Ngược xuôi: Bà cũng xứng đáng được yêu!
Tác giả: Hi, my name's May, Marry
Ngôn tình;Gia đình
Gió vi vu thổi làm bụi tre phía xa xa vang lên tiếng xào xạt như tiếng cơn mưa rào giữa trời chiều oi bức. Một rưỡi trưa. Cái nắng chói loà của mặt trời treo trên mái tôn nhà làm cho con người ta không khỏi cảm thấy tê dại da đầu. Người con gái tay phe phẩy cái quạt mo, ngồi dựa vào ghế đá sau nhà, chân gác lên thành bàn nhịp từng đoạn nhạc vang lên từ chiếc điện thoại. Mái tóc đen óng được búi gọn ra sau đầu, những sợi tóc con loà xoà vẫn còn rủ trên gương mặt đang ung dung ngắm nhìn cảnh vật xung quanh. Một khung cảnh của vùng quê nhưng lại nằm gần thành phố nhộn nhịp. Ly trà đá mà Trà Vân tự pha trên bàn đã tan hết đá, cái nắng chói không làm dịu đi cái lạnh trong ly trà đá. Cái nắng chói càng làm thêm những vết chai sạn nâu sần khó quên trên tay và thêm những nếp nhăn trên gương mặt buồn khắc khổ của những người lao động nghèo.
Trà Vân một tay phe phẩy cái quạt mo, một tay gõ gõ trên bàn đá, hết nhìn đông lại nhìn tây. Nhìn đến bầu trời xanh ngắt không đám mây trên bầu trời bao la thăm thẳm.
Dừng việc phe phẩy cái quạt mo, Trà Vân với tay lấy cốc trà đá chỉ còn lại nước trà nhạt nhẽo, húp lấy một ngụm rồi để xuống, tiếp tục quạt. Từng đợt gió cứ tiếp tục nổi lên, những lọn tóc con đã nhiều hơn một chút, gió mạnh đem đến hạt bụi khiến cho con mắt đen phải nheo lại. Cứ lâu lâu lại nghĩ vẩn vơ, vẩn vơ nhiều chút. Trà Vân nghĩ về chuyện trong gia đình, chuyện thị phi trong nhà cứ như một bộ phim tâm lý tình cảm, nơi có đầy đủ tất cả những vấn đề trong xã hội và những mâu thuẫn không thể hoá giải thành lời. Nghĩ vẩn vơ lâu ngày rồi lại khiến bản thân muốn ghi lại, chuyện bi kịch lại hoá thành bi hài nếu diễn đạt đúng mong muốn, nhưng cái sự "Bi" lại luôn len lỏi trong cái "Hài" mà phải từ từ mới cảm nhận được.
Trà Vân, mười sáu tuổi, sinh ra và lớn lên trong một khu xóm lao động nghèo mà ở nơi đó con người ta từ khi sinh ra phải nai lưng để làm việc rồi bị cuộc sống đánh gục bởi bệnh tật. Người lớn và tất cả những đứa trẻ nơi đây điều là những con người có làn da rám nắng, con mắt híp và con ngươi đen huyền nhìn chằm chằm vào người khác, họ luôn toả ra một mùi của nắng và đất, cái hoang dã trong con mắt sâu thăm thẳm. Nơi đây không nói về tri thức, nơi đây nói về cái khốn khó của việc bươn trải với đời, nói về cái đạo lý đối nhân xử thế trong xã hội và đôi khi là những câu bông đùa nhạt nhẽo thô tục khiến người khác bật cười . Con người nơi đây hung dữ và cộc cằn, thô lỗ và bạo lực, họ sẵn sàng khạc nhổ ở nơi công cộng mà chẳng mải mai hình tượng, vứt rác xuống những rãnh ống nước mặc kệ cho môi trường xung quanh đang dần suy thoái, văng tục chửi thề nếu họ tức giận và có thể sử dụng bạo lực để giải quyết những vấn đề mà giao tiếp không thể giải quyết được. Tất cả đều là những sự tiêu cực, nhưng họ luôn sống rất nhiệt tình và chân thành, dễ tha thứ và luôn bị bất công của cuộc đời.
Bà ngoại Trà Vân tên là Hồng Mai, một người phụ nữ cần kiệm vì gia đình. Ngày nhỏ, Trà Vân cứ nghĩ Hồng Mai là người nghiêm khắc, tần tảo vì chồng vì con, cái dáng người lom khom, cái áo bà ba màu nâu sẫm bay bay. Ngày lớn, đến cái tuổi Trà Vân nghe được những câu chuyện từ thuở xưa về những điều mà bà Mai đã trải qua. Hai vợ chồng bà Hồng Mai từ hai bàn tay trắng xa quê đến xứ lạ để xây nên nhà cao cửa rộng nên bà rất quý trọng đồng tiền. Cố gắng cả một đời người nên dần dần bà trở nên cáu gắt và khó tính, bà luôn la mắng những đứa cháu gái mới lên năm lên sáu tuổi rằng không được phép chạy giỡn trước sân nhà, ăn nói không được lớn tiếng và vì là con gái nên không được phép khó coi trước mặt bàn dân thiên hạ. Bà khó khăn trong cách nuôi dạy con gái, con trai bởi chính bà là người đã chăm sóc mười đứa con từ lúc nó còn bé tí. Đối với bà Mai, con gái phải là những người biết giữa ý tứ, biết lo cho gia đình, phải biết nghe lời chồng và phải biết chăm lo cho con cái như bà. Con trai phải là những người trụ cột trong gia đình, bươn trải kiếm tiền để giải quyết những việc lớn lao của gia đình. Cái tư tưởng trọng nam khinh nữ của người xưa ngấm sâu vào tư tưởng của bà Mai khiến việc nuôi con cái luôn đi vào khuôn khổ, khiến con cái và bà có một bức tường vô hình nào đó. Trong trí nhớ của Vân, bà Mai luôn là người có khuôn mặt nhăn nhó và khó chịu trước những sự chăm sóc của mẹ Vân và các dì, nhưng nó sẽ thay đổi thành dịu dàng và hoà nhã khi được những người con trai bà lại thăm. Bà từng nói ở những năm cuối đời:
-Con gái như bát nước đổ đi, ngày tao đẻ ra ba đứa con gái đầu lòng thì tao đã muốn thôi* thằng cha nó rồi.
*Thôi: Từ bỏ, ở đây là ly hôn.
Ông ngoại Trà Vân tên là Văn Tài, ông là một người trụ cột trong gia đình. Trái ngược với bà Hồng Mai, ông Văn Tài luôn là người hoà nhã với mọi người, biết trước biết sau. Nhớ lại năm đó mẹ Vân vì mâu thuẫn bên nhà chồng đã cùng chồng con cuốn gói khăn áo về nhà mẹ đẻ. Lúc đó Trà Vân mới lên hai. Hồng Mai không khỏi đai nghiến đứa con gái vì không lo được cho cha mẹ chồng, không làm tròn cái tư chất mà bà truyền dạy. Bà Mai chỉ cho gia đình Trà Vân ở cạnh cái khoảng nhỏ trong nhà, nơi gần cái chuồng heo và xó bếp củi lạnh tanh. Ông Tài khi ấy đã giấu bà Mai cho cha mẹ Vân miếng đất gần đó để xây nhà, miếng đất là một cái ao, nằm giữa bụi tre rậm mà người trong xóm truyền miệng rằng có ma quỷ cư ngụ, những vong hồn vất vưởng không thể đầu thai. Bà Mai khi biết chuyện giận vô cùng, bà cho rằng thói đời làm gì có chuyện đó, chuyện con gái gả đi nhưng rồi lại về bòn rút của cải của mẹ đẻ. Rồi ông Tài nói rằng:
-Bà đứt ruột đẻ nó ra, nuôi nó ăn, nhìn nó lớn. Chẳng lẽ có mỗi miếng đất có ma có quỷ lại không thể cho nó được hay sao?_ Từ dạo đó Bà Mai không nói nữa nhưng vẫn canh cánh trong lòng.
Thói đời là vậy, Bà Hồng Mai thương đồng tiền và của cải bà làm ra hơn bất cứ thứ gì, hơn cả chồng và cả con của bà. Bà luôn nói về câu chuyện năm xưa, bà cực khổ nhường nào, cần kiệm ra sao để có được cơ ngơi như hiện tại. Năm đó bà bị nhà chồng làm khó, khổ cực đủ điều. Năm đó bà tính thôi ông nhưng gia đình mẹ đẻ không cho bởi họ luôn dạy bà "Phụ nữ đục trong, nương nhờ tấm chồng". Bà hiểu mọi gian lao khổ cực bà trải qua nhưng rồi chính bà cũng là người làm ra cái khổ cực cho người khác, mọi lời bà nói chỉ là ngụy biện cho sự ích kỷ và tham lam của bà. Bà bị nhà chồng làm khó nhưng lại ruồng rẫy đứa con gái ruột khi nó về bên chồng mà không hạnh phúc. Bà bị trọng nam khinh nữ nhưng chính bà là người áp đặt phong tục cổ hủ ấy cho những người con. Bà khinh miệt những đứa con gái trong khi nó sẽ là người nuôi bà ở những năm cuối đời. Những đứa con trai mà bà coi như báu vật lại là những người sẽ bỏ rơi bà khi tuổi già ập đến.
Nhưng trên đời này điều có ngoại lệ, những người bà Hồng Mai không bao giờ tiếc rẻ đồng tiền cho họ. Đó là ông cậu của Trà Vân, em trai ruột bà Mai.
Ông cậu của Trà Vân tên là Quốc Cường, em trai út của bà Hồng Mai. Từ một người thầy giáo chức cao vọng trọng, mất đi tình yêu ông Cường như rơi xuống vực sâu không thấy đáy. Bà Hồng Mai thương người em trai vô cùng, bà cứ dúi tiền vào tay để ông Cường đi uống rựu. Bà thương nó nhưng cũng đang giết đi nó, thà người ta đánh mắng để răn dạy con người cho họ đi đúng hướng thì bà Mai dung túng cho những việc say sỉn của ông. Thứ làm con người lầm đường lạc lối chính là những sự dung túng tiêu cực. Món ngon, vật lạ bà Hồng Mai điều mang cho ông Quốc Cường ăn trước trong khi ông chẳng làm gì ra tiền, cuộc sống ông hoàn toàn sống dựa vào người chị của mình. Lần đó, ông Tài và bà Mai đang ăn cơm cùng các con, con ma men say sỉn lửng thửng bước vào bàn ăn, mùi rựu nồng nặc khiến những đứa cháu phải bịt mũi la ó. Ông Tài bất bình liền nói nặng:
-Mày còn đủ tay đủ chân, nào có què quặt như ai mà cứ say sỉn hết ngày này đến ngày khác! Mày đi ra ngoài thềm đi, nhà tao đang ăn cơm!
Chưa kịp để bà Mai nhăn mày bênh vực, ông Cường đã với lấy tô canh tía tô ấm trên bàn đổ thẳng xuống đầu ông Tài, trước sự ngỡ ngàng của những người con, con trai lớn của ông Tài thấy thế liền lao đến thì bị bà Mai giữ lại, bà nói rằng đó là em của bà, đánh nó là đánh bà, không cho phép ai lại gần. Ông Tài lúc đó chỉ biết im lặng đi vào trong buồng sau còn ông Cường thì cười khành khạch. Con bà Mai từng tộc mạch rằng bà quá thiên vị em trai, bà chỉ khinh khỉnh trả lời:
-Đời tao có hạt thóc, cắn ra chia làm ba, cái đầu cho cha mẹ tao, cái đến cho chị em tao, sau cùng là mới đến chồng con của tao!
Trách sao được cái lý lẽ đó của bà, bởi bà cũng có phần đúng phần sai, đứa em trai ruột thịt cách bà hai mươi tuổi, khi cha mẹ bà mất bà đã xem nó như đứa con của mình mà đưa hết tiền tài để cung phụng nó. Bà nghĩ rằng vợ nó bỏ đi, việc làm cũng mất nên chỉ còn men say để làm bạn khiến nó quên đi nỗi buồn nên cứ mặc nó. Nỗi buồn sẽ giết chết con người, quên đi nỗi buồn thì nó sẽ không chết, đứa em ruột bà thương yêu sẽ không chết. Và cũng chính những lời nói lúc tức giận ấy đã khiến cho những đứa trẻ ấy tổn thương, những đứa con của bà. Rồi một mai cũng chính là nói ấy sẽ là sự đay nghiến cuối đời khi bà không còn gì cả.
Con bà Hồng Mai từng nói:
-Bởi vậy mà ba có phúc hơn má. Năm ba còn sống thì được người người đón lui. Giờ nhìn coi, má già rồi mà có ai đến thăm đâu?.
Đôi mắt bà Mai sâu thăm thẳm, màu xanh biển do sắc tố thể tuổi già làm nhạt dần. Làn da bà Mai đen sạm và nhăn nheo do những ngày tuổi già lú lẩn thường đi khắp nhà, khắp xóm. Khuôn miệng bà cười tươi, nụ cười với má lúng đồng tiền rất duyên. Mái tóc bà Mai bạc trắng do những suy nghĩ vun vén cho những điều lớn lao.
Bà Hồng Mai rất tốt, mặc kệ là những câu chuyện mà người khác thường nói về sự ích kỷ và cổ hủ của bà, bà Mai vẫn tốt, ít nhất là tốt trong mắt của Trà Vân. Ngày mẹ Trà Vân đi sinh em gái An My, Trà Vân năm tuổi ở nhà nửa đêm đói bụng, chỉ biết ngồi đầu giường đếm cừu để qua cơn đói. Giữa khuya bà Mai đi ngang qua bếp nhìn thấy Trà Vân còn ngồi đếm nhẩm, bà vào bếp nấu một dĩa cơm rang thơm nức, cơm rang trứng gà, dĩa cơm rang ngon nhất đời Trà Vân. Dưới ánh đèn vàng nhỏ xíu trên trần nhà đầy bồ hóng bu lảng vảng, tiếng ve kêu xa xa trong đêm tối muộn, hình ảnh hai bà cháu ngồi ăn với nhau dĩa cơm rang, đứa cháu thì cậm cụi ăn còn người bà thì nhìn nó, bàn tay cầm cái quạt mo phe phẩy để muỗi đừng cắn cháu, cái chân ngắn cháu để dưới nền đất không ngừng đung đưa.
Bà Hồng mai một tay vén tóc mai con của Trà Vân, một tay phe phẩy cái quạt mo, cái vòng ngọc bích trên tay bà Mai không ngừng leng keng theo nhịp phẩy nghe rất thích, bà Mai hỏi:
-Ngon không? Mẹ mày là đàn bà mà chẳng lo được cho con cái, để con đói mốc đói meo thế này. Xấu chết!.
Trà Vân nhai nhồn nhoàng, vừa ăn vừa nói:
-Mẹ không có xấu đâu, tại con đói nên mới ăn á. Ngon lắm ngoại ơi.
-Ăn xong rồi đi ngủ. Con gái con đứa, đừng có vừa nói vừa ăn..._ bà Mai vuốt vuốt mái tóc Trà Vân, bàn tay ấm áp dịu dàng và có vết chai. Nghĩ một lúc bà nói: _Thôi, ăn rồi rửa miệng vào phòng ngủ với ngoại, ngoài này muỗi cắn chẳng ai văng mùng cho mày đâu.
- Dạ.
Đêm tối muộn, nằm giữa ông Tài và bà Mai, rút mặt vào lòng ngực ấm áp của bà mà Trà Vân đã ngủ rất lâu, say giấc. Câu hò ầu ơ dí dầu đi sâu vào tâm trí, hương dầu cù là thoang thoảng và cái gió hiu hiu từ cái quạt mo. Tuổi thơ của Trà Vân, bà ngoại chưa từng kể chuyện côt tích nhưng bà ngoại sẽ là dĩa cơm rang trứng gà, bà ngoại là tiếng ầu ơ, là hương dầu cù là, là tiếng ve sầu đêm tối muộn và là tiếng leng keng của cái vòng ngọc bích.
Trong lời của những người con, những người cháu, những người hàng xóm, những người thân thuộc rằng Hồng Mai có phần cay nghiệt, chua ngoa, ích kỷ. Nhưng phần nào đó họ quên mất rằng bà cũng chỉ là một người phụ nữ bị gông cùn của tư tưởng cổ hủ ghìm chặt, sinh con khi chỉ mới mười bảy tuổi và tất cả những điều bà làm suốt cả cuộc đời thì xã hội điều cho nó là lẽ đương nhiên. Bà làm đủ mọi thứ để rồi khi bản thân dần trở nên biến chất, trở nên khó khăn hơn thì lại bị gông cùn ấy thị phi bà. Tiếc cho đời của Hồng Mai, người phụ nữ chua ngoa cay độc trong lời mà họ nói.
Trước linh cửu, hồn bà Hồng Mai bay phấp phới kế bên quan tài. Nở một nụ cười. Ừ thì thị phi, ừ thì đanh đá chua ngoa. Nhưng ít ra khi bà chết, những giọt nước từ đôi mắt của con bà, cháu bà, người thân của bà đang lăn dài trên má điều là giọt nước mắt thật lòng. Có lẽ cuối cùng họ cũng biết, sẽ biết, thấu hiểu và tiếc thương cho một đời vất vả của bà, hoặc chỉ đơn giản là khóc vì đã mất đi bà.
-Bây vào sờ mặt bà lần cuối, đừng sờ lên trán bà, trán bà để ông hôn_ Xuyên suốt trong đời bà Hồng Mai toàn là những câu chuyện về cách sống của bà, rằng bà tốt thế nào, tệ ra sao. Nhưng đến cuối cùng trong đời bà vẫn có yêu, bởi vì yêu nên bà mới dám hy sinh nhiều đến thế. Yêu cha, yêu mẹ, yêu chồng, yêu con, yêu gia đình. Yêu cha và mẹ vì họ đã sinh ra bà. Yêu chồng và con vì họ là nơi để bà có động lực bước tiếp. Yêu gia đình vì ngoài gia đình ra, bạn bè bà chẳng có.
Khi hạ nguyệt nơi đất tổ, Trà Vân đứng chôn chân nhìn tấm di ảnh giữa hàng người tới lui thăm viếng Hồng Mai. Hồn bà nắm lấy hồn ông bay tít lên trời cao. Giọng bà vang khắp phương xa chốn gần: "Ổn rồi ông nhỉ? Con cháu dưới kia xum vầy lắm luôn. Nó chăm tui tốt lắm, nhưng hơi buồn ông ạ, buồn cái tụi...".