Ngược xuôi: Tình trần đẹp mắt ai.
Tác giả: Hi, my name's May, Marry
Ngôn tình;Ngọt sủng
Văn Tài có người em gái tên là Thị Nga. Bà Nga đáng lẽ bằng tuổi bà Hồng Mai nhưng do sinh đẻ khác người nên nhỏ hơn bà Mai một tuổi. Vốn người ta mang thai thì sau chín tháng mười ngày thì đứa bé sẽ chào đời nhưng bà Nga thì lại khác, bà nằm trong bụng mẹ đến tận mười hai tháng thì mới chui ra, khoẻ khắn và trắng trẻo vô cùng. Người trong họ ngoại của Trà Vân ai cũng khen bà Nga. Họ nói bà lúc thời niên thiếu đẹp người, cái đẹp của người con gái vừa trăng tròn. Họ nói bà lúc tuổi già đẹp lão, cái đẹp mập mập tròn tròn được trông nôm kỹ càng của con cháu. Nói chung là thời nào, trong trí nhớ Trà Vân, bà Nga luôn đẹp, đẹp về vẻ bề ngoài cả về chuyện tình yêu.
Thị Nga goá chồng năm bà hai mươi bảy tuổi, để lại bà với ba đứa con thơ. Vốn ở cái tuổi đó bà Nga có thể đi thêm bước nhưng bà không chịu, một mình gồng gánh nuôi ba đứa con nên người. Chuyện tình bà Thị Nga với ông Văn Tuấn làm phó nông hội là câu chuyện tình đẹp như mơ. Bà Nga hay ngồi trên ghế bố kể cho Trà Vân nghe mỗi khi Vân sang nhà bà chơi. Bà Nga kể khi xưa bà không chẳng ưa gì ông Tuấn nhưng ông lại yêu bà từ cái nhìn đầu tiên, lần đó bà từ dưới quê lên thành phố ăn đám cưới, ông Tuấn thấy bà đẹp liền về nói với cha mẹ:
-Má qua nhà ông Bảy thưa chuyện giúp con, con muốn lấy nhỏ Út nhà ổng bả. Nhỏ đó đẹp dữ lắm.
Ông Tuấn bằng một bằng hai đòi cha mẹ cưới bà về cho bằng được. Cha mẹ ông vừa mừng vừa lo. Mừng vì sau bao cuộc coi mắt ông cũng ưng một người. Lo vì năm đó bà Thị Nga mười tám tuổi, đẹp nhất vùng không ai sánh bằng, người đẹp thì người ta có quyền kiêu. Bà Nga chê ông Tuấn là trắng trẻo như con gái, liễu yếu đào tơ mặt hoa mài phấn, không chịu cưới ông. Và cũng một phần vì bà là con gái út, xinh đẹp nên được ông anh trai là Văn Tài thương hết mực. Suốt những năm tháng thơ ấu cho đến lúc về nhà chồng, Ông Tài điều rất thương bà Nga, mặc dù bà Nga năm đó đã mười hai tuổi nhưng ông vẫn sẽ cõng bà đi học mỗi lần bà mè nheo. Ông Tài thương bà Nga vì bà là em gái nhỏ của ông, mà đã là em ông thì sẽ không được cưới thằng chồng tồi, nếu không thì ông sẽ xót.
Thị Nga đòi bên nhà trai sính lễ là đôi bông tai ngọc bích, đôi chiếc vòng cổ kiền vàng, ba chiếc lắc tay ngọc bích bằng vàng, đôi chiếc lắc chân bằng vàng, một cây trâm vàng, một chiếc dây chuyền bằng ngọc, tất cả điều là vàng ngọc thì bà Nga mới chịu cưới. Ông Tuấn đứng ngoài cửa nghe bà đòi thì cười một trận rõ to, bên nhà trai ai cũng cười, họ nói đó âu cũng là cái duyên cái số. Mãi sau bà Thị Nga mới biết, ông Văn Tuấn lúc đó trúng vụ mùa dưa, đem bán hết được mớ tiền, mẹ ông Tuấn kêu ông sắm vàng để giành cưới vợ nên ông Tuấn ra tiệm vàng trùng hợp sau lại mua y đúc cái mà bà Nga yêu cầu. Bà Nga lại có thêm yêu cầu, bà muốn được đặt chân đến đất Sài Gòn phồn hoa mà ông Tài vẫn thường hay kể, năm đó ông Tài thực hiện lời hứa dẫn bà đi đến Sài Gòn, chính tay ông Tài lựa cho bà Nga chiếc áo dài cưới đẹp nhất.
Nói rằng họ sẽ lấy nhau là thế, ông Tuấn thương mến bà Nga là thế nhưng cả hai chẳng nói với nhau câu nào cho ra trò. Nếu ông Tuấn ăn cơm nhà trước, bà Nga sẽ ăn cơm nhà sau, nếu ông Tuấn đi cửa đằng Tây, bà Nga sẽ đi cửa đằng Đông. Một ngày nắng nọ, nhà bà Nga chẳng có ai vì công việc trên xã bộn bề, bà được giao nhiệm vụ phải tưới phân và tưới nước cho ruộng dưa sau nhà. Cái tiết trời oi ả khiến bà khó chịu trong người, lại khiến bà nhớ đến còn ông Tuấn trong nhà. Lúc ông đang chặt củi phía sau khoảng sân, bà Nga đi vòng đứng mép bên cửa, nhìn ông, bà nói:
- Ê, mấy người đi gánh phân tưới ruộng dưa dùm tui.
Nghe thấy tiếng bà Nga gọi, ông Tuấn dừng việc ngẩn ra, hết nhìn bà Nga rồi lại ngó trái ngó phải. Thấy không có ai ngoài hai người, ông mới ngu ngơ chỉ vào mặt mình hỏi:
- Em kêu tui hả?.
-Không anh chứ ai? Đi lẹ tưới phân, cha tui về chửi tui chết! - Nói rồi bà Nga xoay người chạy tót ra ngoài ruộng dưa.
Ông Tuấn bữa đó vui lắm. Vui như bắt được vàng. Ông gánh phân dưới cái trời nắng nóng mà mặt đỏ ngây nhưng vẫn cười tươi như vớ được vàng. Mấy người ngoài ruộng thấy thế liền trêu: "Bữa nay dượng út được cô út nói chuyện rồi ha. Đừng có tưới nước, một hồi là mưa đó!".
Thế rồi ra giêng, bà Nga lên xe hoa về nhà chồng.
Mười chín tuổi Thị Nga đẻ đứa con trai, hai năm sau bà đẻ đứa con gái kế, ba năm sau nữa bà đẻ con trai út, gia đình ấm no đề huề. Ở cái thời mà việc trọng nam khinh nữ, trụ cột gia đình trên hết là lẽ hiển nhiên thì nhà bà Thị Nga lại hạnh phúc đến lạ. Ông Tuấn chưa một lần làm bà buồn càng chưa một lần nào đánh bà vì cãi nhau. Ông Văn Tuấn làm phó nông hội trong bộ đội, biết chút đàn và cũng có cây đàn guitar. Bà Thị Nga xưa có đi hát giúp mấy gánh hát khi thiếu người nên giọng bà hay lắm. Hai vợ chồng tối nào cũng song ca kẻ đàn người hát ru cho mấy đứa con ngủ. Ông Tuấn hỏi bà Nga:
-Em ăn cái gì mà lớn? Cái gì em cũng giỏi? Cái gì em cũng khôn?
Bà Nga mới trả lời chồng:
-Người ta trong bụng mẹ chín tháng đã ra, tui ở trỏng tới mười hai tháng nghĩ sao không khôn?
Thế rồi hai vợ chồng lại ngồi cười khì khì.
Lại lần đó, ông Văn Tuấn được cho về ở nhà mấy ngày do dịp lễ. Đang cấy cày cùng bà Thị Nga cho vụ lúa mới thì từ xa có người chạy toáng lên, vừa chạy vừa hô hoán:
-Tây nó tới bắt rồi, người mình trốn nhanh lên!
Ông Tuấn nghe đến đó thì mặt cắt không giọt máu, toang chạy đi thì bị bà Nga giữ lại, bà nhăn mặt:
-Anh đi đâu?
-Đi trốn
Bà Nga lắc đầu và tay thì vẫn giữ chặt lấy ông, bà chỉ về hướng phía hai người lính Tây cầm súng đang đi lại, bà quả quyết:
-Anh không có đi đâu hết á. Tụi nó ở phía đằng kia rồi. Không kịp nữa đâu, anh nghe lời tôi, giờ anh cởi áo ra bỏ ngoài này, một hồi đi lên bờ nó có hỏi thì anh cứ im đi, để tôi nói cho
Hai vợ chồng cầm tay nhau bước đi trên đường ruộng, tay ông Tuấn run như cầy sấy, mặt cắt không còn một giọt máu, xanh như tàu lá chuối. Lúc đi ngang qua hai lính Tây, người ta chặn bà Nga lại hỏi chuyện, hỏi đến cái mặt chồng bà thì bà chỉ nở một nụ cười duyên:
-À, thằng chồng tui ra cấy lúa thì bị say nắng, người ổng trắng nên dễ bị say, tui đưa ổng vào nhà nghỉ ngơi chứ cứ đứng ngoài này riết có khi ổng chết
Rồi bà Nga cứ hiên ngang dìu dắt ông Tuấn về đến nhà. Ông Văn Tuấn cứ cảm phục cứ độ thông minh khôn khéo của vợ mình, ông hỏi:
-Bộ em không sợ hả?
-Sợ gì cha? Ông bị bắn chết tui mới sợ
Rồi một ngày kia, ông Văn Tuấn đi thu lưới trên sông thì không may vướn phải mìn mà bị nổ chết. Lúc mang xác ông Tuấn về, bà Thị Nga chỉ biết ôm mặt khóc nấc lên trong tuyệt vọng. Ngày nắng ngắt ve sầu, ông Văn Tuấn rời đi coi như kết thúc kiếp người thăng trầm khốn khổ. Ngày tối bà Nga nằm mơ, thấy ông Tuấn về trong chiêm bao với hình hài nguyên vẹn, nở một nụ cười làm bà Nga siêu lòng đến nghẹn ngào, ông nói với bà:
-Tui đi nha, em ở nhà chăm sóc cho con mình. Tui xin em cho tui một lần ích kỷ, xin em hứa rằng đời này em đừng đi bước nữa, ít nhất là khi con thơ mình còn nhỏ. Được không em?
Rồi bà Nga đồng ý trong mơ và quả thật là bà không đi thêm bước nữa. Lời hứa trong mơ chẳng biết thật hay đùa nhưng lòng bà lại coi nó là lời thề duy nhất mà sẽ dùng cả đời để thực hiện.
Người ta nói với nhau rằng bà Thị Nga giỏi lắm và đúng là bà giỏi thật. Chồng mất, mẹ chồng cay nghiệt giành mất ngôi nhà che nắng che mưa từng chất chứa bao kỷ niệm, xua đuổi bà Nga đi về bên nhà mẹ đẻ. Ngày đó con trai lớn bà chỉ mới sáu tuổi, đứa con gái thì mới lên ba tuổi còn đứa con út mới sáu tháng. Bà cuốn gói hành lí nặng gần chục kí bỏ vào đòong gánh, đặt thêm hai đứa con nhỏ lên cái gánh để bà gáng trên vai, thằng lớn thì bà cho nó đi bộ kế bên bà. Bà Thị Nga và các con năm đó lặn lội gần trăm cây số, chân bà như mất đi cảm giác, tiếng kêu than của đứa lớn: "Mẹ ơi con đi hết nổi rồi" khiến bà chỉ đành nuốt những ấm ức vào bên trong lòng mà vững bước. Nghĩ đến người chồng quá cố đã tiếp thêm cho bà động lực để vì con. Bà Thị Nga là con gái út, là viên minh châu mà anh trai nâng niu như trân bảo, nay bà là người mẹ của những đứa con thơ đã mất cha. Ngày đó bà về đến nhà mẹ đẻ, ông Tài rưng rưng đôi mắt trước cái hình ảnh đứa em gái ông đánh còn không nỡ nay phải lặn lội trăm cây số về đến nhà. Số phận sau bẽ bàng với bà đến vậy, đến con trai nhỏ của bà cũng phải từ bỏ họ cha theo họ của anh bà để được đi học tiếp.
Năm đó bà một mình làm đủ thứ chuyện trên đời để nuôi con, gánh nặng đè lên đôi vai chưa bao giờ làm bà ngục ngã. Ngày đó bà chở con gái ra chợ bán bún nước lèo, có ông Năm_ Người đàn ông đã một đời vợ. Ông thương bà bởi cái làn da luôn trắng dù có dãi nắng dầm mưa, thương bà bởi cái tính cần cù chăm chỉ cố gắng vì con, thương bà bởi phận bà ôi sao nó bẽ bàn đáng thương quá. Nhưng tiếc cho ông Năm khi bà Nga đã có con, lại còn một lời thề thủ tiết cho người chồng đã mất, bà Nga và ông Năm lướt qua đời nhau. Đến mãi những năm cuối đời, tên bà Nga lại có trong lá thư di chúc của ông Năm:
"Gửi Nga, tôi tiếc cho tình mình không đến sớm như tôi mong mỏi, tôi tiếc cho đời Nga khổ cực trăm bề. Mớ tiền giành giụm cả đời khi chia hết con cái của tôi cho trọn người làm cha, còn lại tôi xin gửi lại Nga coi như trọn tình mà riêng tôi giữ lấy. Mong Nga hạnh phúc bên con, suốt đời vô lo vô nghĩ".
Đời bà Thị Nga có hai người đàn ông thương bà thật lòng. Một là người chồng quá cố, hai là người đã từ bỏ hồng trần. Số tiền ông Năm để lại bà Nga không lấy một đồng, bà đem gửi vào chùa với tâm niệm rằng chẳng ai nợ ai, mong ông sớm ngày được siêu thoát. Đời bà Nga coi tình yêu của ông Tuấn là nghĩa trọn tình cao đẹp nhất, là nguồn duy trì sự phấn đấu và cố gắng của bà. Coi cái tình của ông Năm ngọn gió thoáng qua đời.
Thấm thoát mấy chục năm trời. Năm Thị Nga năm mươi tuổi, trong chợ bà nghe rằng có ông thầy bói mù coi số mệnh hay lắm thế nên khi tan chợ về bà có thử đến xem. Ông thầy bói bận bộ đồ rách tả tơi, trên tay cầm cái nón lá đung đưa qua lại, hai con mắt bị lỏm sâu vào trong và như không tồn tại, một vết sẹo lằn dài trên gương mặt lắm lem nhọ nồi.
- Cô xem gì? Mời đưa tay_ Ông thầy bói cất tiếng hỏi khi thấy người đến gần.
Thị Nga đưa bàn tay đã chai sạn của bà cho ông thầy, bà Nga nghi hoặc:
- Ông... Xem coi chồng tôi sau này có làm ăn được không? Có cần phải tránh gì không?.
Ông thầy bói im lặng một lúc, tay ông cần mẫn:
- Cô nói sao chứ?... Chồng cô mất lâu rồi mà, chục năm trước, banh xác cả. Cô có ba người con, hai trai một gái. Tiếc...
- Tiếc gì hả ông?_ Thị Nga ngạc nhiên hỏi.
-Tiếc cho đời cô có con cháu đề huề điều có hiếu nhưng phải sống với người dưng. Người dưng lo, người dưng chăm, người dưng sóc.
Thị Nga suốt ngày hôm đó cứ suy nghĩ mãi về câu nói của thầy bói mù.
Đến ngày hôm sau, khi vừa đặt gánh bún xuống nơi bà hay ngồi bán thì con bé Út đã hớt hãi chạy đến báo tin:
- Cô Út Nga ơi, có người chửa hoang bỏ con ngay cổng chợ kìa cô. Cô ra coi thử đi.
Như nhớ đến điều gì, Thị Nga liền nhờ Út dẫn đường mình đến chỗ đứa nhỏ bị bỏ rơi xấu số. Thằng bé ăn mặc sạch sẽ, được gói gọn trong một thùng cát tông và được bao bọc bởi khăn để giữa ấm. Nó đỏ hỏn và chưa được đầy tháng. Bà Nga vừa nhìn đã thương, bà đem nó về nuôi trước sự ngỡ ngàng của Út.
- Cô nuôi nó hả?.
- Ừ, con Thu nó vừa đẻ bé Xinh. Còn sữa. Thôi tội nghiệp nó quá để tao nuôi.
Đúng là con gái của Thị Nga vừa sinh con gái đầu lòng cách đây mấy tháng. Cháu gái nhỏ tên ở nhà là Xinh vì nó hồng hào trong bụ bẫm yêu lắm. Bà Thị Nga đem thằng bé về trao tay cho đứa con gái, uống sữa mẹ của con gái nên sẽ kêu nó bằng mẹ, và sẽ gọi bà bằng ngoại.
Từ ngày nhặt nuôi thằng bé về, Thị Nga đặt tên nó là Thành Dư. Tên ở nhà sẽ là Tro. Tro là vì nó đen như tro, Tro là vì đây là của trời cho bà. Tro lớn lên bằng sữa của con gái bà Nga, tối thì ngủ bằng tiếng ru của bà. Lớn lên Tro nó điềm tĩnh lắm, tính nó hiền, hiền như cục bột. Trong tiềm thức của Tro, bà Nga là người tốt, là ân nhân của cả cuộc đời nó, cứu nó khỏi cơn chết đói và lạnh lẽo nơi cổng chợ. Tro thương bà Nga, tất nhiên là phải thương. Từ khi có nhận thức, người ta điều nói rằng cả đời này của Tro sống là vì bà nên phải thương bà. Nó tự hiểu thân phận nó đã được định đoạt từ lúc mẹ đẻ nó bỏ nó đi mà không chút nhìn lại.
Bà Nga cũng thương Tro, nhưng có lẽ ấy xuất phát từ lòng thương hại và câu nói của ông thầy bói mù. Thâm tâm bà biết, nếu không có câu nhắc nhở ấy, bà sẽ không bao giờ nhận nuôi Tro.
Vốn sự thật là vậy.