Hồi kí ngày giáng sinh năm ấy
Tác giả: ManaKojo
Tôi tham gia chiến trường phía tây cũng được khoảng gần ba tháng rồi, từ hồi đầu tháng chín tới giờ đã là tháng mười hai của năm từ khi mà cuộc chiến bắt đầu. Bầu trời lạnh giá đầy tuyết, nhưng còn hơn là vào mùa mưa khi mà chiến hào của chúng tôi sẽ chìm trong đống bùn lầy. Nhưng vì tôi tới đây từ đầu tháng chín thu, nên cái cảnh đó không xảy ra nhiều cho lắm, chỉ là trong cái thời gian đó, quân đội Anh-Pháp chưa tới chỗ này. Tôi đã tham chiến trước đó tại trận Aisne (Ai-Nơ) khi nước Anh chi viện cho Pháp chống lại cuộc tấn công của Đức, thật may mắn khi có thể sống sót tới tận bây giờ trên chiến hào ác liệt đấy, đó thực sự là địa ngục đối với những người đã quen với hòa bình như chúng tôi.
Tiểu đội chúng tôi ở trên chiến hào này để phòng khi quân Đức tiến công. Nói là phòng vì trước đó chúng tôi đã thiệt hại nặng để đẩy lui quân Đức ra khỏi Magne để bảo vệ Paris và còn tranh dành đất tại thung lũng Aisne. Còn bọn Đức, tôi tình cờ biết được lí do mà chúng không tấn công, dù trước đó bọn chúng rất hăng máu. Người Nga đã bắt đầu tấn công ở đông Âu, nên Đức buộc phải rút quân về mặt trận phía Đông để phòng thủ, dĩ nhiên cộng thêm thiệt hại từ các trận chiến trước nên chẳng bên nào dám tấn công. Thế nên chúng tôi kẹt trong tình thế rất căng thẳng khi mà cả hai bên giằng co nhau từng tấc đất một trong cái chiến hào dài dằng dặc kéo dài trên biên giới Pháp Đức mà theo mấy anh lính nói với tôi là cái chiến hào này kéo dài tận gần 500 miles, khoảng 800 cây số. Và thỉnh thoảng thì vẫn có những đợt tiến công từ cả hai bên.
Mà ở đây, nơi chiến trường này thì chúng tôi phải cố gắng sống, không chỉ là sống dưới làn đạn, mà còn cái mớ đồ ăn nữa. Đám chuột khiến tôi như muốn phát điên lên, chúng không chỉ phá đồ ăn, mà còn phá cả hào mà chúng tôi dày công đào hằng ngày trời. Đôi khi chỉ muốn nhét vào tổ chúng một quả lựu đạn cho nổ chết hết lũ khốn ấy đi. Thức ăn thì chỉ có cháo nóng đun trên cái nồi đen có vành tròn mà thường chỉ đủ cho một tiểu đội, hoặc nhiều hơn một tí để cùng nhau ăn trong hầm trú. Bánh mì ư? thịt nướng ư? hoa quả tươi ư? Có đấy, nhưng nó hiếm vì không phải lúc nào cũng có, thường chỉ có trong những ngày mà chắc chắn sẽ không có kẻ địch tấn công, hoặc là tiếp tế đã tới, ý tôi là mấy tên đầu bếp can đảm.
Mà mùa Đông giờ lạnh quá, cứ đứng mãi ở trên này chẳng phải thích thú gì. Trời thì tối, tôi và ông bạn William khoác vai nhau cho đỡ rét. Khi tôi nhập ngũ, tôi lúc đó chẳng có bè có bạn gì cả, nhưng sau đó tôi được đưa vào tiểu đội này, gồm có tôi - Nolan, William, Miler, James và Radley. Họ đều là người gốc Anh chính hiệu cả. Ngoài ra còn có một người nữa là Bill mọt sách, nhưng anh ta đã hi sinh trong trận Aisne rồi, tôi đã nói đó là một cuộc chiến khốc liệt mà. Chính tay tôi đã lấy lại chiếc thẻ tên của anh ấy. Đáng ra anh ta nên ở lại nước Anh…hoặc không. Tôi không có quyền phán xét ai đó nên làm gì, vì chính tôi bây giờ cũng vậy, ở lại nơi địa ngục.
Chúa ơi, tôi vẫn thường ám ảnh với những tiếng súng, tiếng pháo, tiếng hò reo vẫn hiện lên trong đầu tôi. Nó thật rõ, thỉnh thoảng nó khiến tôi sợ hãi, tưởng rằng mình đang bị tấn công. Ôi, chắc rằng chúa đã biết tôi cảm thấy như thế nào khi tôi tước đi sinh mạng của ai đó. Khi tôi bóp cò súng, tôi giết ai đó từ chiến hào này tới chiến hào kia, tôi không quan tâm, tôi chỉ biết lên đạn và bóp cò lần nữa, thế thôi. Ngay cả khi bắt buộc phải tiến công trước làn đạn của kẻ địch, ngay cả khi gào thét tên mẹ, tôi cũng chỉ biết nổ súng để giữ mạng mình. Tôi có thể giết được năm, mười, hai mươi tên trong cái phút giây ấy mà không cảm thấy gì. Tôi chẳng biết tôi đã ra sao khi găm lưỡi lê vào người anh lính Đức trẻ ấy. Chúng tôi khác dòng máu, khác tiếng nói nhưng cùng là kẻ bị đọa đày trên địa ngục này. Thỉnh thoảng tôi thấy sợ, sợ lắm. Tôi không biết vì sao mình lại sống được qua khoảnh khắc ấy, nhưng nhìn lại khuôn mặt của những người hộc máu sau những viên đạn mà tôi găm vào, những lưỡi lê của tôi xiên qua, khi đó họ cũng đang sợ, họ cũng khóc. Và tôi cũng như họ thôi. Những con người tràn đầy sợ hãi đang giết chết nhau vì chính nỗi sợ hãi không chính đáng của họ. Tất cả chúng ta, có thể vẫn còn gia đình, vẫn còn mẹ già, nhưng chúng ta đều sống mà.
Mỗi lần như thế, tôi nhìn chằm chằm vào khoảng không. Biết gì không? Chúng ta chẳng thể nào có thể khóc ra hồn trên chiến trường ấy đâu. Một lúc nào đó ta sẽ phải trườn trên vũng bùn lầy toàn nước đọng trong một cái hố bom, hoặc là khuôn mặt sẽ dính đầy máu, hoặc của địch, hoặc của đồng đội, hoặc của chính bản thân. Đến lúc đó trên khuôn mặt sẽ không còn nơi nào đủ sạch để giọt nước mắt yếu ớt có thể chảy qua.
Những lúc mà chúng tôi ngập chìm trong nỗi dằn vặt, thường sẽ tự tìm đến những người đồng đội để tâm sự. Làm gì còn ai có thể giữ được cái ngây thơ như trước nữa, nhưng bọn tôi vẫn lạc quan lắm. Chúng tôi vẫn kể cho nhau nghe về cái chuyện xa xưa từ thuở thơ ấu, có cái gì cứ kể tất, kể hết. Vì bọn tôi muốn nhớ về quê, nhớ về nước Anh, đất nước của cây bông và máy dệt vải.
Chúng tôi bắt đầu kể lể. Miler nói khi mà trong tay có điếu thuốc với chai rượu xin được từ chỉ huy. Miler chia cho các anh em mỗi người một tí, và tôi, một thằng chưa từng uống rượu cũng xin, để quên đi mọi thứ và bắt đầu luyên thuyên về đời. Ai cũng biết, ai cũng hiểu, ai cũng như ai. Miler nói:
“Người vùng Cambrige hài hước quá he?” Ông cười.
Tôi biết ông ta nói kháy tôi, vì tôi đang nói luyên thuyên về cô gái mà tôi từng tán hụt khi còn là sinh viên đại học. Nhưng dù gì thì cũng cười với gã, cười với cả đội cho khuây khỏa. Vì Miler cũng chẳng khác mấy, ông ta từng có một bức thư gửi từ đại đội bên kia, nhưng vì không biết chữ nên ông cứ cầm bức thư chạy đi mọi nơi. Lần đó tôi cười muốn căng cả bụng, vì Miler đưa lá thư James, anh chàng láu cá này đọc nhầm nên khiến Miler chạy đi khắp hào đến độ ông suýt thì buột miệng chửi viên chỉ huy. Nếu không có Radley nhanh miệng thì bữa ăn hôm đó chúng tôi được nhiều hơn một chút rồi.
William là người cùng vùng Cambrige với tôi, khi mà cùng chung đội tôi mới biết cả hai là đồng hương, cũng vì thế mà có một số nét chúng tôi hợp nhau, cũng vì thế mà thân thiết hơn. Về Radley, có vẻ ông ấy cùng thế hệ với Miler, Radley có phần ít nói và trầm tính, nhưng ông lại rất quan tâm tới đồng đội. Trong trận Magne, ông sẵn sàng cứu một người lính trẻ mắc kẹt giữa hai tên quân Đức. Radley cũng là người dạy tôi bài học nhớ đời: “Khi tiếng đạn chưa dứt, đừng nhân nhượng!”. Ông có nhiều kinh nghiệm, chắc rằng ông từng trong quân đội trước cả khi chiến tranh châu Âu diễn ra. Vì thế nên ông biết khi nào nên dừng và khi nào nên tiến. Radley giết một tên Đức mà tôi đã định tha cho, hắn nằm sõng soài dưới đất, tay lăm lăm con dao định giết tôi. Những kinh nghiệm của Radley với chúng tôi mà nói đáng giá vô cùng. Không biết bao nhiêu lần chúng tôi thoát khỏi hiểm nghèo nhờ ông ấy. Thật sự rất may mắn khi có những người bạn đồng hành này bên cạnh.
Tháng mười hai, tuyết vẫn rơi, nhưng có vẻ ít dần. Ngày 29 tháng 12 năm 1914, không khí thật tĩnh lặng và chẳng có gì phải để ý ngoài bông tuyết trắng đang rơi. Nhưng trong tôi cảm nhận được gì đó, không khí của Giáng Sinh. Chúng tôi chuẩn bị cho mình vào ngày hôm sau, cũng là lễ Giáng Sinh. Cũng không khác mọi ngày là mấy, nhưng ai lấy cũng tươi tỉnh hơn. Chúng tôi dành một chút đồ ăn lại để cho ngày lễ, sau đó cũng tự mình nhìn lên trên để xem tiền tuyết bên kia thế nào.
Ngày ba mươi, cũng là lễ Giáng Sinh. Khi trời nhập nhạng tối, chúng tôi đi tuần. Bỗng một tiếng gọi vang lên từ bên kia:
“Này, người Anh, chúc mừng Giáng Sinh!”
Chúng tôi lấy làm bất ngờ, sau đó cũng hét lại đáp lễ:
“Chúc mừng Giáng Sinh, người Đức!”
Một lúc sau, những đốm sáng xuất hiện đầy trên chiến hào người Đức, cùng với những tiếng ồn khó phân biệt. Có những người tưởng rằng quân Đức sắp tấn công, tự đặt súng vào sẵn những gò tì súng để ngắm bắn. Nhưng không có người Đức nào tiến lên. Rồi bỗng có giai điệu:
“Stille Nacht, heilige Nacht!
Alles schläft, einsam wacht!”
Một người lính Anh biết tiếng Đức liền phấn khởi hét lên:
" Họ đang hát đấy, chúng ta nên hát theo đi!"
Lập tức chúng tôi đáp lại bằng bài hát Giáng Sinh của người Anh. Sau đó nhiều người đã rời bỏ chiến hào của mình để lên mặt trận. Cái nơi mà lác đác những thân cây xơ xác, mặt đất bị cày nát bởi đạn pháo, một vùng hoang địa, trải lấp khắp nơi là các loại rễ cây và những bộ quân phục rách nát. Tất cả đều bỏ vũ khí xuống và đối diện với nhau. Tôi cũng trèo lên cùng. Chúng tôi bắt tay nhau, dù có bị chia cách bởi rào cản ngôn ngữ, chúng tôi vẫn hiểu đối phương muốn nói gì. Bọn tôi trao nhau những món đồ, có thể là thuốc lá, chai rượu, những quả chuối hay thanh sô cô la hoặc miếng thịt nướng. Ngay cả những người Pháp cũng không thể chỉ đứng nhìn, họ lập tức cùng chúng tôi trở thành những người bạn trong mùa đông lạnh lẽo khi mà khói thuốc mới chỉ vừa tuần này vẫn còn nổ. Đó là lúc mà hình ảnh đẹp đẽ biểu trưng cho hòa bình và tình nhân loại xảy ra giữa một trong những giai đoạn tàn khốc nhất trong lịch sử loài người xuất hiện: “Hưu chiến Lễ Giáng Sinh”.
Chúng tôi đã có thời gian, để chôn cất những người đồng đội, và chôn cất thay cho cả kẻ thù. Những người này, vừa cả người Đức, Anh hay là Pháp. Chỉ mới vài ngày trước trong tuần, mới có đợt tiến công của Đức. Giờ đây chúng tôi đang phụ họ chôn cất những người mà chính tay chúng tôi giết họ. Nhưng không có gì là thù hận. Vì tất cả chúng tôi đều hiểu tại sao.
Chúng tôi, từ cả hai phía, cùng tổ chức tang lễ tại một gò đất rộng. Cùng đọc Kinh Thánh và tưởng nhớ những người đã mất vì cuộc chiến vô nghĩa này.
Chúng tôi ngồi xuống cạnh đống lửa. Ô, nhìn xem, một gã người Đức biết đánh guitar. Chúng tôi cười và phấn khích. Người lính đánh đàn, chúng tôi ca hát. Mọi người, dân Anh, Scotland, Ái Nhĩ Lan, Phổ, người Württemberg.. v.v.. đều góp giọng. Một khung cảnh tưởng chừng là sự giả tạo không thể xuất hiện trong một nơi chiến trường ác liệt như vậy. Chúng tôi còn sửa quần áo, thậm chí còn cắt tóc cho nhau trong cái màn đêm ấy.
Ôi trời, mấy gã kia đang làm gì thế? Họ đang chơi bóng! Haha, một trận giao hữu giữa người Anh và Đức! Họ đá với nhau chẳng phải vì danh dự của ai hay đất nước nào cả, mà đơn giản là vì niềm vui và đồng cảm của con người trong chiến tranh tàn khốc này. Cả hai bên đầu phấn khích, nghĩ đi, liệu có bao giờ hai bên đối đầu lại có thể vui vẻ với nhau bên quả bóng khi mà khắp nơi vẫn còn vương khói súng.
Bỗng có một giọng nói bực dọc phát ra: "không có thứ gì được gọi là tình bạn với kẻ thù trong chiến tranh, các anh không còn một chút lòng tự trọng Đức nào à?"
Tôi không hiểu tiếng Đức, sau đó một người lính Đức khác giải thích cho tôi, nhưng mà là qua giọng của James: “Gã đó tên là Hitler, một tên trung sĩ người Áo cuồng Đức. Hắn phản đối về hưu chiến ngày hôm nay và cho rằng người Đức đang đánh mất danh dự của chính họ. Một tên hết thuốc chữa.”
Sau này, gã đó ra sao thì hầu như ai còn sống đều biết cả. Còn chúng tôi hiện tại, chúng tôi quan tâm trận bóng kia như thể đó là một trận bóng vì quốc gia vậy, nhưng tiếng cười vẫn vang mãi trong cái đêm ấy chứ không phải những tiếng ỉ ôi nào cả. Tiếng còi chung cuộc vang lên, kết thúc trận đấu với tỉ số nghiêng về Đức, nhưng ai nấy đều vui vẻ. Chúng tôi thỏa thuận với những người lính Đức rằng sẽ không nổ súng cho tới nửa đêm. Nhưng đêm ấy, không có tiếng súng nào nổ ra cả. Mọi thứ thật yên bình và trở lên đáng sống.
Sau này, trong suốt cuộc chiến tranh, có rất nhiều các cuộc hưu chiến xảy ra, nhưng chưa lần nào như cuộc hưu chiến lễ Giáng Sinh năm 1914 cả. Cũng bởi vì đã có quá nhiều người phải bỏ mạng cùng với sự độc tài của bộ máy lãnh đạo không cho phép chúng tôi được có cảm xúc như một con người.
James, anh chàng sinh viên đầy danh dự, anh hi sinh trong một lần tiến công vào chiến hào phía Đức vào lần cuối năm 1915, ngay sau lễ Giáng Sinh cùng năm, anh mất bởi một quả lựu đạn. Thứ còn lại mà tôi lấy được chỉ là tấm thẻ tên và bức thư cuối cùng của anh, một bức thư anh khóc lóc với mẹ và xin lỗi với cha. Chúng tôi đã thất bại trong chiến dịch ấy.
Miler, người đàn ông hài hước pha trò đã hi sinh trong hầm chỉ huy của quân Đức, máu ông bắn lên hết giấy tờ của kẻ địch. Cho đến cuối tháng hai, năm 1916, ông mới có giấy chứng tử gửi về cho gia đình.
William, người bạn thân của tôi đưa cho tôi bức ảnh về người con gái quá cố của anh ấy. Nhưng rồi anh ta cũng đi theo người con của mình. Anh hi sinh hơn một năm sau đêm Giáng Sinh lịch sử. Anh mất sau Miler khoảng bốn tháng tại trạm quân y.
Còn nhớ Radley chứ? Ông ấy là người có nhiều kinh nghiệm nhất, nhưng giờ người đó lại là tôi. Radley mất vì hơi độc mà quân Đức phả ra. Nhưng đáng ra người phải chết là tôi. Chiếc mặt nạ của tôi đã bị hỏng trước đó bởi nước mưa và bùn trôi vào chiếc mặt nạ, Radley đã bắt tôi đeo chiếc mặt nạ của ông ấy, sau đó ông hi sinh. Trong suốt những năm từ 1915 tới 1918, lần lượt James, Miler, William và Radley đều bỏ mạng. Ôi, tôi không nghĩ rằng chúng tôi chỉ đơn giản là bạn hay những người đồng đội bình thường. Cùng nhau vào sinh ra tử, giờ đây chỉ còn lại mình tôi còn sống. Cỗ xe tăng cứu sống tôi, cỗ xe tăng tàn sát lính Đức. Để rồi sau khi người Đức quyết tử lần cuối, chiến tranh đã kết thúc.
Tiếng còi kết thúc vang lên, như cái cách trận bóng kết thúc. Tay tôi cầm khẩu súng, vẫn còn găm lưỡi lê vào người lính Đức kia. Tôi từ từ rút dao ra, lưỡi dao đâm qua tim người lính ấy. Ôi. Biết đâu được tiếng còi ấy sẽ thổi. Nếu nó nhanh hơn một chút thôi, anh ta đã sống. Tôi đã mong chúa cho chúng tôi thêm thời gian, không cần phải một ngày, không cần đến một giờ. Chỉ cần một giây thôi, họ sẽ sống, chúng ta sẽ sống.
Đến cuối cùng, tôi đã chết ngay khi đặt chân đến đây. Chúng tôi, những người còn sống, đều đã chết hết từ bên trong, linh hồn mắc kẹt lại nơi chiến hào và bùn lầy.
Tôi ngước nhìn lên bầu trời đầy mây trắng. Nó không đen như bùn đất và cũng chẳng có mùi hắc như thuốc súng. Không có tiếng nổ và cũng chẳng có tiếng hò reo. Đây là hòa bình.
Cuộc chiến tranh chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, và nó chấm dứt luôn cả tâm hồn và tuổi trẻ của chúng tôi. Thứ khốn nạn.