Chín kiếp thành tiên.
Tác giả: Cá Ươn
Giải trí;Gia đình
Kiếp đầu tiên, tôi là một con mèo rừng sống qua ngày theo bản năng của một loài thú săn mồi. Tôi chết vì tuổi đã quá già, không thể chạy nhảy linh hoạt như bọn trẻ khác, rồi trở thành thức ăn cho loài hổ.
Kiếp thứ hai, tôi vẫn là mèo. Nhưng sống được vài tháng ngắn ngủi thì bị mũi tên bắn trúng mà chết. Từ đó, tôi biết đến sự tồn tại của con người.
Cũng trong kiếp thứ hai này, sau khi chết tôi gặp được một ông lão râu tóc bạc phơ, người mặc quần áo cùng màu đất, miệng cười tủm tỉm trông rất dễ gần. Ông ấy muốn xoa đầu tôi, tôi né bàn tay của ông, xù lông lên khè theo bản năng.
Ông ấy hơi bất ngờ, lắc đầu cười, mặt mũi ông tuy nhăn nheo nhưng khi cười lên thì rất hiền từ.
Ông gọi mình là thần núi, ông nói tôi có linh trí, nếu biết tu luyện thì có thể trường thọ sống dài lâu. Nói xong, ông nhìn tôi đầy vẻ tiếc nuối rồi thở dài.
Ông hỏi tôi muốn thành tiên không. Tôi nghiêng đầu, thành tiên tốt không? Có đồ ăn mỗi ngày mà không phải đi săn không?
Ông ấy bảo có. Tôi không hứng thú.
Ông ấy còn bảo, nếu tôi có thể sống đến kiếp thứ chín mà vẫn làm mèo, có thể thành tiên.
Tôi không tin. Tiên là gì. Tôi không biết, cũng không quan tâm.
Kiếp thứ ba, tôi đến với thế giới con người, nhưng vẫn trong hình hài một con mèo. Tôi biết được, tôi đang sống trong thời chiến tranh loạn lạc của con người.
Tôi đi trên mái nhà của một nhà dân, ngôi nhà thì lụp xụp, trông như một ngôi nhà hoang. Những ngôi nhà xung quanh cũng không khác biệt là bao.
Đến tối, tôi mò trong góc vườn thấy một con chuột, nó gầy nhom. Tôi cũng gầy y chang nó, tôi nghĩ, thà gặm xương còn hơn là không có gì. Con chuột chết trong hàm răng sắc nhọn của tôi.
Nhiều ngày trôi qua, tôi chỉ bắt được mấy con thằn lằn với thạch thùng chống đói qua ngày. Tôi ăn nhiều tới mức nôn mửa.
Tôi chết. Vì đói.
Sau khi tôi chết, tôi thấy trên trời là mặt trăng sáng chói, có một đám người bay qua mặt trăng, giống như đàn chim mà tôi thèm thuồng mỗi sáng. Tôi nghĩ, có lẽ đó là tiên mà ông thần núi nói.
Tôi muốn thành tiên.
Kiếp thứ tư, tôi vẫn là mèo. Nhưng kiếp này, tôi biết chưng diện hơn, tôi tự hào có bộ lông vằn vằn cam cam như hổ. Nhưng mấy con mèo mướp khác lại đánh tôi vêu mồm. Tôi không đánh lại bọn chúng, đành lủi thủi đi về một góc nhỏ trong hẻm.
Thật ra tôi rất thích con hẻm này, luồn lách qua vài nhà là có đồ ăn để ăn. Có thể là miếng thịt vụn, có thể là vài cọng rau...cái gì tôi cũng ăn, không kén chọn. Tôi không thích cảm giác đói meo của kiếp trước, càng không thích chết vì đói. Nói hẳn ra, tôi ghét đói.
Người cho tôi ăn là một ông chủ của một quán cơm nhỏ, có rất nhiều người đến đây ăn. Tôi thường được ông cho ăn vài miếng thịt cá, còn lại là rau.
Ông ấy nói, nhờ cho mày ăn mà tao kếm được rất nhiều khách đấy. Ôi thế à, tôi may mắn như vậy sao.
Buổi tối vắng tanh, tôi bị bọn trộm bắt mất.
Tỉnh dậy trong chiếc lồng sắt, tôi sợ hãi, cố vùng vẫy thoát ra. Bên tai vang lên tiếng của một con mèo khác. Yên lặng đi, mày có lẽ sắp chết rồi.
Tôi khè nó, lông khắp người dựng đến thẳng đứng. Tôi không tin, tôi không muốn chết một cách vô nghĩa như vậy, tôi không muốn ông chủ quán cơm không tìm thấy tôi, không còn được cho tôi ăn nữa.
Tôi lại chết. Tôi bị một vật được gọi là dao đâm một đường vào cổ, tôi không có cách nào vùng vẫy được. Nó bất lực lắm...
Cho dù bây giờ hết thời chiến tranh rồi, tôi vẫn phải chết, một cách đau đớn.
Kiếp thứ năm, tôi vẫn là mèo. Sau khi có trải nghiệm ở kiếp thứ tư, tôi thường tìm những quán ăn có mùi thơm nức mũi đông người qua lại.
Bà chủ một quán ăn cho tôi miếng thịt, tôi để bà vuốt ve.
Lâu dần, bà gọi tôi là cháu cưng, đặt tên cho tôi là Mận. Tôi là một con mèo mướp, giới tính của tôi qua từng kiếp đều thay đổi, lần này là đực rựa.
Tôi quấn bà, bà cưng chiều xoa đầu tôi, nói với một người bên cạnh rằng con cháu bà đẻ ra còn chẳng bằng con mèo bà nhặt ven đường.
Tôi sống được với bà được hai năm. Bà mất. Đột ngột tới nỗi tôi vẫn tưởng bà ở bên cạnh tôi.
Con cháu bà đưa tôi tới một ngôi nhà mới, vẫn là lồng sắt thân quen, tôi lại được đưa tới lò mổ.
Tôi lại chết. Kệ đi, kiếp sau tôi lại tìm bà.
Kiếp thứ sáu, tôi vẫn làm mèo. Từ khi tôi có nhận thức, tôi luôn đi qua các quán ăn lớn bé có đủ, chỉ với một mong muốn tìm bà, tìm mùi hương quen thuộc, tìm lại sự yêu thương nuông chiều của một người.
Tôi tìm mãi, không thấy.
Tôi lang thang đến trước một ngôi chùa, ngôi chùa này rất yên bình, hương hoả ở đây nhận được rất nhiều, cũng có rất nhiều người qua lại.
Tôi ngửi thấy một mùi hương quen thuộc.
Tôi chạy như bay theo mùi gương ấy. Kết quả, không tìm thấy bà, mà là một cậu bé đầu trọc ngây ngô ăn vụng miếng chả chay mà thôi. Tôi buồn thiu, cả người suy sụp xuống.
Cậu bé thấy tôi đứng không vững liền xé miếng chả chay trên tay nhét vào miệng tôi. Tôi ăn một cách ngấu nghiến. Vẫn là mùi hương quen thuộc ấy, nhưng hương vị không còn ngon nữa.
Tôi muốn khóc, nhưng không thể khóc. Tôi không giống như con người,con người có thể khóc, tôi thì không.
Cậu bé thấy tôi gầy nhom, liền ôm tôi khoe với mấy người đầu trọc khác. Tôi cảm thấy họ thương xót tôi, họ lén lút cho tôi ăn.
Tôi không kén ăn, cho dù là cơm thừa canh cặn, tôi đều ăn.
Cậu bé đầu trọc tắm rửa cho tôi. Tôi là con mèo có màu lông đen xì, không còn là mèo mướp mà bà yêu. Tôi có chút buồn.
Tôi không ngại tắm, kiếp trước bà thường tắm cho tôi, lau người cho tôi sạch sẽ. Bà chăm cho tôi béo tròn như một con lợn con.
Cậu bé thấy tôi tắm rất ngoan, xoa đầu tôi, cười hì hì nói, mày ngoan thật đấy.
Tắm rửa sạch sẽ, lông tôi bóng mượt, ai cũng muốn sờ rồi ôm ấp tôi. Tôi thích lắm. Nhưng tôi muốn tìm bà.
Có một lần nọ, cậu bé đầu trọc cùng mấy người đầu trọc khác đang ngồi chắp tay. Tôi đứng ngoài cửa nghe sự trụ trì đọc kinh. Tôi nghe một lần, liền thích nghe lần hai. Mỗi lần nghe, tôi như được khai sáng tâm trí.
Nghe mãi ngoài cửa, tôi mới ngộ ra, đời người gặp được nhau là duyên, cho dù gặp một lần cũng là duyên, ta nên trân trọng. Có lẽ tôi với bà kiếp trước cũng có duyên, kiếp này có lẽ không có nữa.
Tôi đã ở cùng bà, trân trọng những giây phút cuối đời của bà.
Tôi gặp được ông chủ quán, ông ấy với tôi cũng có duyên, nhưng có lẽ kiếp này tôi cũng không có duyên gặp nữa.
Một ngày nọ, tôi không ở ngoài cửa nữa mà dứt khoát đi vào trong trước con mắt kinh ngạc của mấy người đầu trọc và trụ trì.
Trụ trì thấy tôi ngồi cạnh cậu bé đầu trọc, cúi đầu thành tâm nhìn bức tượng Phật. Có lẽ ông ấy hiểu hành động của tôi, tiếp tục gõ mõ.
Lâu dần, tôi trở thành mèo nhỏ nhất trong chùa. Kiếp này tôi là một con mèo cái. Ai cũng gọi tôi là sư muội.
Trụ trì đặt pháp danh cho tôi là Nhất Niệm, tôi không hiểu nó là gì, nhưng tôi luôn tin rằng nó sẽ cho tôi một ngôi nhà mới, sự giác ngộ mà tôi nghe sau mỗi lần nghe kinh.
Tôi đã ở đây rất lâu, rất lâu. Ở ngôi chùa này lâu tới nỗi cậu bé đầu trọc ngây ngô năm nào đã trưởng thành. Cậu ấy trở thành một nhà sư một lòng hướng Phật. Trụ trì đã già đến da bọc sương, nhưng trong đôi mắt của ông, tôi biết ông đã giác ngộ về những thứ vượt tầm hiểu biết của con người.
Còn tôi thì đã già, mấy đứa nhóc con loi nhoi hay gọi tôi là “đạo trưởng meo meo”.
Tôi chỉ là con mèo, mèo chỉ là cái xác bên ngoài, bên trong tôi giống như con người có cảm xúc, giác ngộ được những điều mới.
Tôi lẽo đẽo đi sau trụ trì, tôi bước từng bước nặng nề. Tôi đã quá già rồi.
Mấy ngày sau, tôi chết.
Tôi dùng một đời mèo, một kiếp mèo để nghe kinh. Tôi không hiểu nhiều so với con người, nhưng nó đủ để kiếp sau tu hành thoát khỏi cõi phảm trần.
Không ai khóc thương cho tôi, họ niệm kinh cho tôi để tôi được siêu thoát, tới cõi tiên phật.
Đáng tiếc, tôi không đến đó sớm được, tôi còn ba kiếp nữa mới đến được.
Kiếp thứ bảy, tôi vẫn làm mèo. Tôi đi đến một ngôi chùa. Ngày ngày nghe đọc kinh niệm chú, tôi tập trung tu hành.
Kiếp thứ bảy của tôi rất nhàn, giống như kiếp trước, tôi ngồi tròn vo một góc nghe trụ trì niệm kinh, ai cũng nhìn tôi ngưỡng mộ rồi cười tủm tỉm.
Tôi được đặt cho một cái tên rất dễ thương, “ Bông Xám”, vì người tôi xám xám như tro, lông rất mềm như cục bông.
Kiếp này tôi không có pháp danh, nhưng đổi lại, tôi có chuyên tâm tu hành.
Hết kiếp thứ bảy trong yên bình.
Tôi không có gì hối tiếc cả, tu hành không phải là rũ bỏ quá khứ, cảm xúc mà là chấp nhận quá khứ và để những cảm xúc ấy trôi ra ngoài, bay theo nhang khói hướng về hồng trần nhân gian.
Kiếp thứ tám, tôi làm mèo.
Lần này tôi được sinh ra trong gia đình có điều kiện.
Tôi vẫn giữ thói quen của kiếp trước, ăn đồ chay, không ăn mặn. Tôi gần như vô dục vô cầu, tôi không đòi hỏi, cho gì thì nhận nấy, trân trọng từng khoảng khắc trong từng kiếp.
Tôi không quên mất mình là một con mèo, vì tôi biết nó là vỏ bọc cho chín kiếp. Còn tâm mình là con gì thì mình tự biết, tự hiểu.
Kiếp thứ tám này tôi được trải qua rất nhiều điều mới lạ.
Thì ra có điều kiện sẽ có mức sống khác, tôi ăn ở giản dị quen rồi, tôi thấy mình cần trải nghiệm những điều phát triển của xã hội.
Tôi nghĩ thế.
Ngoài cái thói ăn chay ra, cô chủ thấy tôi rất ngoan, bảo tôi chăm sóc cho ba đứa nhóc còn lại. Hai đứa là mèo, một đứa là con của cô. Tôi bất đắc dĩ phải trở thành bảo mẫu.
Có điều, thế cũng vui. Trẻ con yêu thương động vật lớn lên sẽ là người giàu tình cảm.
Tôi chứng kiến cậu chủ nhỏ của mình trưởng thành, tôi cũng đã sống được rất lâu rồi.
Giờ đây cũng như bao kiếp trước, tôi già yếu rồi qua đời.
Tôi kết thúc kiếp thứ tám nhanh chóng.
Lần này, có người khóc thương cho tôi, là cậu chủ nhỏ và cô chủ nhỏ. Bọn họ khóc trông rất thương. Cô chủ lớn thì đang nín khóc, chồng cô ấy thì khóc như một đứa trẻ.
Tôi nhớ lại những kiếp trước, tôi nhớ trụ trì, cậu bé đầu trọc, rất nhớ bà, nhớ ông chủ quán...
Thấy may mắn khi tôi được sinh ra trong gia đình này. Không phải sống trong chiến tranh, không phải sợ hãi trong lò mổ, cũng không cần sợ phải chết đến thế...
Có lẽ chín kiếp của tôi là duyên, duyên phận đưa tôi đến những cảm xúc khác nhau. Trưởng thành trong cõi phàm trần.
Tất cả như những sợi chỉ quất chặt vào nhau không rời...
Kiếp thứ chín, cũng là kiếp cuối cùng. Tôi không còn làm mèo nữa mà thành tiên. Tôi gặp lại ông thần núi râu tóc bạc phơ, ông giang tay đón tôi. Tôi nghĩ xong rồi, có lẽ duyên phận của tôi với thế gian đã hết, tôi sẽ tiếp tục với hành trình tu hành mới...
.
.
.
...Hết...