Trước đây khi chưa là Trưởng làng ông Chiến bị người dân đánh giá là hâm hâm, sáng say chiều xỉn. Nhưng ngay từ tuần đầu tiên nhận chức vụ mới, ông đã huy động con dân trong làng mỗi người một tay, vệ sinh sạch sẽ đường làng ngõ xóm, cả các khu vực tâm linh như đình làng, miếu thần hoàng, mồ mả của các cụ khai canh và những người vô danh đều được ông quan tâm.
Ông đang chỉ đạo mọi người dọn dẹp thì thằng Hiếu hối hả chạy đến la lớn:
- Báo cáo bác Chiến, anh em làng mình trong lúc phát quan thì phát hiện một ngôi mộ lạ, nhìn có vẻ lâu đời, mời Bác và các cụ đến xem ạ!
Nghe thấy thế, ông Chiến cùng các cụ chạy theo sau thằng Hiếu, đến bên ngọn đồi nhỏ. Trước đây nơi này là lùm cây um tùm, ngôi mộ nằm sâu trong lùm cây đó nên không ai để ý tới, giờ nhờ được dân làng phát quan, nên nó mới lộ ra. Ngôi mộ được đặt xung quanh rất nhiều đá cụi, phía trước ngôi mộ còn có tấm bia bằng đá, có khắc ba chữ một cách vội vàng, riêng chữ ở giữa bị mờ không còn nhận rõ mặt chữ.
Các cụ lần lượt người này rồi người kia đến nhìn tấm bia mà lắc đầu quầy quậy, không ai hiểu được chữ đó có nội dung gì, chỉ biết đó là chữ Hán. Thấy mọi người học cao, hiểu rộng hơn mình mà còn không đọc được, ông Chiến biết mình càng không thể hiểu, nên đến bên tấm bia, định bụng bảo thằng Hiếu chụp bức hình rồi nhờ người dịch hộ. Khi ông vừa nhìn xuống tấm bia thì ánh mắt ông lóe sáng, ông cười khà khà rồi nói:
- Là chữ “Thần” đó mọi người ơi! Vậy đây chắc chắn là mộ phần của thần rồi. Làng ta phải quyên góp mà sửa sang lại mồ mả của ngài cho nó đàng hoàng, để ngài còn phù hộ cho?
Các cụ trong làng nghe ông Chiến nói từ ngơ ngác chuyển sang nghi ngờ, bởi các ông người nào cũng học đến lớp tám, lớp chín mà còn chưa đọc được cái chữ trên phiến đá kia. Ông Chiến chỉ học lớp ba thì đọc quái thế nào được? Nghĩ là nghĩ thế nhưng chẳng ai cãi lại ông, bởi lúc này mà cãi với ông Chiến thì chính là cãi lại Trưởng làng, mà trái ý Trưởng làng là đi ngược ý của cả làng. Ai dại gì mà lên tiếng phản bác.
Tưởng cái chữ gì, chứ cái chữ “Thần” này ông Chiến còn lạ lẫm gì nữa, bởi hồi nhỏ ông thường đi chăn trâu, suốt ngày vào các đền thờ, miếu mạo, nơi nào mà chẳng có chữ này. Ban đầu ông nhìn cho vui, lúc rảnh rỗi ông lại lấy than, gạch, họa theo, dần dà quen mặt chữ, nên khi mới nhìn vào là ông biết ngay đây là chữ “Thần”. Nhưng ông biết, mọi người vẫn chưa phục nên ông vẫn bảo thằng Hiếu chụp ảnh lại, nhờ người biết chữ Hán dịch để cho mọi người tâm phục, khẩu phục.
Thằng Hiếu “dạ” làm theo, chưa đầy mười lăm phút gửi mail, người ta dịch nguyên văn là “ Thần … tặc”, như vậy là chữ ở giữa bị mờ không dịch được, còn lại dịch được hai chữ, rõ ràng là có chữ “Thần”. Đến lúc này thì mọi người mới công nhận là ông Chiến đúng, và ông cũng rất giỏi vì ngoài chữ quốc ngữ ông đọc được tọ tẹ thì còn đọc được cả…chữ Hán.
Cụ Nhiên, cựu Trưởng làng nhìn thấy thế, cũng vuốt chòm râu bạc mà cảm thán:
- Đấy, đấy, tôi đưa chú Chiến lên làm Trưởng làng là vì chú ấy giỏi thật sự, tuy chỉ học hết lớp ba, nhưng là người có trình độ thật chứ không đùa đâu?
Một số cụ trong làng lâu nay không vừa lòng với ông Chiến thì tức lắm. Vì cụ Nhiên nói thế thì chả khác gì bảo các cụ học đến lớp tám, lớp chín mà đến mỗi chữ “Thần” cũng không đọc được. Nhưng lúc này biết nói thế nào đây, thật sự lúc này họ đang thua ông Chiến, lên tiếng chả khác gì tự vả vào mồm mình. Nên thôi im lặng cho nó yên chuyện.
Sáng ngày hôm sau, ông Chiến tổ chức một cuộc họp nóng giữa các cụ bô lão trong làng, ông phân tích:
- Người đang nằm dưới mộ kia không đơn giản. Chữ “Thần” được khắc trên bia đá cho thấy vị này được các ông cha chúng ta ghi nhận, hoặc vua chúa đời trước công nhận công lao mà sắc phong. Chữ ở giữa vì lâu ngày nên bị hư hại, nên chúng ta không biết rõ được, mà bản thân tôi cũng không dám đoán bừa. Riêng chữ “Tặc” thì có thể nói đến đây là vị thần chuyên chế ngự các loại yêu tặc trong khu vực này, giúp dân làng chúng ta được yên bình thoát kiếp nạn hoành hành của các loại tặc sau này như hải tặc, sơn tặc, mã tặc, dâm tặc… rồi cát tặc, cẩu tặc… Nói tóm lại thì nhờ vị “Thần… tặc” này chuyên trị bọn giặc cướp, làm loạn, hại người, mà dân làng chúng ta lâu nay được yên ổn làm ăn. Vì vậy, tôi đề nghị chúng ta mỗi người đóng góp một ít, kẻ góp công, người góp của xây dựng am miếu cho ngài, để thờ tự hương khói cho đúng vai, phải vế.
Sau khi nghe ông Chiến phân tích, phần đông đều tán thưởng, thống nhất.
- Phải, phải, phân tích đúng lắm, rất chính xác.
Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi xì xào về trình độ, năng lực thực tế của ông:
- Mà này, có phải ông Chiến chỉ học lớp ba thôi à? Sao tôi thấy ông phân tích cặn kẽ mà giỏi thế?
- Ông Chiến giữ trâu mà sao phân tích cứ như thầy giáo giảng bài ấy nhỉ?
Nghe mọi người nhỏ to bàn tán, ông mỉm cười đắc chí. Khuôn mặt ông biểu hiện lên sự vui sướng lắm, vì chỉ mới đây thôi, mọi người còn khinh bỉ, không thèm quan tâm đến ông trong cuộc họp. Mà chỉ mới sau một tuần thôi, ông đã làm mọi người có cái nhìn hoàn toàn khác về ông.
Họ đâu biết rằng để phân tích được những câu chữ trên, cả đêm hôm qua ông phải điện thoại cho thằng Duy cháu ông nhờ nó tư vấn cho. Duy hiện đang làm việc ở Lao Bảo, gần biên giới của hai nước Việt - Lào. Cũng là người giúp ông lên ngồi được cái ghế Trưởng làng. Ông nghe xong, chép lại rồi thức cả đêm để học thuộc bài, đến sáng nay mới nói năng lưu loát như thế này khi đứng trước mọi người.
Vậy là được sự đồng thuận cao của các cụ trong làng, ông triển khai ngay việc quyên góp tiền của và xây dựng miếu thờ ngài “Thần … tặc”. Ông cho xây dựng lại nấm mồ bằng xi măng, bên trên còn có hẳn mái che để che mưa nắng, theo đúng kiểu dáng của đa phần các ngôi miếu hiện nay, nhìn khang trang và cũng rất sạch sẽ.
Điều kỳ lạ nơi miếu này là ở phía trước, nơi có tấm bia đá khắc chữ “Thần… tặc”, không hiểu từ đâu mọc lên tảng đá lớn nổi hẳn lên mặt đất, cao chừng nửa mét, ở giữa lõm xuống lượn sóng, hai đầu nổi lên, trông giống như tấm thân thiếu nữ đang ngả ngớn mời chào. Những thanh niên hài hước nhìn vào tảng đá mà tấm tắc khen lấy, khen để nuốt nước bọt vào trong.
- Thích thật, nhìn cứ như cái ghế tình yêu hiện nay đang quảng cáo trên mạng!
Ông Chiến và các cụ trong làng nhìn thấy cái ghế này thì cảm giác nhức mắt. Ông huy động thanh niên trong làng đem theo gậy gộc, cuốc xẻng để dời tảng đá kia ra nơi khác. Người đông, ai cũng mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm cả áo, hì hục suốt buổi sáng mà không tài nào suy chuyển được tảng đá bé tí đó. Cuối cùng dân làng đành để yên vị trí cũ.
Như vậy, từ chỗ chỉ là nấm mồ vô chủ không ai đoái hoài tới, chỉ trong thời gian ngắn, ngôi mộ “Thần… tặc” đã được người dân làng Long Tong xây dựng miếu thờ, được dân làng chăm lo hương khói thường xuyên không thiếu thứ gì. Thật là “một bước lên mây”.