Sau cánh cửa cuối hành lang
Tác giả: Olivia
Huyền Dị/Phạm tội
Phạm Ngọc Mai năm nay 25 tuổi, là một cô gái từ quê lên Sài Gòn làm việc, sống độc lập, thực tế và không tin vào những chuyện tâm linh.
Nguyễn Thị Hảo năm nay 58 tuổi, là chủ khu nhà trọ, vẻ ngoài hiền lành, chu đáo nhưng cất giấu một bí mật kinh hoàng liên quan đến con gái.
Trần Minh Tuấn năm nay 28 tuổi, là người thuê phòng 307, đã sống tại khu trọ gần hai năm. Anh biết nhiều chuyện kỳ lạ nhưng luôn cố tình né tránh.
Nguyễn Ngọc Thư là con gái bà Hảo, đã qua đời trong một vụ hỏa hoạn cách đây gần ba năm.
Mai chuyển đến khu nhà trọ vào một ngày giữa tháng bảy. Khu trọ nằm sâu trong một con hẻm nhỏ ở Sài Gòn, có ba tầng, mỗi tầng tám phòng. Dù đã cũ kỹ, nơi này vẫn khá sạch sẽ, giá thuê lại rẻ hơn nhiều so với những khu vực lân cận.
Người dẫn Mai đi xem phòng là bà Hảo, chủ nhà trọ. Bà khoảng gần sáu mươi tuổi, dáng người hơi gầy, tóc đã bạc nhiều nhưng lúc nào cũng búi gọn phía sau.
Sau khi giúp Mai mang hành lý lên tầng ba, bà chỉ vào căn phòng cuối dãy: “Đây là phòng 308. Cháu cứ ở thử, có gì không vừa ý thì nói với cô.”
Mai nhìn sơ qua căn phòng cảm thấy hài lòng rồi vui vẻ cảm ơn.
Trước khi xuống nhà, bà Hảo còn dặn thêm: “Cô nhắc cháu vài điều, ban đêm hạn chế đi lại ngoài hành lang, nhất là sau mười hai giờ. Nếu nghe tiếng ai gọi tên mình thì cũng đừng vội trả lời nhé.”
“Cô sợ trộm hả cô?”-Mai bật cười.
Bà Hảo không cười theo: “Không phải. Có những chuyện tốt nhất cháu không nên tò mò.”
Nói xong, bà quay lưng đi xuống cầu thang.
Mai nghĩ bụng chắc chủ nhà hơi mê tín. Cô không để tâm nhiều mà nhanh chóng sắp xếp đồ đạc rồi bắt đầu cuộc sống mới.
Đối diện phòng Mai là phòng 307, nơi một người đàn ông tên Tuấn đang thuê. Anh khoảng hai mươi tám tuổi, làm nhân viên kỹ thuật cho một công ty gần đó. Ngày đầu gặp nhau, Tuấn khá thân thiện còn chủ động giúp Mai chuyển một chiếc tủ nhỏ vào phòng.
Những ngày đầu tiên trôi qua bình thường. Mai đi làm từ sáng đến chiều, tối về phòng ăn uống, xem phim rồi ngủ. Thỉnh thoảng cô trò chuyện với Tuấn ở hành lang.
Cho đến một đêm thứ bảy, khoảng tầm hai giờ sáng, Mai đang ngủ thì nghe thấy tiếng chuông leng keng bên ngoài.
Cô mở mắt, nằm im lắng nghe tiếng động.
Tiếng chuông vang lên ba lần, sau đó là tiếng bước chân chậm rãi tiến về phía phòng cô.
Cộc... cộc... cộc...
Có người gõ cửa.
“Mai ơi...”
Một giọng nữ rất nhỏ vang lên: “Mai mở cửa cho tôi với...”
Mai ngồi bật dậy. Cô nhìn đồng hồ, kim chỉ đúng 2 giờ 17 phút. Nhớ lại lời bà Hảo, cô không dám lên tiếng.
Bên ngoài tiếp tục có tiếng gõ cửa: “Chị Mai... em lạnh quá...”
Mai kéo chăn trùm kín đầu. Cô nằm bất động cho đến khi trời sáng.
Sáng hôm sau, khi mở cửa, Mai phát hiện trước phòng có một vệt nước dài giống như dấu chân người vừa đi qua nhưng hành lang hoàn toàn khô ráo và không có dấu hiệu nào cho thấy ai vừa lau dọn.
Cô kể cho Tuấn nghe chuyện mình đã gặp đêm qua khi vô tình gặp anh vào chiều tan tầm.
Nghe xong, Tuấn chỉ hỏi: “Em có mở cửa không?”
“Không, em nhớ lời cô Hảo nên không mở.”
Tuấn thở phào: “Vậy thì tốt.”
“Mà sao anh hỏi vậy? Anh biết chuyện gì à?”
Tuấn im lặng một lúc rồi đáp: “Ở đây lâu, em sẽ hiểu. Có những chuyện đừng nên hỏi.”
Câu trả lời ấy khiến Mai càng thêm tò mò.
Những ngày sau, cô bắt đầu phát hiện những thứ kỳ lạ trong phòng. Một sợi chỉ đỏ được thắt thành ba nút xuất hiện dưới gối. Một mảnh giấy nhỏ có ghi tên cô nằm trong ngăn tủ, dù cô chắc chắn chưa từng viết nó.
Đêm nào Mai cũng mơ thấy một cô gái mặc áo trắng ngồi ở cuối giường, tay cầm chiếc lược gỗ chậm rãi chải tóc.
Trong giấc mơ, cô gái không nói gì cũng không bao giờ quay mặt lại.
Cho đến một đêm, cô ta bất ngờ lên tiếng: “Mai không nhớ tôi sao?”
Mai giật mình tỉnh dậy, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Sáng hôm sau, cô kể lại giấc mơ cho Tuấn.
Khi nghe đến chiếc lược gỗ, sắc mặt anh lập tức thay đổi: “Em nhìn thấy cô gái đó thật à?”
“Em chỉ nằm mơ thôi. Nhưng sao anh có vẻ sợ vậy?”
Tuấn nhìn quanh hành lang rồi hạ giọng đủ 2 người nghe: “Trước đây có một cô gái từng thuê phòng 308. Cô ấy cũng kể rằng đêm nào cũng có người đứng ngoài cửa chải tóc. Sau đó cô ấy chuyển đi mà không nói với ai.”
“Chuyện đó xảy ra bao lâu rồi anh?”
“Khoảng hai năm trước rồi. Từ khi anh mới về đây, trò chuyện cũng vài lần rồi cô ấy chuyển đi.”
Mai chưa kịp hỏi thêm thì bà Hảo từ dưới cầu thang đi lên. Bà nhìn hai người rồi dừng mắt ở cổ tay Mai: “Cháu có thấy vật gì lạ trong phòng không?”
Mai hơi chần chừ: “Dạ không cô.”
Bà Hảo nhìn cô thêm vài giây rồi gật đầu: “Vậy thì tốt. Nếu có gì bất thường, cứ nói với cô.”
Chiều hôm ấy, Mai phát hiện bà Hảo có một căn phòng riêng nằm phía sau cầu thang tầng ba.
Cánh cửa luôn khóa, bên ngoài còn treo một chiếc chuông đồng nhỏ.
Tối đó khi bà Hảo rời khỏi nhà để đi thăm người quen. Mai và Tuấn quyết định tìm cách mở căn phòng ấy. Bên trong tối om, mùi nhang trầm nồng nặc. Một chiếc bàn thờ nhỏ đặt sát tường, phía trên là bức ảnh một cô gái trẻ có mái tóc dài.
Mai tiến lại gần xem. Dưới bức ảnh ghi tên Nguyễn Ngọc Thư, sinh năm 2001, mất năm 2023.
Bên cạnh bàn thờ là một chiếc hộp gỗ và cuốn sổ dày. Mai liên mở cuốn sổ ra xem, những trang đầu ghi tên những người từng thuê phòng trong khu trọ. Mỗi người đều có ngày chuyển đến, ngày chuyển đi và một ký hiệu màu đỏ bên cạnh.
Cô lật đến trang cuối, thấy tên mình xuất hiện ở đó. Phạm Ngọc Mai – Phòng 308 – Ngày kết thúc: 18/07.
Mai nhìn dòng thời gian trên điện thoại mình, hôm nay là ngày 17/07: “Anh Tuấn... Anh nhìn này.”
Tuấn tiến lại gần, sắc mặt lập tức tái đi.
Dưới tên Mai là một dòng chữ nhỏ: Vật dẫn đã đủ. Chờ ngày hoàn lễ.
Ngay lúc đó, tiếng cửa mở vang lên phía sau.
Bà Hảo đứng ở ngưỡng cửa: “Hai đứa đang làm gì trong phòng của cô?”
Tuấn vội đứng chắn trước bảo vệ Mai, Bà Hảo nhìn cuốn sổ trong tay cô. Gương mặt hiền hậu thường ngày biến mất, thay vào đó là vẻ lạnh lùng khó hiểu.
“Cô đã bảo cháu đừng tò mò rồi mà.”
Mai cố giữ bình tĩnh: “Cô đang làm gì những người thuê trọ? Tại sao tên cháu lại có trong cuốn sổ này?”
Bà Hảo không trả lời. Bà chỉ bước đến lấy lại cuốn sổ rồi khóa cửa phòng: “Cháu không nên xuất hiện ở đây.”
Đêm hôm đó, Mai không ngủ được. Cô liên tục nghĩ đến những gì vừa nhìn thấy.
Khoảng 2 giờ 17 phút, tiếng chuông đồng lại vang lên nhưng lần này, Mai không nghe thấy tiếng gõ cửa mà cô nghe tiếng một người phụ nữ gọi mình từ cuối hành lang.
“Mai...”
Cô mở cửa và rồi nhìn thấy cánh cửa số 309 xuất hiện ở cuối dãy.
Mai biết mình không nên bước đến nhưng một cảm giác kỳ lạ thôi thúc cô tiến lại gần.
Cánh cửa từ từ hé mở, bên trong có ánh đèn dầu leo lét.
Cô gái mặc áo trắng đứng bên trong, vẫn cầm chiếc lược gỗ: “Mai vào đây...”
Mai bước qua ngưỡng cửa, căn phòng có một chiếc rương gỗ cũ đặt giữa nhà. Trên tường treo đầy những sợi chỉ đỏ, xen lẫn những mảnh giấy ghi tên người.
Cô gái từ từ quay mặt lại, đó chính là Thư trong bức ảnh.
“Tại sao Thư cứ tìm tôi?”-Mai run rẩy hỏi.
Thư nhìn cô bằng đôi mắt buồn bã: “Vì Mai là người duy nhất có thể giúp tôi rời khỏi đây.”
“Nhưng tại sao lại là tôi?”
Thư cúi đầu, kể rằng hơn hai mươi năm trước, mẹ Mai từng thuê phòng tại khu trọ này.
Trong một đêm xảy ra hỏa hoạn, Mai khi ấy đã bị mắc kẹt trong căn phòng bên cạnh.
Thư đã chạy vào cứu Mai, đưa cô ra ngoài nhưng bản thân không thể thoát khỏi đám cháy.
Sau khi con gái qua đời, bà Hảo không chấp nhận sự thật. Bà tìm đến một người hành nghề tà thuật, nhờ thực hiện nghi lễ giữ linh hồn Thư ở lại.
Người đó đã dùng tóc, chỉ đỏ và tên tuổi của những người sống làm vật dẫn. Bà Hảo tin rằng chỉ cần duy trì nghi lễ, một ngày nào đó con gái sẽ trở về nhưng nghi lễ ấy không thể hồi sinh người chết mà chỉ khiến linh hồn Thư bị trói buộc trong khu trọ.
“Tôi không muốn làm hại ai cả, tôi chỉ muốn mẹ dừng lại thôi.”
Mai nhìn cô gái trước mặt, trong lòng vừa sợ hãi vừa thương cảm: “Vậy tôi phải làm gì?”
Thư chỉ tay về phía chiếc rương: “Thứ giữ tôi lại nằm trong đó.”
Mai tỉnh dậy trên sàn phòng mình vào sáng hôm sau. Trong tay cô là một chiếc chìa khóa nhỏ.
Cô lập tức tìm Tuấn, kể lại mọi chuyện.
“Nếu như vậy, trước khi em từng sống ở đây.”
“Thật ra em bị mất trí nhớ nhưng chỉ khoảng hai tới ba năm gì đó thôi. Sau đó em và mẹ về quê sống. Giờ em phải lên đây làm việc nên mới chuyển lại đây ở.”
“Tức là năm đó khi em và mẹ sống ở đây thì vụ hỏa hoạn xảy ra, chính Thư cứu em rồi cô ấy mất ở đây. Sau đó có thể bị chấn thương, ngạt khói và ảnh hưởng tâm lý nên không nhớ rõ những gì đã xảy ra trong đêm đó.”
“Dạ theo lời Thư là như vậy.”
Hai người quyết định đối diện với bà Hảo.
Khi Mai nhắc đến chiếc rương, bà Hảo bật khóc: “Cháu không hiểu đâu! Cô chỉ muốn con cô trở về thôi!”
“Cô đang khiến rất nhiều người phải chịu khổ và Thư không muốn cô làm vậy.”
Bà Hảo ôm mặt: “Cô đã mất nó một lần rồi. Cô không thể mất nó thêm lần nữa.”
Mai nhẹ nhàng nói: “Nếu cô làm vậy thì cô chỉ giữ Thư ở lại trong đau khổ thôi.”
Bà Hảo im lặng rất lâu. Cuối cùng, bà dẫn Mai và Tuấn đến căn phòng số 309.
Bên trong chiếc rương là chiếc lược gỗ của Thư, vài bức ảnh cũ và một tấm vải đỏ đã ngả màu. Bà Hảo thú nhận rằng người hành nghề tà thuật từng dặn bà phải duy trì nghi lễ bằng cách dùng vật dẫn của những người sống. Nếu không, bà sẽ vĩnh viễn mất con gái.
Bà đã tin điều đó suốt ba năm nay nhưng giờ đây bà hiểu rằng mình không thể tiếp tục giữ con bằng cách khiến người khác đau khổ.
Bà tự tay tháo những sợi chỉ đỏ trên tường, lấy cuốn sổ ra và đốt bỏ những tờ giấy dùng trong nghi lễ. Ngọn lửa bùng lên, tiếng chuông đồng vang lên dữ dội. Căn phòng rung chuyển, ngọn đèn dầu vụt tắt.
Trong bóng tối, một giọng nữ dịu dàng vang lên: “Mẹ...”
Bà Hảo quỳ xuống: “Thư... Con ơi...”
“Con đi đây, mẹ đừng khóc nữa.”
Một bóng người đứng trước mặt bà. Lần này Thư không còn mặc chiếc áo trắng cũ. Cô mặc một chiếc váy màu xanh nhạt, mái tóc được chải gọn gàng.
Thư mỉm cười nhẹ nhàng: “Con không giận mẹ đâu.”
Bà Hảo đưa tay về phía con gái nhưng bóng người dần tan biến.
Trước khi biến mất, Thư quay sang Mai: “Cảm ơn Mai nhiều lắm.”
Rồi căn phòng dần chìm vào im lặng. Khi Mai mở mắt, trước mặt cô chỉ còn một bức tường cũ. Cánh cửa số 309 đã biến mất.
Một tháng sau, khu trọ được sửa sang lại. Những người từng thuê phòng trước đây không còn gặp những hiện tượng kỳ lạ.
Tuấn chuyển đến nơi khác còn Mai cũng tìm được một căn hộ mới gần chỗ làm.
Bà Hảo vẫn sống trong căn nhà cũ nhưng không còn thực hiện những nghi lễ trước đây.
Một buổi chiều nọ bà gọi điện cho Mai, giọng nghẹn ngào kể rằng bà vừa tìm thấy chiếc lược gỗ của Thư đặt trước cửa phòng mình.
Bên dưới chiếc lược có một mảnh giấy nhỏ: "Mẹ ơi, con về nhà rồi."
Mai nghe bà khóc qua điện thoại, lòng cũng thấy nhẹ nhõm.
Tối hôm ấy, Mai trở về căn hộ mới. Cô tắm rửa, ăn tối rồi đi ngủ sớm.
Khoảng 2 giờ 17 phút sáng , cô bất chợt tỉnh giấc vì nghe thấy tiếng chuông nhỏ.
Keng... keng… keng…
Mai ngồi dậy. Trên bàn cạnh giường xuất hiện chiếc lược gỗ cũ. Cô tiến lại gần, cầm nó lên.
Phía sau chiếc lược có khắc một dòng chữ rất nhỏ: "Cảm ơn Mai đã giúp Thư."
Mai mỉm cười, đặt chiếc lược vào ngăn kéo.
Cô nghĩ mọi chuyện cuối cùng cũng đã kết thúc nhưng đúng lúc ấy, điện thoại trên bàn sáng lên.
Một tin nhắn từ số lạ: "Chị ơi, phòng 309 còn trống không?"
Mai cau mày. Cô mở tin nhắn, định hỏi người gửi là ai nhưng khi nhìn lại số điện thoại, cô nhận ra đó là số của bà Hảo.
Mai lập tức gọi lại nhưng không ai bắt máy.
Một lát sau, điện thoại rung lên lần nữa.
Lần này là một tin nhắn khác: "Đừng mở cửa. Nó không phải Thư."
Mai cảm thấy toàn thân lạnh buốt.
Ngay sau đó, bên ngoài căn hộ vang lên ba tiếng gõ cửa. Cộc... Cộc... Cộc...
Một giọng nữ rất nhỏ cất lên: “Chị Mai ơi... mở cửa cho em với...”
Mai chết lặng.
Cô nhìn đồng hồ: 2 giờ 17 phút.
Và lần này, giọng nói ấy không còn giống Thư nữa.