Trong làng chúng tôi có một truyền thuyết cổ xưa.
Rằng bất cứ cặp song sinh nào được sinh ra trong làng, nếu trên chân một đứa trẻ xuất hiện dấu vết tựa như bị bàn tay người bóp chặt, thì đứa trẻ ấy nhất định đã bị quỷ dữ để mắt đến, khắc lên người một ấn ký không thể xóa nhòa.
Đứa trẻ mang ấn ký ấy là tai họa.
Muốn bảo vệ người còn lại, cách duy nhất chính là giết chết nó trước khi tai họa kịp giáng xuống. Nếu không, đến khi hối hận thì đã quá muộn.
Còn đứa trẻ không có dấu vết kia mới là người thật sự được thần linh phù hộ.
Người trong làng đều tin như vậy.
Ít nhất, trước khi chuyện ấy xảy ra, tôi cũng từng tin như thế.
Chúng tôi là anh chị em song sinh.
Một người sinh ra dưới ánh sáng, một người chào đời trong bóng tối. Tựa như âm và dương bị chia cắt thành hai ranh giới, thiện và ác bị ép buộc phải đứng ở hai đầu đối lập.
Nếu đã có một người được gọi là người thật, vậy người còn lại thì sao?
Là quỷ sao?
Hay chỉ là một đứa trẻ bất hạnh bị người đời gán cho cái tên ấy?
Tôi từng hỏi mẹ câu này.
Bà không trả lời.
Bà chỉ nhìn tôi thật lâu, sau đó cúi xuống kéo ống quần của tôi lên, cẩn thận che đi vết bầm tím trên mắt cá chân.
Khi ấy, tôi còn nhỏ, chẳng hiểu được ánh mắt của mẹ có ý nghĩa gì.
Sau này nghĩ lại, tôi mới nhận ra có những câu hỏi, ngay từ đầu đã chẳng nên được cất lên.
---
Mùa đông năm Mậu Tuất, làng Tú Sơn đón một đoàn khách du lịch đến từ Khánh Tân.
Nghe nói, bọn họ vừa hoàn thành một chuyến công tác dài hạn ở Thu Bội, dự định đến vùng núi hẻo lánh này nghỉ ngơi vài ngày trước khi trở về.
Đối với một nơi quanh năm chẳng có mấy người lạ ghé thăm như Tú Sơn, sự xuất hiện của đoàn khách ấy chẳng khác nào ném một hòn đá xuống mặt hồ tĩnh lặng.
Đám trẻ trong làng kéo nhau ra đầu đường xem náo nhiệt. Các bà các mẹ tụ tập trước hiên nhà, vừa nhặt rau vừa bàn tán về những chiếc xe đen bóng đỗ bên con đường đất.
Có người nói đoàn khách này giàu có.
Có người bảo bọn họ đến đây để tìm một ngôi mộ cổ.
Lại có người quả quyết rằng trong đoàn có một vị thầy phong thủy nổi tiếng, chuyên xem mệnh đổi vận.
Tôi chẳng quan tâm lắm.
Dù sao, chuyện của người ngoài cũng chẳng liên quan gì đến một đứa trẻ sống ở cuối ngõ như tôi.
Ngõ nhỏ cuối làng là nơi nhà tôi tọa lạc.
Nói là nhà, chi bằng gọi đó là một căn nhà cũ chưa chịu sụp đổ thì đúng hơn.
Mái ngói xiêu vẹo, tường đất nứt toác, những thanh gỗ chống đỡ trên mái đã mục ruỗng từ bao giờ. Mỗi khi gió bắc thổi qua, cánh cửa gỗ lại phát ra tiếng kẽo kẹt, nghe chẳng khác nào tiếng người già ho khan trong đêm lạnh.
Có lần, một người đi ngang qua nhà tôi, nhìn vào trong rồi không nhịn được mà thốt lên:
“Ôi trời! Sao lại có người sống ở nơi thảm thương thế này?”
Tôi nghe thấy, nhưng chẳng buồn ngẩng đầu.
Bởi vì tôi biết, nếu người ấy bước thêm vài bước, nhìn thấy chiếc giường gỗ ọp ẹp kê sát vách tường và cái chăn bông mỏng đến mức không thể giữ nổi hơi ấm, có lẽ ông ta sẽ còn nói thêm vài câu khó nghe hơn nữa.
Mà tôi đã quen rồi.
Quen với những ánh mắt thương hại.
Quen với những lời bàn tán sau lưng.
Cũng quen với việc người ta nhìn tôi như nhìn một thứ gì đó chẳng nên tồn tại trên đời.
Ngày hôm ấy, trời lạnh đến thấu xương.
Gió bắc lùa qua khe cửa, cuốn theo những hạt tuyết nhỏ li ti. Bên cửa sổ nhà dì Hoa kế bên, tuyết đã phủ trắng một khoảng sân. Cây hồng trơ trụi cành, mấy quả còn sót lại đông cứng trên ngọn, nom chẳng khác nào những chiếc đèn lồng đỏ bị bỏ quên giữa mùa đông.
Tôi ngồi xổm bên bếp lò, dùng một thanh củi khều đống tro đã nguội.
Trong nhà không có ai.
Mẹ đã ra ngoài từ sớm, trước khi đi còn dặn tôi khóa chặt cửa, không được chạy lung tung. Bà nói hôm nay trong làng có khách lạ, người đông miệng tạp, trẻ con tốt nhất nên ở yên trong nhà.
Tôi hỏi bà:
“Có phải vì con không?”
Bàn tay đang cài lại khuy áo của mẹ khựng lại.
Một lúc sau, bà mới đáp:
“Không phải.”
Bà nói dối rất vụng.
Vụng đến mức ngay cả một đứa trẻ như tôi cũng nhìn ra.
Tôi cúi đầu, không hỏi thêm.
Chuyện này vốn chẳng có gì mới mẻ.
Từ ngày tôi biết nhận thức, người trong làng đã chẳng mấy khi gọi tên tôi. Bọn họ thường dùng những từ như đứa mang dấu, đứa trẻ xui xẻo, hoặc đơn giản hơn, chỉ cần nhìn thấy tôi từ xa, họ sẽ kéo con mình tránh sang một bên.
Tôi không trách bọn họ.
Bởi vì ngay cả mẹ cũng chưa từng ôm tôi trước mặt người ngoài.
Tôi chỉ có một người thân duy nhất chịu nắm tay mình.
Đó là anh trai tôi.
Anh sinh trước tôi chưa đầy một khắc, nhưng người trong làng luôn cho rằng anh và tôi vốn chẳng nên cùng tồn tại.
Trên chân anh không có dấu vết gì.
Còn tôi thì có.
Một vòng bầm tím mờ nhạt nằm quanh mắt cá chân trái, trông tựa như từng bị một bàn tay vô hình siết chặt. Dù đã qua nhiều năm, dấu vết ấy vẫn không hề biến mất.
Có lần tôi thử lấy than bôi lên, muốn che nó đi.
Anh trai nhìn thấy, lập tức giật lấy thanh than trong tay tôi.
“Đừng làm vậy.”
Tôi ngước lên nhìn anh.
“Tại sao?”
Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngồi xuống trước mặt tôi.
“Bởi vì em không cần phải che giấu chuyện mình là ai.”
Khi ấy, tôi vui lắm.
Tôi nghĩ anh tin tôi.
Tôi nghĩ ít nhất trên đời này vẫn có một người không sợ tôi sẽ mang đến tai họa.
Cho đến một đêm nọ, tôi tỉnh giấc vì tiếng khóc của mẹ.
Ngoài sân có người đang nói chuyện.
Giọng nói rất nhỏ, nhưng trong đêm đông tĩnh mịch, từng chữ vẫn lọt qua khe cửa.
“... Không thể giữ nó lại được nữa.”
Là giọng của dì Hoa.
“Đã bao nhiêu năm rồi? Chẳng lẽ bà còn muốn cả nhà chết theo nó?”
Tôi không nghe thấy mẹ trả lời.
Dì Hoa lại nói:
“Bà quên truyền thuyết của tổ tiên rồi sao? Song sinh có ấn ký, một người là thật, một người là giả. Giữ cái giả bên cạnh, sớm muộn gì cái thật cũng bị thay thế.”
Tiếng gió thổi qua mái hiên.
Tôi nín thở, cuộn mình trong chăn.
Sau đó, tôi nghe thấy giọng mẹ.
“Nhưng nó cũng là con tôi.”
Chỉ một câu ấy thôi.
Tôi đã nhớ suốt nhiều năm.
Bởi vì ngay sau đó, dì Hoa nói một câu khiến tôi không tài nào hiểu nổi.
“Vậy bà có chắc... đứa trẻ không có dấu mới là con bà không?”
---
Có tiếng gõ cửa.
Cộc.
Cộc, cộc.
Tôi giật mình, thanh củi trong tay rơi xuống đất.
Ngoài cửa vang lên giọng một người đàn ông xa lạ:
“Xin hỏi, có ai ở nhà không?”
Tôi không trả lời.
Mẹ đã dặn không được mở cửa cho người lạ.
Tiếng gõ cửa lại vang lên, lần này chậm hơn.
“Chúng tôi là khách từ Khánh Tân đến. Xe bị hỏng ở đầu ngõ, muốn xin chút nước nóng.”
Tôi nhìn chiếc ấm đất đặt trên bếp.
Trong ấm vẫn còn nước, nhưng đã nguội từ lâu.
Tôi do dự một lát, cuối cùng vẫn đứng dậy, ghé mắt qua khe cửa.
Bên ngoài có ba người.
Một người đàn ông mặc áo khoác đen, một người phụ nữ quàng khăn đỏ, và một ông lão tóc bạc đang chống gậy.
Người đàn ông đứng gần cửa nhất, dáng vẻ lịch sự, trên vai còn đọng vài bông tuyết.
Tôi vừa định lên tiếng, ông lão phía sau bỗng ngẩng đầu.
Ánh mắt ông dừng lại trên mặt tôi.
Sau đó, ông nhìn xuống chân tôi.
Tôi lập tức lùi về sau một bước.
Ống quần của tôi bị cuốn lên từ lúc nào, để lộ một đoạn mắt cá chân tái nhợt.
Ông lão không nói gì.
Ông chỉ nhìn chằm chằm vào dấu bầm tím ấy, bàn tay cầm gậy bỗng run lên.
Người phụ nữ quàng khăn đỏ nhận ra sự khác thường, thấp giọng hỏi:
“Thầy, có chuyện gì vậy?”
Ông lão không đáp.
Một lúc lâu sau, ông mới chậm rãi hỏi tôi:
“Đứa trẻ, cháu sinh năm nào?”
Tôi mím môi.
“Mậu Tuất.”
Ba người bên ngoài đồng loạt biến sắc.
Người đàn ông mặc áo khoác đen quay đầu nhìn ông lão, vẻ mặt không thể tin nổi.
“Không thể nào. Chẳng phải năm ấy...”
Ông lão đột ngột giơ tay, ngăn anh ta nói tiếp.
Rồi ông nhìn tôi, ánh mắt phức tạp đến mức tôi không thể hiểu nổi.
“Trong nhà cháu còn ai khác không?”
Tôi gật đầu.
“Có anh trai.”
“Anh cháu có ở đây không?”
“Không ạ. Anh cháu đi lên núi từ sáng.”
Ông lão nhắm mắt lại.
Tôi nghe thấy ông lẩm bẩm một câu rất khẽ.
“Thì ra vẫn còn sống.”
Tôi không hiểu ông đang nói về ai.
Cũng không hiểu tại sao người phụ nữ bên cạnh lại đột nhiên tái mặt, còn người đàn ông mặc áo khoác đen thì nhìn tôi như thể đang nhìn thấy một người chết trở về.
Tôi chỉ biết, khi ông lão quay người rời đi, ông đã để lại một câu nói.
“Đêm nay, dù nghe thấy bất cứ ai gọi tên mình, cháu cũng không được mở cửa.”
Tôi đứng chết lặng.
Bởi vì ngay khoảnh khắc ấy, từ phía sau lưng tôi, trong căn nhà vốn không có một bóng người, bỗng vang lên giọng nói quen thuộc.
“Em gái.”
Là giọng của anh trai tôi.
“Em mở cửa cho anh.”
Tôi từ từ quay đầu.
Cánh cửa gỗ vẫn đóng chặt.
Bên ngoài, người đàn ông mặc áo khoác đen đã bước được vài bước bỗng dừng lại. Ông lão chống gậy cũng đứng khựng giữa màn tuyết.
Không ai quay đầu.
Không ai dám quay đầu.
Bởi vì cả ba người đều nghe thấy giọng nói ấy.
Và bởi vì, ngay dưới chân tôi, cái bóng vốn chỉ có một người bỗng kéo dài ra trên nền đất.
Nó có hai cái đầu.
Một cái đang đứng cạnh tôi.
Cái còn lại...
Đang đứng bên ngoài cánh cửa.