Chuyện về Kỳ
Tác giả: Độc Hành Dạ Lang
Sảng văn/Tự vả;Gia đình
(Tưởng nhớ quê hương)
Hà Tĩnh, một tỉnh có địa hình vừa dài vừa hẹp thuộc vùng Bắc Trung bộ - Việt nam, có khí hậu khá khắc nghiệt. Mùa đông, gió mùa Đông bắc thổi từ tít trên Trung Hoa đại lục xuống, mang theo giá lạnh. Cái lạnh không đến nổi băng phong tuyết phủ nhưng cũng là rét buốt, làm người ta chỉ muốn chui rúc vào trong chăn, ẩn núp trong đó và đừng hòng động chân tay vào thứ nước nào chưa được đun sôi làm ấm.
Mùa Hạ, phía tây, gió từ nước Lào giáp ranh thổi tới chưng khô không khí, gió thổi nhiều – càng thổi càng khô nóng, đất trời oi ả nóng bức. Trong cái không khí mùa hạ nơi vùng đất vốn cằn cỗi và đang cằn cỗi hơn này, người ta hậm hực tắt quạt điện và tivi – toàn bộ những cái công nghệ tân tiến nhất họ có được, tìm đến những tán cây, những khe suối lẩn khuất giữa những rú đồi đây đó để giảm nhiệt và ngủ trưa.
Hằng năm, vào độ mùa Hạ, những cơn bão càn quấy từ biển Đông kéo đến, đẩy những cơn mưa gió mạnh bạo xuống; gió thổi ràn rạt, làm gãy đổ cây cối, hoa màu, và nhiều khi thổi bay cả nhà cửa; trước khi những cơn lũ càn quét mọi thứ trên đường đi của nó kéo đến; cuối cùng lũ ngập chìm. Có những xã, những xóm, những nhà cửa, chỉ còn thấy mái ngói xen lẫn mái tranh nhấp nhô, và những chiếc Nố(ố)c nhỏ bé dập dìu, chở một ít người vào các vùng làng xóm cao hơn; và mọi người đều tiếc nuối nghĩ đến hoa màu đang ở dưới tầng nước lũ đục ngầu kia – “hư hết cả rồi”.
Những cơn bão có khi mấy lần kéo dài đến những tháng mùa Thu. Dù vậy, dân quê vùng đất này phải thích mùa thu nhất; và hơn nữa, thêm yêu mến quê hương bởi sự hài hòa êm nhẹ của nó. Mùa thu trong xanh, gió dịu nhẹ lả lướt trên những cánh đồng lúa đang kỳ trổ bông; lúa rì rào làm xanh tươi con mắt, phấn khởi lòng người. Khi đến gần mùa xuân, hoa Léc, hoa Bậy bậy, hoa Trang, cũng nở rộ. Màu trắng sữa, màu đỏ của hoa điểm tô các ngọn đồi thấp nhấp nhô đây đó. Những đứa trẻ chăn trâu, lấm la lấm lét, hò hét trên đường, có khi cũng bận tâm ngắm nhìn cảnh vật mùa thu quen thuộc này.
Nhưng, chiều nay của năm 2000, mưa phùn lả tả, không rõ những hạt mưa đang rơi hay đang bay. Không khí có chút se lạnh. Mùa xuân đã đến từ hai tháng trước. Hình như đến ngày Tết của các năm, trời phải đổ mưa phùn, đều se lạnh - ảnh hưởng chưa hết của mùa đông chăng, hay để tô điểm thêm một sắc thái đặc trưng của khí trời mùa Xuân vùng Bắc Trung bộ. Hôm nay - mồng bốn Tết, mưa se sẽ; không khí ấy cũng làm lòng người lạnh nhạt đi phần nào.
Ở cái xã Hương Thái, thuộc huyện Hương Khê này, đặc trưng của khí hậu miền đất Hà tĩnh rất rõ rệt. Xã Hương Thái đặc biệt khó khăn, thuộc một huyện vùng sâu vùng xa, của một tỉnh nghèo, có một ngôi nhà nhỏ với hai mái nhà – nhà lớn hơn lợp ngói, nhà nhỏ lợp tranh, có làn khói trắng nhợt nhạt tỏa ra, gia cảnh nghèo nàn, không khí có phần đìu hiu.
Kỳ! Bựa ni mi mần chi? – ông Hậu hỏi, ánh mắt như sắp phát giận, phát uy.
Thiếu niên tên là Kỳ kia cúi mặt không đáp, sợ hãi, chờ đợi cơn giận của cha nó sắp trút xuống.
Bựa ni mi lậy khung mần chi đúng chi - Vô tích sự - hơi chà! - Túi ni ăn hai đọi nghe chưa - vẻ mặt ông Lành từ tức giận đến bặm môi, nghiêm nghị quát không ngừng. Dường như, ông không đủ lý do để đánh cho đứa con trước mặt này một trận, thay vào đó, ông đay nghiến nó cho hả lòng hả dạ - mồng bốn, đã qua Tết rồi, ông muốn thấy nó làm việc chứ không được phép nhàn rỗi.
Trước cơn giân dữ của người đàn ông trung niên có phần khắc khổ kia, Thiếu niên vẫn cúi mặt không nói gì, tay phải vừa nắm lại, tay trái vội cầm chặt; tâm tình có phần kích động nhưng không bộc phát ra, không rõ sự kích động chỉ có thế, hay đã mạnh mẽ ngậm hờn nuốt cay.
Kỳ - thiếu niên mười sáu tuổi trước mắt này tầm tầm mét bảy, vóc dáng gầy gò, nhưng nhìn vào có cảm giác cân đối, có phần thanh lịch; da vàng vàng hơi đen, gò má hơi cao, môi hơi dày; bù lại có đôi mắt, dù có hơi hẹp, nhưng sâu sắc, có chút thanh tú; cùng với cái mũi cân đối. Nhìn tổng thể, hắn không xấu, cũng không đẹp. Gương mặt hắn, người khác nhìn vào sẽ có ấn tượng mạnh về sự hiền lành, dường như là quá hiền hay cũng có thể là sự nhẫn nhục cần mẫn có trong đó.
Từ lúc hai đứa em của hắn, một trai một gái, được sinh ra, từ hồi bốn năm trước, hắn đã dần cảm thấy cha mẹ không còn quan tâm gì đến hắn nữa. Suốt bốn năm nay hắn đã quen dần với sự dửng dưng của mẹ, với sự cay nghiệt của cha rồi. Nhưng hắn không căm ghét cha mẹ, hay sáu người anh chị em trong nhà. Là một người mẫn cảm, hắn cảm nhận được áp lực của cái nghèo đè nặng trên đôi vai cha, cùng với sự nhẫn nhục của mẹ; hắn thông cảm được sự khốn khổ của người mọi người, huống chi là người thân của hắn.
Mặc dù, ông Hậu, nói hắn chỉ được ăn hai đọi cơm tối nay, nhưng hắn biết có thể ăn nhiều hơn thế - như thường lệ, nửa đọi nữa chẳng hạn. Cha hắn vốn “không quá độc ác” thậm chí có khi hiền lành, trong nhiều phần ghét cũng có chút thương hắn- hắn tự biết thế.
..........................................................................................................................
“Bí ẩn sao sao í!” – có lần, có người nói về tính cách của hắn như thế.
- Hắn nghĩ về chính mình hay nghĩ đến nhưng câu nói của người khác về hắn; nửa ngày sau ngồi cười nhếch mép, cho thứ tâm tính ấy là “một mớ hỗn loạn”. Rồi lại nghĩ - “cha ghét mình là đúng, hai đứa em mấy năm nay học được giấy khen mà”; vân vân và vân vân vân.
Chiều nay, hắn nghĩ về những điều buồn bã nhiều hơn, nghĩ về những năm này đi học phải mặc đi mặc lại một cái quần tây phai màu, và những cái áo cũ kỹ, thừa kế của hai anh trai hắn; nghĩ đến chiếc xe đạp cũ hắn mới sửa qua loa hôm trước – “ba mươi mét trật xích một lần”, mà hắn phải đạp đi đạp về suốt mười lăm cây số đến trường. Mắt hắn mờ sương, nhưng ý chí cương liệt lại chợt bùng lên khinh miệt cơn buồn bã cùng với sự tức giân của bản thân – “hèn hạ để làm gì chứ”.
- “Hêy!, đi chung với người khác còn không dám, yêu đương cái nổi gì” - Hắn cũng nghĩ đến người con gái ở xã dưới. Trên đường đi học, hắn gặp nàng suốt, lúc vô tình khi cố ý, nhưng không dám nhìn vào mặt nàng, sợ nàng nhìn thấy rồi đánh giá hắn. Hắn thích vóc dáng cao cao, có phần duyên dáng; đặc biệt là mái tóc đen mượt dài đến eo của nàng.
- “Trời! Mình chưa biết mặt” - hắn thở dài, cũng không muốn biết thêm về nàng. Hắn phải vùi lấp tình yêu, vì “ai yêu tôi làm cái gì chứ”.
Hắn nghĩ một mình, nói một mình, hay ở một mình đâu đó - thường thường như thế. Có khi có hàng xóm gặp hắn ngoài đường, hỏi “Cha mẹ mi đi mô?” – “con nọ biết”, hắn đáp như một thói quen.
Hôm nay, mồng bốn tết, khi nhiều người vẫn đi chúc tết nhau, khi thanh thiếu niên vẫn vui vẻ đi chơi chỗ này chỗ kia đâu đó, hắn ở một mình trên khu đồi sau nhà, cầm cái ô cũ gãy đâu mất phân nửa thanh trục, quan sát những người đi lại ở con đường làng phía dưới; và “ngẫm sự đời”.
Hắn nghĩ “đây là sự bình yên tôi cần”.
Khi cảnh trời đã mất hẳn đi vẻ sáng sủa của ban ngày, chiều đã dần ngả sang mờ tối, hắn mới xuống nhà. Ông Hậu đã ở cửa đợi hắn về...
Tối đó, không khí bữa ăn lặng lẽ, hắn ăn hai đọi, gắp hai miếng rau; ăn xong định lên giường nằm.
Thịt nè, mi hưng ăn ạ? - Bà An, mẹ hắn gọi với, mắt chớp chớp muốn lau đi làn sương mờ trong mắt.
Khọ(ọ)ng - hắn đáp. “Tết mà thế, mẹ buồn” - hắn vừa đi vừa nghĩ.
...........................................................................................................................
Từng ngày một, từng ngày một trôi đi chậm rờ. Tháng rồi đến năm cũng đến kỳ đến hạn, hai năm sau đó hắn học xong cấp ba. Mỗi ngày qua đi là một sắc thái, tổng kết lại là hai tình cảnh: nếu ngày nào hắn làm việc tích cực, mệt mỏi - chủ yếu ở các tháng vào mùa gieo trồng hay thu hoạch mùa màng, thì tối về hắn ăn hai đọi rưỡi, ngủ sớm; ngày nào hắn không thấy có việc nào cần thiết, ngày ấy hắn sợ về nhà, sợ đối mặt với cha hắn, ăn hai đọi không no, nằm đến nửa đêm mới ngủ được.
Vẻ mặt của Kỳ ngày càng âm trầm. "Như tàu điện ngầm” – có lần có đứa con gái trong lớp bỗng nói với hắn một câu như thế. Lúc đó hắn nghĩ “mình bị ghét à!”, sau cũng dửng dưng mặc kệ đi.
Sự đời chung quanh Kỳ như lá mùa Thu rơi rụng, rì rào, rồi để gió xào xạc cuốn đi. Sự đời trôi đi, tâm cảnh của hắn từng ngày một trầm ổn hơn, dường như sâu sắc hơn . Hắn cảm thấy có thể dễ dàng gạt bỏ đi những cảm xúc “yếu hèn, vô tích sự” mà hắn cho là “những thứ đáng ghét do người khác áp đặt”, dù cố tình hay vô cớ, khiến tư tưởng bị lay động gây ra cảm xúc “yếu đuối” - thứ hắn ghét mạnh. Tuy nhiên, những ấn tượng ảnh hưởng từ những năm tháng xa xôi hơn, hắn không thể gạt bỏ; hắn luôn buồn, khí chất trầm lặng, nhưng mơ hồ lại toát lên vẻ bình thản kỳ lạ. Cũng có lúc người ta thấy hắn hít hà với mấy bông hoa dại nào đó mà hắn bắt gặp – khí chất có phần thanh nhã. Lại có khi hắn có thể pha trò, bật cười đôi khi với những đứa trẻ trong làng - lại có vẻ tươi vui... Phải chăng đó là những phần tính cách “nhân chi sơ” của hắn đã bị vùi lấp đi từ thủa nào, thỉnh thoảng lại như sống lại!
Nếu ai đó ngày xưa nhìn lại hắn thì sẽ cảm thấy hắn bí ẩn hơn xưa gấp trăm lần.
Hết cấp ba rồi, hắn hy vọng sẽ được nhanh chóng vào miền nam làm việc kiếm tiền như những thanh niên khác trong làng. Hắn sẽ mua một chiếc quần mới, một áo sơmi trắng, một cái nịt lành lặn mới tinh
Dù rất muốn đi xa - đi đâu cũng được, Kỳ vẫn phải ở nhà một năm.
Thế rồi, vào buổi chiều một ngày của tháng mùa đông năm 2002, Ngôi nhà nhỏ hai căn khép nép bên sườn đồi, sân vườn ướt át, trời vẫn còn hơi mờ tối sau cơn mưa lâm râm từ tối qua đến trưa nay, ông Hậu đang ra sức phá vỡ không khí u tĩnh của gia đình bằng những cái bạt tai liên tiếp vào má của đứa con “vô tích sự”. Bà An mới đi đâu về, lặng lẽ rửa sạch bùn đất bám dính ở chân, rồi vào nhà bếp lặng lẽ đun củi, chẳng nói năng gì.
- Bựa ni, mi hưng chộ má đang bị ngập ở đồng Váng à? – mi mần chi mà khô(ô)ng đi tát nác – ông Hậu vừa tát Kỳ, giân dữ quát.
- Cha hưng (không) nói, mần năng con biết - Kỳ hời hợt biện minh. Nhưng liền sau, hắn bỗng như mặc kệ bất cần, im lặng, không nói gì thêm nữa, trấn tĩnh bất thường.
Sau trận đòn nhìn đau lòng mà chẳng hề cảm thấy đau gì ấy, Kỳ lên khu đồi phía sau nhà, chỗ hắn hay “trú ẩn”, ngồi nín thinh. Hắn ngồi đó, trấn tĩnh kỳ lạ. Ban đầu gương mặt hắn có chút nhăn lại nhưng sau đó liền biến mất. Hồi lâu cũng không thấy hắn nhúc nhích.
.............................................................................
Hai ngày sau, ngôi nhà nhỏ hai căn nghèo nàn cũng trở nên ồn ã hẳn lên, tươi sáng hẳn lên; tiếng trống đì đùng đánh chậm rãi vang vọng.
Gia chủ gương mặt khắc khổ, nghiêm nghị, đón nhận những cái bắt tay chia buồn của hàng xóm láng giềng.
Bà An, ngồi bên cạnh chiếc quan tài sơn đỏ, nức nở, và chốc chốc lấy tay lau vội làn nước mắt giàn giụa. Phía trước, đặt trên quan tài, bức chân dung được lồng trong khung ảnh cũ kỹ làm tăng thêm nét khắc khổ hiền lành trong đôi mắt có vẻ sâu sắc của Kỳ; chân dung hắn mờ ảo sau làn khói hương.
Ngoài sân có tiếng bàn tán nhỏ nhẹ “trẻ thế mà lại đột quỵ, tội!” – “Hềy, Cái cun thanh niên giừ áp lực hơn trước thì phải”...
Ngọn đồi sau nhà được trời chiều ửng nắng sau nhiều ngày mưa nhuốm cho màu vàng vọt; gió ấm áp thổi bay một bông hoa léc, vụn hoa phân tán theo gió gượng bay về phương Nam – chút thơ mộng nhỏ bé không bóng ai đứng nhìn.