~~~□□□♤♤♤GÓC CHIA SẺ KIẾN THỨC♤♤♤□□□~~~
Tác giả: Ru Lyna
Ngôn tình;Giải trí
BẮT ĐẦU CHUYÊN MỤC GÓC CHIA SẺ KIẾN THỨC NHÉ! LÂU LẮM RỒI MÌNH CHƯA VIẾT TRUYỆN. HÔM NAY MÌNH PHẢI VIẾT TRUYỆN ĐỂ ĐƯỢC GẶP NHỮNG NGƯỜI BẠN ỦNG HỘ MÌNH. MÌNH NHỚ CÁC BẠN LẮM RỒI. HÔM NAY GÓC CHIA SẺ KIẾN THỨC SẼ CHIA SẺ VỀ 1 TÁC PHẨM NỔI TIẾNG "ĐÂY THÔN VĨ DẠ" CỦA HÀN MẶC TỬ. CHẮC CHẮN MỘT ĐIỀU BẠN NÀO ĐÃ HỌC CẤP 3 RỒI THÌ ĐÃ HỌC QUA BÀI THƠ NÀY RỒI ĐÚNG KHÔNG? BÀI NÀY RẤT HAY NÊN HÔM NAY MÌNH MUỐN PHÂN TÍCH CHO CÁC BẠN. MONG CÁC BẠN ĐỌC ĐẾN CUỐI NHA. NẾU CÓ SAI SÓT GÌ MONG CÁC BẠN GÓP Ý NHA.
Trên đời này có 2 thứ đẹp nhất đó là đôi mắt của kẻ si tình và tấm chân tình của kẻ đơn phương. Hàn Mặc Tử cũng là một kẻ si tình, nàng thơ trong lòng ông là Hoàng Thị Kim Cúc. Người đẹp xứ Huế, bà là một nữ cư sĩ ( tức là người tu trì Phật giáo tại gia) kiêm nhà giáo và bà cũng là tác giả sách [trong một số thông tin thì bà là một nữ y tá]. Hàn Mặc Tử là một người nghệ sĩ tài năng, ông đã dùng những vần thơ của mình để tỏ tình với người thương. Cũng vì số phận trớ trêu con người nên tình cảm của thi sĩ trẻ chưa kịp nở đã tàn. Cuộc đời của Hàn thi sĩ chỉ vỏn vẹn hai mươi tám mùa xuân,để lại cho hậu nhân đời sau 206 bài thơ. Hàn Mặc Tử là một đại diện độc đáo cho phong trào Thơ mới, là nhân vật đại diện trụ cột của Trường thơ Loạn Bình Định,là người tiên phong trong thể thơ lãng mạn.Phong trào Thơ mới(1932-1945) bộc lộ những cảm xúc cá nhân, thể hiện cái tối mạnh mẽ với nhiều biểu hiện đa dạng, độc đáo. Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơ ca Pháp đặc biệt là chủ nghĩa lãng mạn và tượng trưng .Nhìn chung về cơ bản thì Thơ mới là một hiện tượng được nảy sinh và phát triển khát vọng giải phóng cái tôi cá nhân và nhu cầu đổi mới nghệ thuật của các nhà thơ Việt Nam. Thơ mới mở ra một thời kì mới cho Thơ hiện đại Việt Nam phát triển.Hàn thi sĩ mở ra một thế giới nội tâm mãnh liệt với những cung bậc cảm xúc khác nhau được đẩy lên đến tột cùng trong thơ của mình. Thế giới thơ của ông được thể hiện bằng hai hình tượng đối lập hoàn toàn nhau cụ thể:là lấy hình tượng hồn và trăng để viết ra những bài thơ điên rồ,ma quái và những bài thơ trong trẻo, tươi tắn và tràn đầy hình ảnh lạ thường, phản ánh sự trong sáng và hồn nhiên của cuộc sống."Đây Thôn Vĩ Dạ" theo hình tượng sáng tác trong trẻo, tươi sáng và tràn đầy hồn thơ vừa đời thường nhưng cũng hết sức điên rồ. Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc mạnh với nhiều hình ảnh độc đáo, thể hiện trí tưởng tượng phóng khoáng, thậm chí dị kì. Các phương thức gieo vần,ngắt nhịp,tạo nhịp điệu của thơ Hàn Mặc Tử hết sức linh hoạt, mang tính chất tự do mạnh mẽ đôi khi ma mị đến lạ kỳ."Đây Thôn Vĩ Dạ"là một bài thơ rất đặc biệt đối với Hàn Mặc Tử, bởi nó là một bức thư ông gửi cho người thương. "Đây thôn Vĩ Dạ" là 1 kiệt tác trong Phong trào Thơ mới."Đây thôn Vĩ Dạ" là bài thơ do Hàn Mặc Tử viết vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ Điên (về sau đổi tên thành Đau thương). Bài thơ là một khung cảnh thiên nhiên, không gian thôn Vĩ Dạ hiện lên khá phong phú và hấp dẫn.
Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên của Hàn Mặc Tử đối với cảnh làng quê sông nước xứ Huế kết hợp với tình yêu con người, tình yêu của Hàn Mặc Tử dành cho nàng Kim Cúc (mối tình đầu của ông) nói riêng, người thân thiết của ông nói chung.Nhan đề bài thơ cực kỳ đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ bài thơ đã được đổi tên một lần và khiến cho chúng ta rất mơ hồ về ý nghĩa của nhan đề này. Từng đặt tên là “Ở đây thôn Vỹ Giạ” vì Hàn Mặc Tử muốn người đọc tinh ý nhận ra dụng ý của từ " Vỹ Giạ". Thường thì, rất ít khi chúng ta có thể nhìn thấy nhà thơ đặt tên bài thơ của mình có từ "Gịa" như thế mà hầu như là "Dạ" và nó còn được mặc nhận là tiêu chuẩn.[Đúng là, Hàn thi sĩ chỉ có mỗi ông mới làm thế]Ngày xưa, trong ngôn ngữ thì chữ “Dạ 夜” chỉ có nghĩa là đêm tối. Đâm ra thắc mắc về ý nghĩa của chữ “Giạ”, mới nhớ ra ngày xưa ở Huế có nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, tên hiệu của cụ viết chữ Hán là 菽野氏Thúc Giạ Thị, chữ “Giạ” trong tên cụ có vẻ là giọng Huế của chữ “Dã 野” có nghĩa là cánh đồng, cõi bờ, chốn quê, dân quê. Vậy thì có thể đoán là “Vỹ Dạ” có lẽ cũng có nghĩa là cánh đồng Vỹ (trong từ điển Thiều Chửu thì từ Hán Việt không có chữ Vỹ mà chỉ có chữ Vĩ có đến bảy ý nghĩa khác nhau!), khiến dễ đoán mò ra là “cánh đồng bao la”, hay “cánh đồng ở phía đuôi ” gì đấy. Nói gì đi nữa thì chữ “Giạ” này cũng rất Huế, đặc biệt Huế, mà Hàn Mặc Tử yêu mến Huế đến nỗi viết ra theo giọng Huế (hay cũng có thể bảo là một tiếng nói riêng của người Huế)."Ở đây thôn Vĩ Giạ" có ý nghĩa rất hay và độc đáo bởi cách dùng từ độc đáo của một nghệ sĩ lạ lùng. Chúng ta có thể thấy một nhan đề hay để thu hút bạn đọc và khiến cho người ta luôn nhớ đến cần phải ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ và "Đây thôn Vĩ Dạ" đáp ứng được điều đó. Nhan đề cứ như nhà thơ đang muốn người đọc làm hướng dẫn viên giới thiệu về vùng đất Vĩ Dạ nói riêng , xứ Huế bói chung.Nó như một lời giới thiệu đến người đọc về đất Vĩ Dạ đẹp nên thơ. Từ “đây” cũng cho thấy nhà thơ như đang đặt tay lên lồng ngực mình, gọi những tiếng thân thương: “Vĩ Dạ”, Vĩ Dạ ở Huế, Vĩ Dạ cũng ở “đây”, trong tim Hàn Mặc Tử. Tình yêu với miền đất quê mộc mạc của tác giả làm người ta nhớ đến câu thơ của Viễn Phương: “Có nửa quả tim mình; có người yêu ở đó.”Ý nghĩa chính của nhan đề là sự tưởng nhớ, hoài niệm của Hàn Mặc Tử về vùng đất và con người xứ Huế.Đồng thời, thể hiện một khát khao tình yêu của thi nhân với người con gái xứ Huế. Để đáp ứng phong cách đặc trưng của thơ Hàn Mặc Tử nên các bạn của ông đã đổi tên. Nhan đề thể hiện nó hết sức ma mị, bí ẩn làm chúng ta không đoán được ý nghĩa mà nhất định phải đọc thử.
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
Nguồn:
1. Quách Tấn, Thơ Hàn Mặc Tử, NXB Đông Phương, 1942
2. Hàn Mặc Tử, Đau thương, NXB Hội Nhà văn, 1995
3. Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004
(NGUYÊN TÁC LÀ Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠ)
Chúng ta có thể nhìn thấy một bức tranh làng quê và con người thôn Vĩ hết sức bình yên và giản dị.
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?"
Câu thơ đầu nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ và chứa đựng nhiều tầng cảm xúc, ý nghĩa sâu xa. Sau khi đọc qua câu thơ đầu mình nghĩ bạn nào cũng hiểu theo hai hướng có thể đây là 1 câu nói của Hoàng Thị Kim Cúc hỏi nhà thơ hoặc đây là câu hỏi nói lên tiếng lòng của chính Hàn. Mình sẽ giải thích cho các bạn cả hai hướng.Theo câu nói của Hoàng Cúc hỏi nhà thơ thì câu hỏi là một lời mời Hàn Mặc Tử về chơi làng quê Vĩ Dạ xứ Huế. Tại sao người hỏi lại dùng từ “về” thay vì từ “đến”? Câu hỏi của câu thơ đầu cũng cho ta thấy phần nào tính cách của người hỏi, đó là sự thùy mị, kín đáo của người con gái gia giáo thời xưa. Một tình bạn thành thật, trong sáng được nói với ngôn ngữ tiết chế.Cũng có lẽ, thôn Vĩ đã là một nơi gắn bó, thân quen với nhà thơ. Thôn Vĩ là nhà, là quê hương, là nơi có một người con gái đang chờ đợi ông. Nó được thể hiện rất rõ ràng bởi từ "về" về thôn Vĩ về thăm quê, về thăm nhà, về gặp người thương. Nếu thôn Vĩ thân thuộc với tác giả như vậy, thì câu hỏi còn là một lời hờn trách nhẹ nhàng nhưng cũng đầy nghẹn ngào “sao anh…”. Cụm từ “không về” chứa cả những giận hờn, trách cứ, cả những lo lắng, nhớ nhung. Nếu như dùng những từ "về" thay cho "thăm" thì sẽ làm mất đi sự thùy mị, kín đáo, tính cẩn thận trong giao tiếp của người xưa.Theo câu hỏi của Hàn Mặc Tử nói lên tiếng lòng của chính ông.Cụm từ “sao anh” lại gợi lên những trắc trở, ưu tư trong lòng chủ thể trữ tình. Trong đó vẫn chứa đựng sự hờn trách, nhưng là trách bản thân, ở trạng thái mạnh mẽ hơn và cũng bất lực hơn, bởi vì nhà thơ không thể về thôn Vĩ nữa rồi, vì căn bệnh quái ác này đã khiến tôi không thể về thôn Vĩ.Từ “về” cũng cho thấy vị trí đặc biệt của làng quê thôn Vĩ – quê hương thứ hai trong trái tim Hàn Mặc Tử. Chính vì vậy, chủ thể trữ tình càng nhung nhớ và dằn vặt, đau thương hơn khi hình ảnh đầy thân yêu, gần gũi của làng quê sông nước Vĩ Dạ hiện lên trong tâm trí.Dù hiểu nghĩa nào, người đọc đều tìm thấy nỗi nhớ, niềm mong mỏi và cả tình yêu thương da diết, nỗi bất lực và trăn trở của người hỏi. Điều này đã chứng tỏ tác dụng nghệ thuật lớn lao của câu hỏi tu từ được sử dụng một cách tài tình. Mở bài thơ bằng một câu hỏi chứa đựng nhiều lớp sắc thái, tác giả đã gợi ra trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ về một thôn Vĩ vừa gần vừa xa trong lòng nhà thơ.
Trong dòng hoài niệm, thôn Vĩ của Hàn Mặc Tử đã hiện ra với một hình ảnh đặc trưng của làng quê Việt Nam, ấy là những khu vườn với hàng cau thẳng tắp đón nắng lên.
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"
Dù Hàn thi sĩ không thể bước về Huế, đặt chân lên Huế nhưng ông vẫn đang ngắm nhìn và tận hưởng vẻ đẹp nơi chốn cũ và người thương.Hình ảnh “nắng hàng cau” là một hình ảnh đặc biệt, có tính khái quát và ấn tượng, nắng hàng cau tức là nắng buổi sớm, mặt trời đã lên khá cao, đương độ ấm áp nhất và cũng không nóng gắt như buổi ban trưa. Giữa khung cảnh ấy, ánh nắng bao trùm không gian, phủ lên những ngọn cau xanh một màu vàng nhạt, mở ra một không gian trong trẻo, tràn đầy sức sống, cũng như sự thanh bình, yên tĩnh của nơi làng quê. Cụm từ “nắng mới lên” giúp ta hình dung rõ hơn về một buổi sớm chan hòa ánh ban mai, không phải ban trưa chói chang nắng.Câu– loại cây mang cái hồn quê giản dị, đơn sơ đã đi vào trong thơ ca Nguyễn Bình:
“Nhà anh có một hàng cau
Nhà em có một giàn trầu”
và cũng xuất hiện trong sáng tác của Trần Đăng Khoa:
“Đường cỏ lơ mơ nắng
Mái tranh chìm chơi với
Vai tán cau mộc mạc
Thả hồn quê lên trời”
Từ phiếm chỉ “vườn ai” đã đem vào cho bức tranh thiên nhiên thêm sự ấm áp của tình người, bên cạnh cái ấm áp của nắng sớm, khung cảnh càng trở nên hài hòa khi có sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên. Bên cạnh đó,tiếng “ai” còn gợi cho Hàn Mặc Tử những hình ảnh đang mơ hồ mường tượng lại quá khứ tươi đẹp khi đến chơi xứ Huế. Đi kèm với đó là tính từ giàu sức gợi “mướt” và biện pháp so sánh “xanh như ngọc" đều là những nét vẽ thật tài tình và đầy tinh tế của Hàn Mặc Tử khi nhớ về thôn Vĩ Dạ, chúng đã khéo léo, mở ra một bức tranh thiên nhiên dịu dàng, sinh động, trong trẻo, tinh khiết và tràn đầy sức sống. Ấy là cái non tươi trù phú, mỡ màng của cây lá, là sự trong lành mát mẻ của những giọt sương sớm còn đọng lại sau một đêm dài, mà dưới cái nắng ấm áp chúng ánh lên thật đẹp như những ngọc ngà châu báu, khiến người ta không khỏi suýt xoa ngỡ ngàng. Đối với người nông dân, mảnh vườn ấy chính là viên ngọc sáng chói nhất."Xanh như ngọc" của Hàn thi sĩ để chỉ màu sắc của mảnh đất quê hương thứ hai, màu của nỗi nhớ mong khao khát được quay về, màu của yêu thương đang cháy âm ỉ trong con tim nhà thơ.Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của tác giả trong hai câu thơ này thực vô cùng tinh tế, khiến Hoài Thanh từng ngợi ca rằng: “Hàn Mặc Tử có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng.”
Câu tiếp theo, bút pháp thi trung hữu họa đã thực sự làm rõ và làm nổi bật vẻ đẹp của con người thôn Vĩ trong bức tranh quê.
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Nhưng nó lại một lần nữa làm dấy lên những tranh luận trong giới phê bình văn học. Chủ nhân gương mặt lấp ló sau lá trúc đó là Hàn Mặc Tử hay Hoàng Cúc? Câu thơ này khiến tôi sao xuyến và thấy cả hai ý nghĩa đều đúng.Nếu cho gương mặt “chữ điền” ấy là của tác giả, giả thiết này hoàn toàn có căn cứ. Bởi trong sáng tác của mình, không ít lần nhà thơ tự họa bản thân, lúc thì ẩn sau cành lê, khi lại lấp ló dưới khóm lau, bờ liễu. Thêm vào đó là khuôn “chữ điền” vuông vắn nên không ít người đoán đây là một lần Hàn Mặc Tử miêu tả chính mình, một chàng trai trẻ đang núp sau khóm trúc ngắm người con gái mình thầm thương, trộm nhớ mỗi đêm. Nhưng cũng có thể đây là khuôn mặt của Kim Cúc, hay bất cứ một cô gái người xứ Huế, đặc biệt là ở thôn Vĩ bên sông Hương nào bởi con người xứ ấy có câu ca dao:
“Mặt em vuông tựa chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài.
Lòng em có đất có trời
Có câu nhân nghĩa, có lời thủy chung.”
Từ đó, người đọc hiểu Hàn Mặc Tử không chỉ chú ý đến khuôn mặt, mà còn đề cao nhân cách của mỗi cô gái xứ Huế. “Mặt chữ điền” vẽ nên những đường nét vuông vắn đầy phúc hậu của cô gái quê chân chất. Lá trúc – một trong bốn loài cây thường được dùng để chỉ những phẩm chất cao đẹp trong thơ Đường càng giúp tô đậm vẻ đẹp tâm hồn của cô gái ấy. Hình ảnh lá trúc mảnh mai, thon dài đặt bên cạnh khuôn mặt vuông đầy lại tạo nên một bức chân dung hài hòa, sống động, có con người, có thiên nhiên, có sự hòa quyện gần gũi. Dù nhìn nhận ý thơ theo nghĩa nào, độc giả đều thấy được tình yêu, sự gắn bó giữa người và cảnh, đều có ấn tượng sâu sắc với khuôn mặt bí ẩn, lấp ló của người dân quê đôn hậu, chân thật dưới khóm trúc.
Nếu như ở khổ thơ đầu tiên, Hàn Mặc Tử nhìn đời, nhìn người với tinh thần tích cực, lạc quan, tràn đầy hy vọng, bằng bức tranh thiên nhiên tươi sáng, trong trẻo,thanh mát,ấm áp, giản dị thì đến khổ thơ tiếp theo, mạch cảm xúc của tác giả đã nhanh chóng thay đổi theo sự thay đổi giữa ngày và đêm,chuyển thành khung cảnh hoang vắng, buồn thương cứ như lúc mặt trăng tắt đi ánh đèn sáng soi vào những ngày đầu tháng và cuối tháng quặng hiu, giữa hai bức tranh thiên nhiên hoàn toàn khác biệt với những màu sắc hoàn toàn mới.
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.”
Không còn khu vườn xanh tốt đầy sức sống mà thay vào đó là bầu trời u ám, dòng sông lặng lẽ trôi. Qua sự biến chuyển cảm xúc, cảnh thật – hình ảnh đẹp có thực trong hồi ức của Hàn Mặc Tử đã chuyển thành cảnh ảo – khung cảnh được vẽ nên bởi tư tình của chính nhà thơ.Bằng cách chia nhịp 4/3, câu thơ đầu được ngắt thành hai vế, miêu tả hai chuyển động riêng biệt của gió và mây. Câu thơ có lẽ không chỉ nghịch lý mà lại còn chứa đựng cả sự trớ trêu, đã bị biệt ly chia cắt.Thông thường thì người ta thấy gió thổi mây bay, nhưng qua đôi mắt đượm buồn của nhà thơ, mây gió chia đôi ngả.Rõ ràng gió và mây là hai thực thể luôn gắn liền, gió thổi kéo mây bay, dường như gắn bó như hình với bóng, ấy thế mà trong thơ Hàn Mặc Tử gió và mây lại tách biệt, hai thứ hai nơi dường như chẳng chút liên hệ. Phải chăng đây là ẩn ý cho mối tình của ông với nàng Kim Cúc, hai người giờ đây đã dường như cách biệt phương trời, và rồi mai đây nữa chính là âm dương chia cắt.Không thể là bạn đồng hành, không thể gặp gỡ và sự xa cách của nhà thơ đối với người yêu có thể là vĩnh viễn. Ý thơ muốn nói đến tình cảnh thực tại của Hàn Mặc Tử, sống chia lìa xa cách những người ông thương yêu.Rồi cảnh mây gió ấy cũng lại gợi liên tưởng đến sự liên quan của tác giả với thế gian, dường như giây phút này, ông cũng đã bắt đầu cảm nhận được bản thân không còn nhiều thời gian, dường như sự sống đối với ông ngày càng xa cách, cuộc đời trần thế của ông có lẽ cũng chẳng còn nhiều nữa. Chính những suy nghĩ và hiện thực đã dày vò thêm trái tim mới vừa được thắp lên hy vọng của Hàn Mặc Tử. Một bức thư đã khiến ông vui, tưởng chừng đã thoát khỏi cái u mê, tăm tối của cuộc đời, thế nhưng nó vẫn không thể chiến thắng được sự nghiệt ngã của số phận và bản thân ông bị buộc phải tỉnh mộng quay trở về với thực tại đau thương. Khổ thơ là sự kết hợp giữa cả bầu trời quạnh hiu và mặt đất trống trải im vắng. Qua nghệ thuật nhân hóa, “dòng nước buồn thiu” hiện lên như một con người, có linh hồn và nặng trĩu tâm tư. Đã không ít nhà thơ miêu tả sông Hương – con sông nổi tiếng của xứ Huế. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi nhịp chảy chậm rãi của con sông ấy là “điệu slow tình cảm mà sông Hương dành riêng cho Huế”.Hình ảnh “hoa bắp lay” là một hình ảnh có ý nghĩa đặc biệt, hoa bắp vốn là loài hoa không sắc, không hương, mờ nhạt lại nhanh héo tàn. Theo lẽ thường gió thổi hoa bắp lay thì sóng nước cũng phải theo đó mà gợn mà lay động, ấy thế mà dòng nước lại đứng im, chẳng khác nào lứa đôi dù ở gần kề nhau nhưng lại chẳng thể đồng điệu, gần gũi khiến chúng ta lại thấy có mùi gì đó của sự chia phôi. Phải chăng đây là cảm giác của nhà thơ trong xa cách nhớ thương, và đây cũng là mặc cảm của những con người xưa trong cuộc sống.Nó dường như đang lột tả chính là hình ảnh cuộc đời của Hàn Mặc Tử lúc cuối đời, tàn úa chỉ mặc cho gió lung lay mà không thể chống đỡ lại số phận, điều đó khiến cho người ta không khỏi xót xa cho cuộc đời người nghệ sĩ bạc mệnh, cũng như những nỗi đau mà ông đã phải chịu đựng trong suốt cuộc đời. Nỗi buồn về sự chia li, tiễn biệt đọng lại trong lòng người phảng phất buồn và mang một nỗi niềm xao xác. Trong hai câu đầu, hình ảnh thơ có sự chuyển động, nhưng chúng không đem lại vẻ tươi vui mà trái lại, còn khiến thiên nhiên thêm thê lương, ảm đạm. Những ngọn gió chỉ khẽ chuyển mình đủ để hoa ngô nhẹ đung đưa. Nỗi buồn của Hàn Mặc Tử cũng vậy, nó không phải một chấn động tâm lí mạnh, nhưng lại là nỗi bi thương âm ỉ ngày ngày dày vò trái tim của thi nhân.Nỗi buồn thấm đượm cảnh sắc thiên nhiên bắt nguồn từ sự thức tỉnh tâm trí Hàn Mặc Tử. Những câu thơ đầu đẹp như mơ cho đến khi nhà thơ chợt giật mình nhận ra tất cả chỉ còn là quá khứ không thể xảy ra lần nữa, khoảnh khắc đẹp chỉ đến một lần. Tác giả không thể về thôn Vĩ nữa rồi, chưa nói đến có được cảm nhận lại niềm hạnh phúc ngọt ngào ngày ấy hay không. Trở về khoảng không gian, thời gian mình đang sống, Hàn Mặc Tử chỉ thấy trống trải, cách xa.
Ai ai cũng đang bay đi, chảy đi, phiêu tán ra xa, Hàn mong có một thứ có thể ngược dòng “về” vớí mình,muốn người bạn tri kỷ duy nhất có thể tâm tình và thấu hiểu ông. Cảnh bến thuyền, ánh trăng sáng là một trong những hình ảnh thường thấy xuất hiện trong thơ ca cổ điển, miêu tả cảnh sông nước thanh vắng, êm đềm, và có đôi chút hiu quạnh. Đến trong thơ của Hàn Mặc Tử cảnh tượng này độc đáo và sáng tạo hơn với câu hỏi
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Ấy là một câu hỏi đầy tâm sự, giữa cảnh sông nước mênh mông, ánh trăng loang vàng khắp mặt nước, có một chiếc thuyền lặng lẽ nằm yên, thật thơ mộng trữ tình biết mấy. Đại từ phiếm chỉ “ai” trong “vườn ai” lại xuất hiện, từ đó, hình ảnh con thuyền hiện lên vừa gần vừa xa, vừa thân thuộc, gần gũi, vừa lạ lẫm, trắc trở. Mặt sông được phủ một lớp bạc lấp lánh với hình ảnh ẩn dụ “sông trăng”. Vầng trăng lung linh huyền ảo chẳng treo ở trên trời, mà lại nằm trên dòng nước. “Trăng” trong câu thơ trên là trăng của đất trời, sông nước; “trăng” ở câu dưới lại là hình tượng thơ trở đi trở lại trong những tác phẩm của Hàn Mặc Tử. Có những khi trăng hiện lên với sự ma quái, bí ẩn:
“Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.”
Đôi lúc trăng lại mang vẻ đẹp trân quý:
“Là sợi đường tơ dịu quá trăng
Là bao nhiêu ngọc cũng chưa bằng”
“Trăng” trong “Đây thôn Vĩ Dạ” đầy thơ mộng và trừu tượng. Bóng nguyệt ấy có thể là hạnh phúc viên mãn, đủ đầy mà Hàn Mặc Tử khát khao, cũng có thể là chính con người thi nhân, mong ước được quay lại xứ Huế, gặp lại người thân yêu. Dù hiểu thế nào, độc giả đều cảm nhận được nỗi mong mỏi da diết của tác giả. Không phải ông không hiểu hoàn cảnh bất đắc dĩ của mình, nhưng vì tình yêu quá sâu nặng với con người, với cuộc đời, Hàn Mặc Tử mới lưu luyến, hi vọng nhiều đến vậy. Lòng Hàn Mặc Tử lại không được yên bình như thế, người vội hỏi thuyền ai neo bến, người vội hỏi có mang trăng về kịp không, có mang người bạn tâm giao về kịp không. Dường như ta thấy Hàn Mặc Tử đang vội vã, lo lắng, lòng ngập tràn nỗi hoang mang, sợ rằng bản thân không còn nhiều thời gian nữa, không còn có thể chờ kịp ánh trăng về chiếu rọi lòng ông. Câu hỏi tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay?” cho thấy sự băn khoăn, trăn trở của Hàn Mặc Tử. Nhưng trong thâm tâm nhà thơ lại thầm mong một phép màu có thể giúp ông quay về Vĩ Dạ gặp cố nhân một lần, dù chỉ là một lần cuối. Không chỉ biểu hiện sự băn khoăn, câu hỏi này còn bộc lộ nỗi thất vọng sâu kín của nhà thơ. Ông hỏi, nhưng lại không muốn được nghe câu trả lời, bởi nó sẽ nhắc lại cái sự thực phũ phàng mà Hàn Mặc Tử đã quá thấm thía. Từ đó, người đọc nhìn ra mâu thuẫn trong lời thơ: vừa khao khát, vừa lo âu. Sự đối lập này cũng khắc họa bi kịch đau thương của Hàn Mặc Tử. Càng đọc, càng hiểu sâu tấm lòng người thi sĩ, càng biết được những mối lo, những nỗi cô đơn, bất lực của ông lại càng thương cho một kiếp người nhiều đớn đau, khi cả tình yêu, cả sự sống đều nằm ngoài tầm tay với. Tất cả những nỗi đau trong thơ, những tuyệt vọng về cuộc đời của Hàn Mặc Tử đều bộc lộ thực rõ tấm lòng khao khát sự sống, khao khát tình yêu đến quằn quại, dù rằng trong thâm tâm tác giả đã nhiều lần buông bỏ, chấp nhận số phận, thế nhưng chỉ cần có một chút niềm tin, thì tấm lòng ấy lại rạo rực, vui sướng hơn bao giờ hết. Bệnh tật và khoảng cách ngăn trở ông đến với miền hạnh phúc. Từ “về” đã được thấy trong khổ một. Tác dụng của nó không hề thay đổi, là để tô đậm vị trí quan trọng của Vĩ Dạ trong lòng nhà thơ, là nhà, là quê hương thứ hai của ông. So sánh thôn Vĩ với nhà, tác giả càng thành công trong việc khắc họa nỗi mong mỏi trở về xứ Huế, khiến nó da diết hơn, mãnh liệt hơn. Bên cạnh đó là từ “kịp” mang âm hưởng đầy khắc khoải, lo âu. Nó chứa đựng lời mong cầu khẩn thiết. Nó cũng thầm cho thấy, quỹ thời gian của Hàn Mặc Tử không còn nhiều, một giây một khắc cũng vô cùng quý giá. Vậy nên ông mới mong mỏi, nóng lòng được quay về Vĩ Dạ, chứ không phải dành chút tháng ngày ít ỏi còn lại của cuộc đời ở đất Quy Nhơn cách biệt với thế giới bên ngoài.Trong khi “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới -Xuân Diệu" ao ước được sống trọn từng khoảnh khắc để tận hưởng cuộc đời tươi đẹp thì “chủ soái dòng thơ điên” lại chỉ muốn được sống, được sống đã là một niềm hạnh phúc lớn lao. Bức tranh sông nước đêm trăng ở khổ hai lột tả cảm xúc đau thương, nỗi lo âu, khắc khoải và khát khao hạnh phúc tha thiết của Hàn Mặc Tử khi nhìn nhận thực tại đầy bi kịch. Người đọc có thể thấy tình yêu da diết với cuộc đời của thi nhân. Càng yêu đời, ông càng đau đớn, tuyệt vọng. Dù rằng tất cả cũng như pháo hoa rực rỡ, đẹp, nhưng chóng nở chóng tàn.
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà”
Đang từ cõi thực, Hàn Mặc Tử chuyển bước vào cõi mơ, thể hiện rất rõ cái hông thơ phức tạp và khó hiểu bậc nhất của mình trong làng thơ ca Việt Nam đương đại. Trong những khổ thơ trên, nhân vật trữ tình hướng về “vườn ai”, “thuyền ai”, đến đây, tâm điểm thơ lại là “khách đường xa” là một câu thơ mập mờ, không rõ ý. Hình ảnh thơ vẫn giữ vẻ huyền ảo, bí ẩn. Độc giả không rõ, Hàn Mặc Tử mơ về Hoàng Cúc nói riêng, hay những người thân thiết đang bị ngăn cách bởi cả khoảng cách địa lý và tinh thần.Động từ “mơ” được đặt ở đầu câu thơ để nhấn mạnh vào nỗi nhớ mong mòn mỏi, khôn nguôi của Hàn Mặc Tử. Niềm mong đợi ấy đã đi vào tiềm thức, vào cả giấc mơ của thi nhân. Không một phút giây nào ở nơi xa cách quê nhà, xa cách cố nhân, nhà thơ không nhớ về những tháng ngày hạnh phúc của tuổi trẻ, của tình yêu. Tuy nhiên, hình ảnh này càng nêu bật lại càng mờ mịt. Vị khách ấy là từ trong mơ, không rõ mặt, không rõ diện mạo, chỉ biết là họ đang ngày càng xa tầm với, xa mãi không trở lại. Tác giả đã cách nhân thế rất xa, dần trở thành một vị khách xa lạ, đi một chặng đường ngắn ngủi chừng 28 mùa xuân xanh, rồi rời đi trong vô thanh, vô sắc, liên tưởng ấy khiến người ta vừa ám ảnh, vừa xót xa cho cuộc đời người thi sĩ. Phép điệp “khách đường xa” cho thấy dù là trong thực tại, hay trong mơ, hình ảnh cố nhân vẫn ở quá tầm với của tác giả. Nhân vật trữ tình càng ước ao gặp gỡ, hình bóng mờ ảo ấy càng nhạt nhòa, hòa lẫn vào vô định. Trong giấc mơ ấy, với mọi cố gắng tiến lại gần, khoảng cách cũng đã rút ngắn. Hàn Mặc Tử mơ hồ nhìn ra màu trắng tinh khôi của tà áo dài. (Hoàng Cúc đã từng gửi bức ảnh cô mặc áo dài trắng thời học sinh cho Hàn Mặc Tử sau khi biết nhà thơ mắc bệnh nan y). Giọng điệu của nhà thơ trong câu thơ đầy thân thương, trìu mến khi gọi đến hai tiếng “áo em”. Người Việt quan niệm áo là vật thông dụng trong cuộc sống hàng ngày, cũng là vật biểu hiện tình yêu đôi lứa."Áo em" là bóng dáng chập chờn của người con gái ông yêu trong tiềm thức, bộc lộ khoảng cách ngày một xa xôi giữa ông và nàng, đó không chỉ là khoảng cách về địa lý, mà còn là khoảng cách tâm hồn, khoảng cách sinh ly tử biệt không thể vãn hồi. Áo đã xuất hiện đầy thân thương, gần gữi trong ca dao:
“Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.”
Màu áo trắng hiện lên rõ rệt và nổi bật giữa giấc mơ huyền ảo: “trắng quá nhìn không ra”. Từ “quá” đã thêm vào ý thơ những tiếc nuối, nghẹn ngào, tình yêu mãnh liệt và cả sự bất ngờ khi gặp lại bóng hình quen thuộc, rồi bỗng bàng hoàng, thảng thốt khi phải chứng kiến hạnh phúc tuột khỏi tầm tay.Giống như gương mặt chữ điền lấp ló sau cành trúc trong khổ một, hình ảnh người con gái mặc áo trắng ở khổ cuối cũng hiện lên mờ nhạt, như ảo ảnh. Điều này chứng tỏ nhìn nhận của nhà thơ về tình yêu, cuộc sống viên mãn dù mong cầu thế nào cũng không thể đạt được. Hàn Mặc Tử ngày càng tuyệt vọng, và bóng dáng cô gái năm xưa ngày càng trở nên mờ mịt, ông nhìn không rõ, sờ không được, muốn mà không thể chạm tới đầy xót xa khiến tôi lại càng tội nghiệp, tiếc thương cho một con người tài năng nhưng đoản mệnh.Để giải thích cho cái sự mờ nhạt ấy, có câu thơ“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, nhằm xóa bớt khoảng cách, vịn vào lý do sương khói mờ mịt xứ Huế làm ông không thể thấy rõ, thế nhưng nó lại càng nhấn mạnh vào cái sự mờ mịt, bế tắc và tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử trước cuộc đời, khi chính bàn tay ông cũng chẳng thể nào vén lớp sương mù để tìm thấy bóng hình yêu thương, cũng chẳng thể chống lại số mệnh từ chối cái chết.
Sự đớn đau, mặc cảm số phận đã khiến tác giả không thể mở lòng mình để hiểu rõ tình cảm của nàng Kim Cúc, cũng như chẳng thể đưa bản thân thoát khỏi những mộng tưởng dày đặc, trước tình cảnh ấy ông chỉ còn có thể thốt lên “Ai biết tình ai có đậm đà?”, đó như là lời gửi đến người con gái phương xa liệu có còn nhớ mong kẻ tội nghiệp này, rồi cũng là lời trách móc nhiều đau thương khi lòng ông lo sợ Kim Cúc vốn đã không còn mặn mà với đoạn tình cảm này từ lâu. Cuối cùng ấy còn có thể là lời yêu ông muốn nhắn gửi một cách thật ý nhị, kín đáo vì biết mình không còn sống được bao lâu đến cô gái xứ Huế, ông muốn nàng biết tình cảm của mình, lại cũng muốn nàng không biết, sự phức tạp và mâu thuẫn ấy chính là xuất phát bởi một tâm hồn có quá nhiều tổn thương, đồng thời đang tiến gần đến những ngày cuối của cuộc đời trần thế, chính lẽ đó người con xứ Huế không thể có quá nhiều tự tin, hay là gieo rắc hy vọng, tình yêu cho một ai khác. Chi bằng tự ôm lấy nỗi đau, tình yêu tuyệt vọng ấy một mình cho đến hết cuộc đời ngắn ngủi. Sự thất vọng của một trái tim khao khát yêu thương mà không bao giờ và mãi mãi không có tình yêu trọn vẹn.Hàn Mặc Tử trở về hiện tại, ông cảm nhận rõ hơn về sự xa xôi, hư ảo của hạnh phúc rồi lại tự mình thở dài, nhớ mong.
Tóm lại giá trị nội dung và nghệ thuật.Mạch thơ đứt nối không theo tính liên tục của thời gian và duy nhất của không gian nhưng lại diễn tả mạch vận động nhất quán của dòng tâm tư.Hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, ngôn ngữ cực tả trong sáng, súc tích khiến cho trường liên tưởng được mở rộng, khung cảnh thiên nhiên trở nên đẫy đà, giàu sức sống để nhấn mạnh hơn khao khát sống của người nghệ sĩ. Sử dụng hàng lọat câu hỏi tu từ, giọng điệu da diết khắc khoải khiến cho bài thơ đọng lại trong lòng người đọc là một nỗi băn khoăn, day dứt về cuộc đời. Cả bài thơ là một bức tranh thôn Vĩ vừa mang vẻ đẹp rất thực với tất cả nét trong sáng, tinh khôi, thơ mộng với những đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế. Nhưng dường như những hình ảnh ấy mơ hồ, mờ nhòe như thực, như ảo. Tất cả được tái hiện lại qua kí ức của người nghệ sĩ. Ba khổ thơ với những hình ảnh dường như không liên quan nhưng sự thực chúng là những mảnh ghép kí ức của nhà thơ. Đồng thời cũng là nỗi đau đớn, quằn quại của Hàn Mặc Tử khi khao khát được sống, tha thiết với đời còn quá sâu nặng mà thời gian còn lại của đời người lại quá ngắn ngủi. Bài thơ vừa là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước nhưng đồng thời cũng là khao khát sống đến cháy bỏng của nhà thơ.
Hàn Mặc Tử là nhà thơ duy nhất khiến tôi phải phải nổi da gà,khiếp sợ và người này đã làm tôi điên lên vì nỗi buồn đó của ông ấy và có lẽ một ngày nào đó mình ra đi cũng vì bệnh tật dằn xé nặng nề chăng? Hàn Mặc Tử là con người đầy ước vọng và đau buồn. Ông chỉ mong muốn được sống thêm một vài phút nữa thôi. Nhưng mà cuộc đời lại luôn không như ý bạn, nếu càng mong muốn điều gì đó thật nhiều, thật lớn thì lại chẳng có thứ gì đôi khi càng ngược lại với mong muốn ấy. Tôi cảm thấy ông ấy thật đáng thương và đồng cảm với mong muốn của nhà thơ, Hàn luôn quý trọng 1 giây được sống. Thơ ông khiến người đọc cảm thấy day dứt, ám ảnh một nỗi buồn không thể viết thành tên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:TRÊN INTERNET.
BÀI NÀY MÌNH VIẾT ĐƯỢC LÂU RỒI MÀ CHƯA ĐĂNG LÊN. BÂY GIỜ MÌNH NHỚ CÁC BẠN LẮM. MÌNH PHẢI ĐĂNG LÊN THÔI. NHỚ CÁC BẠN RỒI. BYE. HẸN GẶP LẠI VÀO GÓC CHIA SẺ KIẾN THỨC LẦN TIẾP THEO.
HÌNH NỀN MÌNH KHÔNG TẢI LÊN ĐƯỢC BUỒN QUÁ. MÌNH LÀM ĐƯỢC LẮM. NÓ Ở TRONG MẤY BÀI ĐĂNG Á. NÊN CÁC BẠN MUỐN XEM VÔ TÀI KHOẢN CỦA MÌNH NHA. YÊU CÁC BẠN.