-Mẹ à, con thấy mến một cô gái lắm! Cô ấy rất xinh và còn hát rất hay nữa. Nhưng con vẫn chưa dám nói. Chiến tranh còn liên miên, con sợ...
...
-Mẹ à, cô ấy chết rồi...
Đọc bức thư anh gửi về nhà, tôi thấy trong lòng xót xa quá.
Chiến tranh những năm 1969 này cướp đi nhiều thứ. Nó lấy đi thanh xuân, sức sống và cả những người thân yêu của chúng tôi nữa.
Biết chiến tranh gắn liền với đau thương mất mát, nhưng nỗi đau ấy lại to lớn quá đỗi.
Nghe những lời tâm tình anh gửi, tôi thầm mường tượng ra người con gái anh thầm thương.
Chị Thu- nữ chiến sĩ quả cảm đã ra đi trong một trận bom tập kích của Mĩ.
Chị hiện lên trong tôi tựa một vị anh hùng. Anh Hoàng kể, chị ấy ương ngạnh và cứng đầu.
Chị ấy là người luôn làm trái mệnh lệnh của anh trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa, là người thấy bom nổ bên mình vẫn không chịu vào hố cát tránh đạn. Tay luôn lăm le khẩu súng trường, đôi mắt ánh lên lửa hận nhìn bọn bè lũ cướp nước. Chị chỉ ước cho chúng một phát vào đầu, bắn rơi máy bay chiến đấu của chúng, để cách mạng ta chóng thành công.
Chị lầm lỳ khó tả, biết rõ đường còn xa, nước sạch lại khan hiếm, nhưng khi anh ngăn cản lại bất chấp uống một ngụm.
Một ngụm với những con người ở tuyến đầu chống giặc, quý lắm, hiếm lắm! Bớt được một ngụm là bớt được một nỗi lo.
Nhưng chị cũng có cái hay cái đẹp cái đẹp của riêng chị. Chẳng biết bởi cái bất cần, lầm lỳ khó tả tiềm ẩn trong cốt cách, hay bởi tình đồng chí cao cả, đáng mến mà dẫu từng đợt từng đợt pháo đạn đang đáp xuống mặt đất, chị vẫn bỏ những chàng chiến sĩ đang tìm nơi trú ẩn, quay lại tìm một chiến sĩ thiện luyện như anh tôi.
Anh kể lúc chị thấy anh bước ra từ khói lửa, chị đã nhào tới ôm anh cười mãn nguyện.
Có lẽ giây phút đó trong chị đơn thuần là niềm vui sướng khi đồng đội thoát nạn, nhưng trong anh lại là cả một đời rung động.
Chị Thu còn có tài hát chèo nữa, suốt mười ngày đồng hành với nhau, cùng nhau trải qua giây phút sinh tử. Chính chỉ ấy là người tối tối hát chèo cho cả tiểu đội nghe cho khuây khỏa, giảm bớt những nỗi lo nỗi sợ trong lòng những con người ngày ngày đương đầu với súng đạn.
Ngày thay anh đưa thư về cho mẹ, chị cũng khiến tôi không khỏi kinh ngạc.
Chị đẹp, đẹp một cách riêng biệt. Ở chị có nét rắn rỏi của một người đàn ông, nhưng chẳng hiểu tại sao chị lại ngông nghênh đến thế. Nói chung, nét đẹp của chị là nét đẹp tâm hồn, một tâm hồn khao khát cống hiến cho Tổ Quốc, khao khát giành lại độc lập tự do cho dân mình.
Nhưng sinh mệnh của chị lại kết thúc một cách nhanh chóng, chị yểu mệnh thật, nhưng cái mệnh ấy của chị chưa bao giờ hoài uổng, chị ra đi là vì Tổ Quốc, ra đi để giữ lấy non sông đất Việt.
Có lẽ trong lòng chị sự cống hiến ấy chưa là đủ, nhưng trong lòng những người ở lại chẳng phút nào quên khắc ghi.
Anh chẳng nói gì về cái chết của chị, tôi cũng chẳng dám hỏi vì sợ anh buồn.
Nhưng tôi biết cái chết của chị không thanh thản.
Chị ra đi trong trận gài bom tập kích của giặc. Thân chị che cho sức bom phải giảm, máu chị hòa lẫn nước suối chảy trôi.
Anh trai tôi lúc ấy dường như đang ngắm nghía cuốn sổ tay chị tặng, đã lỡ lần để chị nhìn anh lần cuối.
Chị cứ thế ra đi ở tuổi đôi mươi, để lại trong lòng bao người thương tiếc.
Chị chết rồi, anh đã chẳng thể yêu...