Năm 1945 tháng 7, Tuyên Quang Bác hồ và quân đội đống quân và hành quân ở Tân sơn dương tân chào.
Lúc đầu thì không sao dù kham khổ nhưng nghĩ đên sắp Giải Phóng độc lập thì lòng vui đến lạ, nhưng đột ngột, Bác Hồ bị một trận ốm rất nặng, cơn sốt thì cứ lúc lên lúc xuống, Tôi sốt ruột mới đi nói với chỉ Huy là ông Võ Nguyên Giáp,
- bác sốt cao quá, em sợ.
Vẻ mặt ông toát lên vẻ lo âu, nhưng vẫn vỗ vai tôi tôi rồi nói.
- Chú đừng lo, Anh đã viết thư cho đảng rất nhanh, sẽ có bác sĩ đến.
Lòng anh em cũng yên tâm phần nào, Nhưng trời, không thương bác, dù có bác sĩ cường đến, dù đã cho bác uống thuốc, lúc anh cường tiêm cho bác, tôi thấy tay anh run run, có lẽ anh thấy bóng hình bác mà đau xót, nhưng bác chỉ mỉm cười hiền mà động viên, anh em đồng chí ai cũng cằm lòng không được, dù bệnh tật nhưng bác vận động viên, anh cường hai mắt đã rưng rưng. Nhưng tay anh vững vàng hơn.
- bác mau khỏe mà dẫn nước ta đến tự do.
nhưng cơn sốt chẳng khỏi, bác cứ mê man, nhìn bác gầy đi từng ngày, mà còn lo việc nước, mỗi lần bác tỉnh, câu đầu tiên của bác là, phải xây dựng đảng, trung kiên. Anh em đứng canh cho bác, mà muỗi cắn, chẳng ai thèm đập, cứ nhìn bác thôi, người Dân biết bác sốt, ai cũng lo lắng, nào gà nào thuốc đem lên chỉ mong bác khỏe, giữa trưa trời nắng như lửa, mà mười mấy con người xem như không, lặng hụp, giữa lòng con sông Hố Đáy, bắt ba ba cắt tiết cho bác. Hôm đó Lúc đang trực, thì tôi thấy Ông Đình Tập, Làm chánh tổng. Tay cầm hộp gỗ, đang đi lên, ông đứng trước láng, Đưa Hộp gỗ cho bác sĩ cường.
- đây là hộp sâm cao ly, được truyền qua nhiều đời nhà tôi, để phòng khi trọng bệnh, nay tôi dâng cho bác, mong bác mau khỏe lại mà dẫn dắt nhân dân.
Tôi không ngờ, ông đem cả vật gia truyền cho bác, anh em đồng chí ai cũng cảm động trước tấm lòng của ông Đình Tập. Nhưng bệnh của bác cũng chỉ đỡ hơn chứ chẳng khỏi, bữa đó chỉ huy xin ở lại chăm bác, đêm đó có tin truyền lên, là Nhật đã đầu hàng quân đồng minh, đúng lúc đó bác tỉnh lại, mắt bác sáng như sao , dù thân gầy gò, nhưng giọng bác vẫn vang, mọi người xung quanh đều nghe rõ.
- Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"..
Rồi bác lại ngất, anh em chúng tôi ai lo lắng mà ngồi bên bác, mấy ngày sau có ông lang người tày , từ bản ra, ông khám cho bác, rồi ông ấy nói gì đó với anh cường, cả hai trao đổi, nhìn mà bọn tôi xót hết cả ruột gan. Rồi ông lang đi sắc thuốc, ông dùng rễ cây rừng mà không ai biết là cây gì, Ngay khi thuốc sắc xong, không ai dám đưa cho bác uống, vì sợ thuốc này có trị được cho bác hay lại làm bác nặng thêm. Lại không có máy móc mà kiểm định.
- để em thử trước cho.
Thằng lính nhỏ nhất trong đội xung phong thử thuốc, ông giáp thì cản không cho.
- đồng chí còn trẻ chuyện này cứ để tôi.
Mọi người cản ông lại. Khi không ai để ý tôi lấy chén thuốc mà nhấp một ngụm.
- đừng cãi nhau nữa, nó thì còn trẻ, anh thì là chỉ huy kháng chiến, ai có chuyện cũng không được, vậy thì để tôi.
Cả đội không ai nói gì chỉ vỗ vai tôi, 10 phút rồi 1 tiếng, tôi ngồi đó mà lòng như lửa đốt nửa lo nửa sợ. Thấy tôi không sao, đồng đội mới dám cho bác uống, khi bác uống thang đầu tiên, cơn sốt của bác đỡ đi thấy rõ, cả đội vui mừng thay cho bác, đến khi muốn tìm, thầy lang người Tày để cảm ơn, thì không tìm thấy ông, người đàn ông cao tuổi dáng cao cao, vậy mà nói mất tích là mất tích, hỏi mấy anh em canh chừng, họ lắc đầu, ông ta như biến vào không khí, giống như cơn gió, đến đưa thuốc rồi, rời đi. Nhờ đơn thuốc đó, mà bác cũng dần khỏi, nhưng vẫn còn yếu lắm, phải để bác nằm võng để hai người khiêng, băng rừng lội Suối để đến ba đình, chúng tôi nghỉ ở 48 Hàng Ngang. Bác ở trên gác, chúng tôi biết bác làm việc, bác mới khỏi bệnh, anh em mới khuyên bác, nhưng bác chẳng chịu. Rồi trưa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bác đứng trên cao, bác dỗng dạc tuyên bố bản tuyên ngôn độc lập, hàng vạn người đồng loạt hô vang, độc lập, độc lập, tự do tự do, không khí hào hùng tràn ngập, tôi và các đồng chí nhìn bác nhìn các đồng bào, đã mong ngóng cảnh này từ lâu rất lâu rồi.