cái thứ hai, thứ ba, thứ tư. Cả sân lặng đi nhìn vị đại tướng quân oai phong nhất thiên hạ đứng ăn bánh giữa sân, vừa nhai vừa gật gù, mắt bắt đầu đỏ hoe.
"Con dâu."
"D... dạ?"
"Con tên gì? Ta quên mất."
"Con... Diệp Thanh Ngôn ạ."
"Ngôn nhi." Trấn Quốc Công đặt tay lên vai cậu, bàn tay to lớn như cái quạt, nặng trịch nhưng ấm áp lạ thường. "Cảm ơn con. Cảm ơn con đã làm cho thằng nhóc này biết cười. Cha nhìn nó bây giờ, so với hồi mười lăm tuổi cầm kiếm ra trận, không còn cái vẻ như một cây giáo lạnh lẽo nữa."
Tiểu Ngôn ngơ ngác, rồi nước mắt bất giác trào ra. Cậu vội vàng cúi đầu lau: "Không... không phải... là Uyên ca tốt với con..."
"Còn khóc à?" Trấn Quốc Công luống cuống, quay sang mẹ. "Mẫu thân, nó khóc rồi! Con làm gì sai sao?"
Lão thái quân cười khanh khách: "Con nói ít lại đi, mặt con dữ lắm, nó sợ đấy."
"Ta... ta không dữ!" Ông gãi đầu, bộ dạng lúng túng như trẻ con. "Ngôn nhi đừng khóc, cha có quà cho con đây! Người đâu, mang lên!"
Mười hai thân binh khiêng vào mười hai chiếc rương lớn. Rương thứ nhất chứa da hồ ly trắng. Rương thứ hai chứa nhân sâm ngàn năm. Rương thứ ba chứa ngọc phỉ thúy. Rương thứ tư đầy hộp gấm đựng trân châu Bắc Hải. Rương cuối cùng, ông đích thân mở, bên trong là một bộ áo giáp nhỏ nhắn được chế tác tinh xảo, màu bạc, khắc hoa văn mây cuộn, trông như của một thiếu niên.
"Áo giáp của Ngôn nhi." Ông nói, giọng trầm. "Nhà họ Lăng chúng ta, ai cũng có một bộ. Con dâu cũng phải có. Nếu có kẻ nào dám bắt nạt con, con cứ mặc bộ này vào, cha sẽ đích thân đánh cho hắn không còn nhận ra cha mẹ."
Tiểu Ngôn nhìn bộ giáp, rồi nhìn vị cha chồng cao lớn dữ tợn nhưng ánh mắt hiền như nước, bật khóc lần nữa, lần này là khóc thành tiếng, lao đến ôm ông một cái thật chặt.
"Phụ thân..."
Trấn Quốc Công sững người, hai tay giơ lên không biết đặt đâu, rồi từ từ, run run, vỗ nhẹ lên lưng cậu. Mắt ông cũng đỏ ngầu.
"Ngoan, ngoan. Nghe nói con hư lắm? Ngủ nướng, đòi kẹo, vẽ râu mèo lên mặt hộ vệ?"
Tiểu Ngôn cứng người. Cậu ngẩng đầu lên, nhìn Lăng Cảnh Uyên đang đứng cạnh với vẻ mặt vô tội tuyệt đối, rồi nhìn Lão thái quân đang giả vờ ngắm mây.
"Con..." Cậu nuốt nước bọt. "Con sẽ sửa..."
"Sửa cái gì mà sửa!" Trấn Quốc Công vỗ đùi cái đét. "Hư thì cứ hư! Nhà họ Lăng có gì mà không nuôi nổi một đứa con dâu hư? Cha còn muốn nó hư hơn nữa! Hôm nào con lên lưng ngựa cha, cha chở con đi vòng thành!"
"Phụ thân!" Lăng Cảnh Uyên lên tiếng nhắc nhở.
"Con câm miệng, ta đang nói chuyện với Ngôn nhi."
Cả sân bật cười ầm ĩ. Ông Tư Lửa khẽ gật gù, lặng lẽ giơ ngón cái. Bà Ba Cải vỗ đùi cười ngặt nghẽo. Phúc bá vội vàng mở sổ, ghi: *Ngày Quốc Công hồi kinh: đại tướng quân ăn bốn cái bánh, khóc một lần, chiều con dâu ba lần.*
Bột Bột nhảy từ vai Tiểu Ngôn sang chân Trấn Quốc Công, dụi dụi đầu vào ống quần giáp bạc. Ông cúi xuống, ngạc nhiên nhìn cục lông mướp nhỏ xíu: "Ồ, con mèo này..."
"Hắt... xì!"
Một tiếng hắt hơi vang rền như sấm, khiến hai hàng thân binh giật thót.
"Hắt xì! Hắt xì! Hắt xì!" Trấn Quốc Công ôm mũi, mắt đỏ hoe, mặt nhăn nhó. "Sao... sao ta lại..."
Lăng Cảnh Uyên ho khan một tiếng, nhẹ nhàng nói: "Phụ thân cũng dị ứng lông mèo. Con quên báo trước."
"Uyên nhi!" Trấn Quốc Công gào lên giữa tiếng hắt hơi, "Sao con không nói sớm!"
"Con cũng mới nhớ ra."
Lão thái quân ôm bụng cười đến chảy nước mắt: "Trời đất ơi! Hai cha con nhà này, một người ăn bánh, một người hắt hơi, cứ giống nhau y hệt!"
---
Ba ngày sau, tin vui từ hoàng cung truyền tới.
Đó là buổi triều sớm long trọng nhất trong năm. Điện Kim Loan rực rỡ ánh vàng, hàng trăm quan văn võ xếp thành hai hàng, thủ hạ cầm cờ hiệu nghiêm trang. Hoàng thượng ngự trên ngai rồng, tay cầm chiếu chỉ, ánh mắt sáng ngời khi nhìn hai cha con họ Lăng đang quỳ giữa điện.
"Trấn Quốc Công Lăng Trấn Sơn, trấn thủ biên ải mười lăm năm, công lao hiển hách, tuổi cũng đã cao. Nay trẫm ban cho ngươi cáo lão hồi hương, phong làm Thái sư, hưởng bổng lộc nhất phẩm, an dưỡng tuổi già."
"Tạ ơn bệ hạ!"
"Về phần Lăng Cảnh Uyên." Giọng Hoàng thượng trầm hùng vang khắp đại điện. "Từ khi nhận chức Chinh Bắc Đại tướng quân, đã dẹp yên phương Bắc, vạch trần tội ác Hộ bộ Thượng thư, trừ hại cho dân, công lao lớn lao. Nay trẫm phong ngươi làm Đại Nguyên Soái, Tổng lĩnh binh mã thiên hạ, kế thừa tước Trấn Quốc Công, quyền cao chức trọng, nhất phẩm đương triều."
Cả điện xôn xao. Chức Đại Nguyên Soái, người nắm toàn bộ quân quyền Đại Nam, chưa từng được trao cho ai dưới ba mươi tuổi.
Lăng Cảnh Uyên dập đầu, giọng vững vàng: "Thần tạ ơn bệ hạ, nguyện dốc hết sức bảo vệ giang sơn."
"Chưa hết." Hoàng thượng mỉm cười, ánh mắt đầy hàm ý. "Trẫm còn nghe nói, phu nhân của ngươi nướng bánh rất ngon. Trẫm đã nếm thử bánh của hắn ở yến tiệc tân hôn, đến nay vẫn nhớ mãi. Nay trẫm phong Diệp Thanh Ngôn làm Nhất phẩm Cáo mệnh phu nhân, kiêm chức Ngự Thiện Bánh Sứ, chuyên trách dâng bánh cho hoàng cung mỗi tháng ba lần."
Tiểu Ngôn, đứng ở góc điện, cạnh Lão thái quân, nghe đến đó thì há hốc mồm, suýt làm rơi cả khay bánh trên tay.
"Ngự... Ngự Thiện Bánh Sứ?" Cậu thì thầm. "Cái chức đó nghĩa là gì?"
"Nghĩa là," Lão thái quân nghiêng người, cười tủm tỉm, "con được hoàng thượng thừa nhận là người làm bánh ngon nhất thiên hạ."
Cậu chớp mắt, chưa kịp tiêu hóa thì Hoàng thượng đã nói tiếp, gọi từng tên: "Tần Phong, phong làm Thống lĩnh Cấm vệ quân. Bùi Nhất Lang, Mộ Tĩnh Chi, Sở Hạo Vũ, mỗi người thăng một cấp. Phúc quản gia, trung thành tận tụy ba đời, ban cho tấm biển 'Nhất Môn Trung Nghĩa'. Lão thái quân Tạ thị, ban long trượng vàng."
Rồi ông ngừng lại một chút, hắng giọng, khóe môi nhếch lên: "Còn về con mèo mướp tên Bột Bột..."
Cả điện Kim Loan im phăng phắc. Các quan ngơ ngác nhìn nhau. Bột Bột, đang ngồi trong khay bánh trên tay Tiểu Ngôn, nghe nhắc tên thì ngẩng đầu lên, đôi mắt vàng ươm chớp chớp.
"...trẫm phong làm Hộ giá Thần Miêu, bổng lộc mỗi tháng năm mươi con cá khô."
"Meo." Bột Bột cất tiếng, đầy hài lòng.
Cả điện bật cười. Ngay cả Trấn Quốc Công đứng cuối hàng cũng phải ôm bụng cười vang.
Lăng Cảnh Uyên quay sang nhìn Tiểu Ngôn từ đằng xa, ánh mắt ấm áp như xuân. Tiểu Ngôn cười lại với y, cái lúm đồng tiền sâu hoắm, mắt cong lên như trăng non. Không cần nói gì, cả hai đều hiểu. Từ cậu bé bán bánh đội mũ nát dưới ánh mặt trời đến vị Ngự Thiện Bánh Sứ đứng trong điện Kim Loan, con đường ấy dài như cả một đời, và cũng ngọt như một chiếc bánh.
---
Tối hôm ấy, phủ Trấn Quốc mở tiệc chúc mừng.
Trong hoa viên rộng lớn, đèn lồng treo kín, bàn ghế bày san sát dưới ánh trăng. Tất cả những người quen thuộc đều có mặt: Bùi Nhất Lang say khướt, ôm cổ Sở Hạo Vũ hát nghêu ngao; Mộ Tĩnh Chi phe phẩy quạt, mỉm cười nhìn hai người, thỉnh thoảng lại lấy quạt gõ vào đầu Nhất Lang; Tần Phong, giờ đã là Thống lĩnh Cấm vệ quân, mặt vẫn cứng như tượng gỗ, nhưng tay đang bị chị bán vải kéo đi khiêu vũ, tai đỏ đến tận gốc. Bác Thiết thợ rèn và lão Vương thi uống rượu, cậu Hà ngồi ngâm thơ. Ông Tư Lửa, bây giờ thỉnh thoảng lại mở miệng nói vài câu, đang được Trấn Quốc Công kính rượu, hai người già ngồi nói chuyện chiến trận và lửa lò với nhau, hợp nhau đến lạ.
Tiểu Ngôn ngồi cạnh Lăng Cảnh Uyên, tay cầm ly nước trà, mắt lơ đãng nhìn quanh. Bỗng cậu thấy Bùi Nhất Lang say quá, ngã vào vai Mộ Tĩnh Chi, Mộ Tĩnh Chi thì mỉm cười ôm lấy y đỡ dậy, ánh mắt dịu dàng như trúc đón gió. Cậu bất giác thì thầm: "Hai người này... đẹp đôi ghê..."
"Ngôn nhi." Giọng trầm thấp vang lên bên tai.
Cậu giật mình, quay sang thì thấy Lăng Cảnh Uyên đang nhìn mình, ánh mắt sâu thẳm, khóe môi nhếch nhẹ.
"Em vừa nhìn ai?"
"Em... em nhìn cây đèn lồng!"
"Đèn lồng không mặc áo trắng."
"...Em đang ngắm trăng!"
"Trăng không cười."
Tiểu Ngôn nhìn y, nhìn nụ cười mà y cố tình giấu, rồi cậu bật cười khúc khích, ôm lấy cánh tay y, dụi đầu vào vai: "Em chỉ nhìn thôi mà, ngắm cho vui. Người em thích nhất vẫn là chàng."
"Thật?"
"Thật một trăm phần trăm!"
"Vậy," y cúi xuống, thì thầm vào tai cậu, giọng thấp như gió đêm, "tối nay để ta kiểm tra."
Tiểu Ngôn đỏ bừng mặt, hai tai nóng ran, đấm nhẹ vào ngực y, nhưng khóe môi lại không giấu được nụ cười. Ở phía đối diện, Lão thái quân nhấp một ngụm rượu, liếc nhìn hai người, rồi quay sang bà Ba Cải, hai bà già nhìn nhau đầy ý tứ, cụng ly.
---
Thời gian trôi qua như nước chảy qua cầu.
Ba năm sau, ngõ Hàng Bột đã không còn là một con ngõ nhỏ hẻo lánh nữa. Người ta gọi nó bằng cái tên Phố Bánh. Hai bên đường san sát những cửa tiệm treo biển "Ngôn Ký", từ bánh đậu xanh, bánh nếp, bánh khoai, cho đến bánh bông lan hấp mật ong, món độc quyền chỉ bán mỗi ngày mười chiếc để tưởng nhớ người mẹ đã mất. Khách từ khắp nơi trong Đại Nam đổ về xếp hàng từ tờ mờ sáng. Trên cao nhất là một tấm biển gỗ trầm đen nạm vàng, dòng chữ do chính tay hoàng thượng ngự bút, bốn chữ "Thiên Hạ Đệ Nhất Bánh", sừng sững giữa ngõ như một tấm bia thờ. Cạnh đó, vẫn treo tấm biển gỗ cũ bạc màu, "Ngôn Ký Bánh Phố", nét chữ mẹ để lại, được lồng trong khung kính, không ai được phép chạm vào.
Ông Tư Lửa vẫn nhóm lò mỗi sáng, dù hầu hết công việc đã giao cho cậu Hà và mười mấy người thợ trẻ. Bà Ba Cải mở một quán trà nhỏ đối diện, ngày nào cũng ngồi kể chuyện, chuyện của bà trở thành huyền thoại: "Các cô các cậu có biết không? Ngày xưa, Thế tử nhà ta bị cái bánh bẹp dí đập trúng đầu mà đổ đấy!" Chị bán vải, giờ là chủ ba tiệm lụa lớn nhất Chu Tước, đã kết duyên với Tần Phong sau một năm, đám cưới tổ chức cực kỳ long trọng, với sự có mặt của Thế tử và Thế phu nhân làm chủ hôn. Tần Phong đến lễ đường mặt vẫn cứng như cũ, nhưng lúc rước dâu, người ta thấy anh ta cười. Nụ cười duy nhất trong đời, được Phúc bá ghi vào sổ bằng mực đỏ.
Phúc bá đã viết đến quyển sổ thứ một trăm lẻ hai. Ông nói khi nào ghi kín một trăm lẻ tám quyển, tương ứng với con số rương sính lễ, ông sẽ cáo lão hưởng phúc. Nhưng ai cũng biết ông sẽ không bao giờ ngừng ghi.
Lão thái quân, tuy đã ngoài tám mươi, vẫn khỏe mạnh minh mẫn, mỗi ngày chống trượng dạo vườn, nhìn cháu trai và cháu dâu như nhìn hai viên ngọc quý của cuộc đời. Trấn Quốc Công, sau khi cáo lão, sống cùng mẹ trong phủ, ngày ngày trồng hoa hải đường, hắt hơi khi mèo lại gần, và chờ Ngôn nhi mang bánh đến. Có tin đồn rằng ông đã lén dạy Tiểu Ngôn vài chiêu kiếm pháp phòng thân, còn Lăng Cảnh Uyên thì giả vờ không biết.
Bột Bột, sau một năm, bất ngờ sinh ra bốn chú mèo con, hóa ra "nó" là mèo cái, khiến cả phủ ngã ngửa, còn Phúc bá lặng lẽ sửa lại cuốn sổ ghi chép từ đầu đến cuối. Bốn chú mèo con lần lượt được đặt tên Đậu Xanh, Nếp Nếp, Khoai Môn và Mật Ong. Lăng Cảnh Uyên hắt hơi liên tục suốt cả năm, nhưng ngày nào cũng ôm cả năm con mèo vào lòng, mặt lạnh tanh, giọng thì thầm: "Đừng cào áo ta."
Triệu Hiển, sau ba năm bị lưu đày nơi biên viễn, cuối cùng cũng được thả ra vì đã cải tạo. Nghe nói hắn trở về kinh thành làm thợ mộc, cuộc sống đạm bạc, không còn ai thấy hắn ở Túy Hoa Lâu nữa. Có lần đi ngang phố Bánh, hắn dừng lại rất lâu trước tiệm Ngôn Ký, mua một chiếc bánh đậu xanh, ăn hết, rồi lặng lẽ để lại một đồng bạc cùng lời nhắn: *Xin lỗi.* Không ai biết hắn nói với ai, và Tiểu Ngôn cũng chỉ mỉm cười, cất đồng bạc vào hộp gỗ nhỏ, không hỏi thêm.
Còn Lăng Cảnh Uyên, Đại Nguyên Soái trẻ tuổi nhất trong lịch sử Đại Nam, vẫn ngày ngày bận rộn quân vụ, nhưng dù bận đến đâu, chiều nào cũng về phủ đúng giờ. Y đã ăn được mọi hương vị, chua ngọt đắng cay mặn, từng món một, do chính tay Tiểu Ngôn dạy y nếm lại từ đầu. Nhưng vị y thích nhất vẫn là bánh đậu xanh, thứ vị ngọt đầu tiên, chiếc bánh dính bụi giữa đại lộ Chu Tước ngày xưa.
---
Và rồi, lại một mùa hội hoa đăng nữa.
Đêm rằm tháng hai, kinh thành Thăng Kinh sáng rực như dải ngân hà rơi xuống mặt đất. Những dải đèn lồng đủ màu kéo dài vô tận, pháo hoa nở rộ trên bầu trời, tiếng cười nói, tiếng rao hàng, tiếng trống lân vang khắp phố phường. Trên sông Thanh Thủy, hàng nghìn ngọn đèn hoa sen trôi lững lờ, phản chiếu trời sao.
Bên bờ sông, dưới bóng cây liễu rủ, hai người đang ngồi xổm cạnh nhau. Một người mặc áo bào trắng ngà thêu chỉ bạc, tóc buộc lỏng bằng dải lụa xanh, dáng người cao lớn, đôi mắt đen sâu thẳm chứa đầy dịu dàng. Người kia mặc áo dài xanh ngọc, khuôn mặt tròn trịa, má lúm đồng tiền sâu hoắm, trên tay bế một chú mèo mướp nâu đã có vài sợi lông bạc.
"Uyên ca, năm nay chàng ước gì?" Tiểu Ngôn hỏi, tay đặt chiếc đèn hoa sen xuống mặt nước.
"Nói ra thì mất linh."
"Lần trước chàng cũng nói vậy!"
"Nhưng lần trước linh nghiệm." Lăng Cảnh Uyên mỉm cười, thả chiếc đèn của mình xuống, đẩy nhẹ cho trôi về phía đèn của Tiểu Ngôn. "Cho nên lần này, ta vẫn ước điều cũ."
Tiểu Ngôn chớp mắt, rồi bật cười, đôi mắt hạnh long lanh phản chiếu ánh đèn. Cậu khẽ tựa đầu vào vai y, nhìn hai ngọn đèn nhỏ song hành trôi giữa muôn vàn ánh nến, chậm rãi, kiên định, không bao giờ rời xa nhau.
"Em cũng thế."
"Ừ?"
"Em cũng ước điều cũ." Cậu ngẩng đầu lên, hôn khẽ lên cằm y, ngay nơi có vết sẹo mảnh dưới xương hàm. "Ở bên chàng, đến khi tóc bạc răng long. Rồi kiếp sau, kiếp sau nữa, em vẫn muốn gặp chàng, vẫn muốn làm bánh cho chàng ăn."
"Vậy ta cũng phải ước thêm." Lăng Cảnh Uyên nắm lấy tay cậu, đan chặt những ngón tay. "Kiếp sau, ta sẽ đến sớm hơn một chút. Để ta có thể chiều em từ khi em còn nhỏ."
"Chàng đã chiều em đủ hư rồi còn gì."
"Chưa đủ."
Bột Bột, nằm trong lòng Tiểu Ngôn, mở một mắt ra nhìn hai người, ngáp một cái thật dài, rồi lại nhắm mắt ngủ tiếp, cái đuôi khẽ vẫy vẫy như để nói rằng nó đã thấy chuyện này lặp lại đủ nhiều.
Phía trên cao, pháo hoa nổ tung, muôn vàn tia sáng đỏ, vàng, xanh, tím bung nở giữa bầu trời đêm, soi rõ hai bóng người ngồi sát bên nhau bên dòng sông lấp lánh. Người qua đường có kẻ dừng lại nhìn, mỉm cười, rồi lại bước đi, bởi họ đều biết câu chuyện ấy: câu chuyện về Diêm Vương sống của Trấn Quốc phủ và cậu chủ tiệm bánh mặt tròn, câu chuyện bắt đầu từ một chiếc bánh đậu xanh rơi giữa đường, và kết thúc, à không, chưa từng kết thúc, trong một đời cưng chiều.
Ở kinh thành Thăng Kinh, người ta vẫn kể rằng, nếu vào một buổi sáng mùa xuân, bạn đi ngang qua ngõ Hàng Bột và ngửi thấy mùi bột mới, mùi đậu xanh hấp chín, mùi mật ong ngọt dịu, thì đó là lúc Ngôn Ký đang mở cửa. Và nếu bạn may mắn, sẽ thấy một người đàn ông cao lớn, áo bào đen, vẻ mặt lạnh lùng, ngồi ở bàn nhỏ trước tiệm, tay cầm một chiếc bánh, lặng lẽ nhìn theo một chàng trai nhỏ nhắn đang cười nói giữa đám khách, má lúm đồng tiền sâu hoắm.
Lúc ấy, bạn sẽ thấy người đàn ông lạnh lùng đó khẽ nhếch môi, rất khẽ, và trong đôi mắt đen sâu thẳm ấy, chỉ có đúng một điều duy nhất.
Ngọt.