Khói chiều
Tác giả: Phong Ngo Tuan
Hết cười rúc rích chạy lên nhà trên, hai chị em chúng đuổi túm nhau nhà dưới, rồi ào ra tới tận cổng lôi lôi kéo kéo, vừa chạy chúng vừa chọc ghẹo, la hét không dừng. Lão Mân tất tả ngoài cổng đi vào, đặt thân xuống cái sập trước hiên, tay liên hồi phừn phựt cái nón, tọt ly trà nguội để xua cái nóng, giọng lão oang oang :
-Dẹp, không chơi nữa, bây qua nhà chú Lĩnh coi có chi làm, đi thì thôi về nhà là như cái chợ, nhứt cả đầu. Lão vừa dứt lời
hai chị em xếp re lủi thủi, thúc lưng nhau vào nhà.
Gọi là chú nhưng hai gia đình chẳng bà con họ hàng gì, chú Lĩnh nhỏ hơn lão gần một giáp, cái nét phong sương cộng với nước da ngăm ngăm, thoạt nhìn chẳng chênh với lão là bao. Nhà chú Lĩnh đối diện bên kia đường, hơi chếch bên phải nhà lão, trước nhà chú là cánh đồng lúa trải dài chạy dọc theo đường thôn. Một vài hình nhân gầy tông teo, ngã nghiêng trong ruộng, trông chúng tinh nghịch lúc nào cũng líu chíu chực để được ngã lăn ra. Con đường đất thẳng tắp dẫn vào nhà chú như cái gạch nối bé nhỏ giữa cánh đồng, nó càng trở nên bé mọn, yếu ớt hơn dưới khoảng trời cao xa ngút ngàng, như cái tương quan giữa con người với thiên nhiên bao la vậy. Vào những chiều cuối hè khi cái nắng phương nam nhạt dần cuối thôn, con gái lớn của lão học trên phố cứ mãi nghển cổ đứng nhìn, như cố muốn tích góp thêm thật nhiều cái nền nả, mộc mạc của một vùng quê êm đềm, thân thương, để làm hành trang cho những ngày học xa nhà...Hàng cau xanh trước nhà chú lay khẽ, những cánh chim chiều dập dờn, dắt díu bay ngang qua, bầu trời yên ả, những áng mây lớn nhỏ lững lờ nối nhau trôi về phương xa tít.
Cách đây đã lâu, vợ chồng lão Mân lên thị xã ăn cưới con của bảy Hiền, bạn lão. Khi tiệc cuới bắt đầu, tình cờ có một cậu thanh niên lạ lẫm, ra dáng, đến bàn của lão lễ phép cúi chào, lịch sự xin phép được ngồi chung. Khởi đầu chỉ vài câu xả giao thăm dò, sau dần suốt buổi tiệc lão và cậu thanh niên trẻ nói chuyện say sưa hợp khẩu... Qua chuyện trò lão biết cậu thanh niên tên Lĩnh là em họ bảy Hiền, ở xa lần đầu đến vùng đất này, còn độc thân, nghèo không một xu dính túi. Tiệc tan lão chủ động rủ cậu lúc nào rảnh về nhà uống rượu do vợ lão nấu. Vợ lão hiền hậu, chân chất, rượu bà nấu "thơm" cả một vùng...Hôm Lĩnh ghé nhà, lão mừng ra mặt, bảo vợ coi ngó vuông tôm, rồi lăn xăn xuống bếp, tự tay làm mồi nhậu đãi khách, chú Lĩnh cũng xắn áo vào phụ. Loay hoay một hồi cũng xong, vài món nhậu dân quê được bày biện trên cái sập trước hiên. Hai người như tri kỷ lâu ngày gặp lại, huyên thuyên đủ chuyện trên đời, thi thoảng họ đánh tét vào đùi rồi phá lên cười ngặt ngưỡng, mấy ly rượu không biết chuyện gì cũng xô lách cách, xiên vẹo trong mâm.. Những câu chuyện phiếm vô thưởng vô phạt ít dần nhường lại cho những tính toán lo liệu một tương lai xa cho cả lão và chú Lĩnh. Không biết phải do rượu hay đã có dự tính từ trước, giọng lão chậm rãi, nghiêm túc:
- Thôi, chú coi về đây lập nghiệp, anh giúp chú, chịu khó là được, đất ở đây không phụ người.
Từ ngày gặp lão Mân trên thị xã, cuộc đời chú Lĩnh như định sẵn, gắn chặt với xứ xa lạ này.
Sau mấy ngày cặm cụi, hết đóng búa rồi lại lợp tôn, hết nện đất rồi chuyển qua xây tường..., cuối cùng hai anh em cũng hoàn thành cái lán mới, rộng rãi, chắc chắn và nhiều vật dụng hơn. Lão dặn dò:
- Tạm thời, đây là nhà chú, cứ cố gắng, sau này sẽ đổi cái khác cho chú.
Từ ngày chú Lĩnh về làm cùng, việc của lão không vì thế mà ít đi, hết ra đồng rồi lại gấp gáp xuống vuông tôm, nhiều hôm thấy lão ngồi bệt bên vìa ruộng hai tay bó gối thở mệt, ánh mắt vẫn ra điều mong lung, toan tính..
Lão Mân là người đầu tiên đem tôm về nuôi ở xứ này. Lão siêng năng, chăm chỉ. Thoạt đầu lão cũng làm lúa như bao nhà. Tích góp, vay mượn, lão mua thêm đất, học hỏi, rồi quyết định đào vuông thả tôm. Vợ lão lắm khi cũng thấy "nản" với tính khí của lão, không chịu yên, lúc nào cũng như tự tạo khó cho mình, rồi tìm cách vượt qua. Sau nhiều lần thất bại, cuối cùng vuông tôm của lão cũng được các thương lái biết đến. Thấy lão làm được, khấm khá hẳn, bà con trong thôn lũ lượt kéo đến nhà học cách nuôi tôm. Lão xem việc giúp bà con như việc của chính lão, những kinh nghiệm, bí quyết lão rút ruột nói hết cho bà con. Có hôm áo quần còn bết đầy bùn đất lão vẫn lặn lội ra tận vuông tôm thức canh cùng bà con, bàn bạc, tính toán, đưa ra phương cách tốt nhất, có lợi nhất cho họ. Lão là thế, khẳng khái cả trong việc giúp người, trong thôn ai cũng quí mến. Nhờ lão mà đời sống bà con khá lên nhiều.
Thấm thoát chú Lĩnh cũng trải qua mấy vụ lúa, xuống mấy vụ tôm cùng lão. Sau đợt thu hoạch tôm do chính chú tự tay nuôi, ngày đêm coi sóc, chăm bẵm. Vợ lão mừng thầm trong bụng kéo áo lão nói nhỏ:
- Ông coi tính chuyện cho chú Lĩnh. Tui thấy nhỏ Út Hương thường xuyên vào gặp chú cũng được đó.
Lão gật gật trả lời:
- Để tui hỏi chú, nếu được mình cưới nhỏ này cho chú.
Hôm cưới chú Lĩnh với cô Út Hương. Bên nhà trai chỉ có mẹ chú, em gái và một người chú họ ở xa về dự, mọi việc phải cậy nhờ lão. Sau này trong những lúc vui, vợ lão hay đem chuyện buổi sáng cưới chú Lĩnh ra kể và diễn lại những động tác lão đã làm cho cả nhà nghe, mọi người được một phen cười nghiêng ngả. Sáng đó, xênh xang trong bộ vest mới, lão hớn hở đứng trước gương tập, miệng lấp nhấp, cười cười, rồi đưa tay ra lắt lắt, lại cúi xuống như chào ai đó, lão cứ lập đi lập lại, làm tới, tập lui mấy động tác đó...Vợ lão cũng diện bộ áo dài, tà trước đính hình chim phụng lấp lánh tuyệt đẹp nhìn lão cười nói:
- Ông tập cả ngày qua chưa đủ hả? Tui thấy ông "ngầu" rồi đó.
Lão cười ngượng:
- Chủ hôn là vậy, bà cười gì.
Đám cưới diễn ra vui vẻ, đầm ấm, mọi người đến chúc phúc, khen vợ chồng chú đẹp đôi. Hôm đó vợ chồng lão cũng rất vui vì nhiều lẽ...
Sau đám cưới lão động viên vợ chồng chú Lĩnh :
- Vợ chồng chú ở tạm ngoài lán tôm thời gian, chuyện nhà cửa để anh tính.
Vài tháng sau, hai vợ chồng lão bàn luận hồi lâu rồi quyết định mua lại khoảng ruộng và căn nhà nhỏ, đối diện nhà lão mấy năm nay người hàng xóm già yếu không canh tác trồng trọt gì.
Hôm vợ chồng bác hàng xóm chuyển lên thành phố ở cùng cô con gái đang ăn nên làm ra, cũng là ngày vợ chồng chú Lĩnh dọn về căn nhà mới. Đứng trong căn nhà mơ ước, vợ chồng chú sung sướng đến run người, ôm chặt nhau mắt rưng rưng lệ. Vợ chồng chú vẫn biết, phải mất vài năm làm việc chăm chỉ, vất vả nữa mới mong trả hết số tiền cho vợ chồng người "anh chân đất", nhưng có trái tim ấm ngập tình người. Chú Lĩnh hít một hơi thật chậm, thật sâu để cảm, để chạm cái hạnh phúc đơn sơ của riêng mình.
Út Hương sinh con trai trong niềm hạnh phúc vô bờ của chú Lĩnh và gia đình lão. Ngày thằng nhóc con chú Lĩnh được một năm tuổi, đang khi hai nhà xum vầy, vui vẻ cơm chiều. Bỗng đâu Bảy Hiền hớt hả vào nhà hổn hển báo: Ba chú Lĩnh bệnh tình trở nên rất nặng, tiên liệu lần này không qua khỏi. Nghe tin dữ, cả nhà bỏ cả đũa, chẳng ai nói ai một lời, căn nhà lặng phắt, nặng nề.
Hôm chú Lĩnh lên xe về quê, lão và Út Hương đứng như chôn chân, mãi đến khi chiếc xe nhỏ dần, nhỏ dần rồi lẩn mất trong bụi đường dày đặc, mới chịu quay về. Không như những lần trước chú Lĩnh về quê, sao lần này lão thấy bồn chồn, lo lắng trong dạ, lão cố xua đi những ý nghĩ đen đủi cứ lởn vởn trong đầu. Thằng nhỏ cứ nảy ngược trong tay Út Hương khóc ngất.
Đã mười ngày trôi qua chẳng thấy bóng dáng chú Lĩnh, lão đứng ngồi không yên, gắt gỏng, đi ra đi vào. Út Hương chiều nào cũng bồng con qua nhà lão ủ rũ, gầy hẵn đi, quầng mắt thâm tím, nói năng không đầu không đuôi. Chẳng một ai biết đã có chuyện gì sảy ra với chú. Hết sáu tháng, một năm, rồi ba năm có lẻ, thời gian nặng nề trôi, lạnh lùng, chẳng mảy may động lòng đến người vợ trẻ đêm ngày trông ngóng, chẳng mảy may đến tiếng khóc con thơ trong đêm đen tĩnh mịch. Chú Lĩnh vẫn biệt tăm. Đã bao lần lão và Út Hương lên thị xã ghé nhà Bảy Hiền hỏi cũng vô vọng. Vợ lão đôi khi nặng lời trách chú Lĩnh là người vô tâm, bạc nghĩa...Nhiều đêm lão chồm mình thức giấc, tiếng chó sủa của nhà ai trong thôn, lão linh tính chú Lĩnh không phải là người như bà con trong thôn đồn thổi. Riêng lão, lão vẫn tin và hy vọng một ngày nào đó chú Lĩnh sẽ về...
...Tiếng còi xe xoăn xoắn, nhà cửa san sát chật chội, tiếng í ơ dưng dứt, kẻ ngược người xuôi, khung cảnh xô bồ hỗn độn. Hai cha con lão vất vả lắm mới qua được bên kia đường, lão thấy ngột ngạt, mệt mỏi. Bất dĩ lắm lão mới lên thành phố đưa con tìm trọ học. Cuối ngày cha con lão cũng thuê được căn phòng nhỏ gọn, sạch sẽ, nằm ẩn sâu trong mấy con hẻm chật chội.
Sáng sớm hôm sau khi trời còn tờ mờ, khi dặn dò kĩ càng với con trai, lão khăn gói về quê cho kịp xe. Đang đi bộ gần hết con hẻm, một chiếc xe máy cũ phía sau vội vã đi vượt lên, dáng người quen quen, bất giác lão gọi to :
-Chú Lĩnh.
Chiếc xe máy khự lại vài giây rồi phóng tiếp mất hút ở đầu hẻm. Lão bần thần ôm đầu, trực giác lão mách bảo đó là chú Lĩnh. Không hiểu sao Lão quyết định ở lại thêm một đêm, như đánh đố, ăn thua với trực giác của chính mình. Sáng hôm sau lão cũng dậy sớm chờ sẵn, vừa trong phòng trọ vài bước ra hẻm, lão đụng ngay người hôm qua và chiếc xe máy đã đứng đó trước giờ. Dưới ánh đèn đường sáng sớm, tóc lão trắng bàng bạc, giọng lão run rẩy:
- Chú Lĩnh phải không?
Chỉ chờ có vậy, người đó lao đến ôm vồ lấy lão khóc nghẹn :
- Dạ anh.
Nước mắt lão cũng cứ thế chảy dòng.Tội nghiệp, chú Lĩnh gầy xọp trong tay lão. Còn sớm anh em lão "dìu nhau" quay vào phòng.
Nước mắt ngắn dài Chú Lĩnh kể: Thời gian ba bệnh nhà không tiền chữa chạy, tiền chú Lĩnh thi thoảng mang về chẳng thấm vào đâu, vợ chồng em gái chú phải vay mượn để chữa bệnh cho cha, bệnh càng ngày càng nặng phải bán một phần đất, cầm cố thêm căn nhà, khó khăn chồng khó khăn nhưng ba vẫn không qua khỏi. Sau đám tang ba ngày, chủ nợ kéo đến nhà làm dữ, đòi lấy luôn căn nhà, nơi mẹ và gia đình em gái đang ở, là anh lớn chú phải đứng ra gánh nợ mong giữ lại căn nhà. Nhận nợ xong chú hoang man không biết lấy tiền đâu trả, đành dạt vô thành phố làm thuê làm mướn kiếm tiền trả nợ. Kể đến đây giọng lão cắt ngang như dỗi hờn:
- Sao chú không cho tôi hay.
- Dạ, em sợ liên lụy đến anh và vợ con em, bọn họ dữ dằn lắm.
Chú cũng kể thêm, nhiều lần vì quá nhớ vợ con và nhớ lão, chú lần mò như trộm trong đêm, về thăm, chỉ dám đứng xa xa nhìn, rồi tức tốc lầm lủi đi trước khi trời sáng.
Lão vỡ òa hiểu ra mọi thứ, hiểu thêm về con người chú, thương chú nhiều hơn. Lão quyết định. Chú cùng về nhà trong sáng đó với cha con lão, nợ nần của lão tính sau, nợ ở quê chú, lão cho mượn trả liền cho bọn người xấu. Chú Lĩnh ngồi đó chỉ biết khóc, chú thấy mình quá đổi may mắn khi gặp được lão, ở lão thấm đượm tình người, như cốt cách của người phương nam "nghĩa tình đến hoang sơ".
...Lão ngồi đó, dõi theo hai đứa nhỏ con lão chân sáo trên con đường đất thẳng tắp vào nhà chú. Đã từ rất lâu lão mới thấy lại khói bếp bên nhà chú, hôm nay chúng vút cao thỏa thích, nhảy múa...
Vợ lão sau lưng hồi nào cũng nở nụ cười giống lão...
ngotuanphong