Tôi không bước vào cuộc hôn nhân của họ. Tôi bước vào khoảng trống giữa họ.
Người ta gọi tôi là người thứ ba. Nghe như một vị trí trong hàng đợi. Người thứ nhất, người thứ hai, rồi đến tôi.
Tôi gặp Minh vào một chiều mưa tháng Bảy ở hiệu sách cũ trên phố Đinh Lễ. Anh đứng ở kệ văn học Nga, tay cầm một cuốn Dostoevsky đã sờn gáy.
"Anh đọc Dostoevsky để làm gì?" Tôi buột miệng hỏi.
Anh cười: "Để thấy mình bớt tội lỗi hơn các nhân vật của ông ấy."
Đó là cách chúng tôi bắt đầu. Không phải bằng một cái nhìn đắm đuối, mà bằng một câu đùa.
Minh hơn tôi 8 tuổi. Anh có vợ, một cô con gái 4 tuổi, và một căn hộ chung cư luôn gọn gàng. Anh kể về họ một cách tự nhiên, không giấu giếm. Vợ anh tên Lan, làm kế toán, nấu ăn rất ngon nhưng ghét văn học Nga. Con gái anh thích khủng long.
Tôi thích sự trung thực đó. Tôi đã nghĩ trung thực là một loại tử tế.
Chúng tôi hẹn nhau uống cà phê mỗi thứ Tư. Rồi thứ Tư và thứ Sáu. Rồi bất cứ khi nào anh nói "hôm nay công ty họp muộn". Tôi chưa bao giờ nhắn tin trước. Đó là luật ngầm của tôi để tự thấy mình vẫn còn tự trọng.
Lan không hề biết tôi. Hoặc có lẽ chị ấy biết, theo cái cách mà phụ nữ luôn biết. Một lần, Minh cho tôi xem ảnh gia đình họ đi biển. Lan cười rất tươi, tay ôm con gái. Tôi nhìn vào nụ cười đó rất lâu.
"Em có thấy mình ác không?" Tôi hỏi anh một đêm.
"Không," anh nói. "Anh thấy mình là một thằng tồi tệ đang cố làm hai người phụ nữ đều hạnh phúc, và thất bại cả hai."
Tôi đã yêu anh vào khoảnh khắc đó. Vì sự hèn nhát thành thật của anh.
Làm người thứ ba, người ta tưởng tượng sẽ có những cuộc ghen tuông, những tin nhắn lúc nửa đêm, những lời hứa "anh sẽ bỏ vợ". Không có. Chúng tôi chỉ có những buổi chiều yên tĩnh. Anh kể tôi nghe về áp lực trả tiền học cho con, về việc Lan đã khóc vì anh quên ngày kỷ niệm. Tôi kể anh nghe về bản thảo truyện ngắn bị từ chối lần thứ bảy, về mẹ tôi ở quê cứ giục lấy chồng.
Chúng tôi là hai người cô đơn mượn tạm nhau một chỗ trú mưa.
Cho đến một ngày tháng Mười Một.
Tôi bị sốt. 39 độ. Tôi nằm một mình trong phòng trọ, không dám gọi cho Minh vì hôm đó là sinh nhật con gái anh. Tôi chỉ nhắn một tin: "Em ốm."
Ba tiếng sau, cửa phòng tôi mở. Là Minh, người ướt sũng, tay cầm cháo và thuốc.
"Sao anh lại đến đây?" Tôi thều thào. "Hôm nay là sinh nhật con bé mà."
"Anh đã cắt bánh xong rồi. Anh nói anh phải ra ngoài mua pin cho đồ chơi con bé hết pin." Anh vừa nói vừa sờ trán tôi.
Và tôi đã hiểu. Tôi không phải là người tình. Tôi là một lời nói dối được chuẩn bị sẵn. Một viên pin.
Tôi khỏi ốm sau ba ngày. Và tôi cũng khỏi yêu sau ba ngày đó.
Tôi không khóc lóc, không đòi anh phải chọn. Tôi chỉ hẹn anh ra quán cà phê quen.
"Mình dừng lại đi anh," tôi nói.
Anh im lặng rất lâu, rồi gật đầu. Anh không níu kéo. Có lẽ anh cũng đã đợi câu nói này từ lâu, để được nhẹ nhõm.
"Em sẽ ổn chứ?" Anh hỏi.
"Em sẽ viết một truyện ngắn về anh," tôi nói đùa. "Cho anh thành một gã tệ hơn ngoài đời cho bõ tức."
Anh cười, nụ cười buồn hiu.
Bây giờ đã là tháng Năm. Tôi vẫn đi qua hiệu sách cũ đó, vẫn đọc Dostoevsky. Tôi nghe nói Minh đã chuyển công ty, gia đình anh chuyển vào Đà Nẵng sống gần ông bà ngoại.
Đôi khi tôi tự hỏi, nếu ngày đó tôi không nhắn tin "Em ốm", liệu chúng tôi còn có thể tiếp tục làm hai kẻ cô đơn tử tế của nhau không?
Nhưng rồi tôi lại nghĩ, làm người thứ ba đau nhất không phải là khi bị bỏ rơi. Mà là lúc nhận ra, mình chưa bao giờ thực sự được ở trong câu chuyện của ai cả. Mình chỉ đứng ở lề trang, làm một chú thích nhỏ mà người ta có thể xóa đi bất cứ lúc nào, không để lại dấu vết.
Tôi đã xóa số của anh. Nhưng tôi vẫn giữ cuốn Dostoevsky sờn gáy anh tặng. Ở trang 137, có một dòng anh gạch chân: "Chúng ta đều cần một ai đó để thú tội."
Tôi đã từng là người nghe lời thú tội đó. Chỉ vậy thôi.