Chương 3: Đối sách phục thù của nhà Tống
"Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu"(1), "thị dịch"(2), khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn(3) truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi."
"Thiên lý ở đâu, đạo trời ở đâu, ai có thể nói cho trẫm biết...?" Vua Tống gầm lên như sói tru, tiếng hét truyền khắp Kim Loan điện, quần thần đứng hai bên cúi đầu, không dám ho he một câu.
Tể tướng đương chiều là Vương An Thạch(4) thấy vua nổi cơn giận không nguôi, bèn nhặt bố văn ở dưới đất lên, suy nghĩ một lúc rồi tâu với vua rằng:
"Bệ hạ, dân gian có câu gậy ông đập lưng ông, nếu An Nam đã dùng hịch văn để giảm nhuệ khí của quân ta, vậy sao Đại Tống ta không lấy đó mà làm bàn đạp, tống tiến công vào Đại Viêt. Chỉ cần An Nam bị hạ, hai nước Tây Hạ và Liêu ắt sẽ bị khí thắng của quân dân ta kinh sợ, lúc đó còn ai dám quấy nhiễu đại Tống ta."
Vua Tống nghe vậy, ánh mắt liền sáng lên, lập tức để các quần thần trực tiếp trao đổi kế sách xâm lược Đại Việt, bằng mọi giá tất phải thắng.
Nếu không mặt mũi của nhà Tông sẽ thật sự bôm bốp liên tiếp vang lên, thất bại ở Ung Châu chính là nỗi ô nhục ê chề, đau rát mà nhà Tống nhận phải, vì vậy lần này vua Tống quyết tâm điều động 10 vạn quân chiến đâu, 20 vạn dân phu, 1 vạn chiến mã, gồm kỵ binh, thủy binh, máy bắn phá và hảo tiễn...chuẩn bị xuôi Nam.
Đồng thời phong Quách Quỳ(5) và Triệu Tiết(6) lần lượt là An Nam đạo chiêu thảo sứ và phó thảo sứ, cầm theo Thượng Phương bảo kiếm, toàn quyền chỉ huy ba quân, chia hai đường đánh thẳng vào An Nam.
Lại giao Vương An Thạch soạn thư chiêu hàng "Thảo Giao Chỉ Chiếu"(7), với lời lẽ thể hiện sự hống hách của nước lớn, ra vẻ bề trên vừa xoa dịu dụ dỗ, vừa đe dọa vũ lực đối với quân dân Việt:
"Xét lại nước An Nam đời đời hưởng vương tước, các triều trước đối đãi khoan hậu, khi nào cũng bao dung tha thứ, mãi đến ngày nay. Nay lại xâm phạm thành ấp, sát hại quân dân, đã phạm pháp kỷ thì không thể tha thứ được.
...
Càn Đức đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lai triều cũng sẽ được tiếp đãi trọng hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe nhân dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng một nước chư hầu của ta luôn được yên vui.”
Đầu xuân năm 1076, Quách Quỳ mặc chiến giáp dẫn theo toàn quân, chính thức tổng xâm lược Đại Việt lần 2.
Thắng! Đại Việt sẽ bị xóa sổ như bao quốc gia bất hạnh khác.
Thua! Vậy thì Đại Tống sẽ phải công nhận An Nam là một nước độc lập.
________________________________________
(1) thanh miêu: khi lúa còn xanh thì nhà nước cho dân vay tiền, đến khi lúa chín thì dân lại phải trả tiền lại, tính theo lệ nhà nước đã định mà trả tiền lãi.
(2) thị dịch: đặt ra một sở buôn bán ở chốn kinh sư, để có những hàng hóa gì dân sự bán không được thì nhà nước mua thu cả lấy mà bán. Những nhà buôn ai cần phải vay tiền thì cho vay, rồi cứ tính theo lệ nhà nước mà trả tiền lãi.
(3) hịch văn: là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh viết ra một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài.Hịch có kết cấu chặt chẽ, có lý lẽ sắc bén, có dẫn chứng thuyết phục. Đặc điểm nổi bật của hịch là khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe.
(4) Vương An Thạch: tể tướng dưới đời Bắc Tống, là người đã đặt ra 3 phép về việc tài chính(thanh miêu, miễn dịch, thị dịch)và 2 phép về việc quân binh.
(5) Quách Quỳ: tự Trọng Thông, danh tướng của Bắc Tống, là người dẫn quân đánh nước ta ở trận Như Nguyệt Giang.
(6) Triệu Tiết: tự là Công Tài, từng làm Chiêu Thảo phó sứ xâm lược đại việt, ông là người luôn phản đối chiến tranh.
(7) thảo giao chiếu chỉ:...
Chương 4: Bài toán Như Nguyệt Giang
1
Sau khi ta tạ thế chưa đầy hai mươi ngày thì nhà Tống đã sai sứ thần gửi ân chiếu về, vua Lý Nhân Tông tuy còn nhỏ nhưng vẫn có dáng vẻ của bậc đế vương, nghe sứ thần đọc xong ân chiếu liền tức giận vỗ bàn: "Lý nào lại như vậy?"
"Bệ hạ!" Thấy tiểu đế vương giận dữ đứng lên, Ngô Tuấn ở bên bèn tâu rằng:
"Sứ thần đi đường mệt nhọc, chúng ta là chủ nhà lẽ nhiên nên dùng lễ để tiếp đãi." Nhân Tông nghe vậy gật đầu hiểu ý, ra lệnh cho người đón tiếp sứ thần, còn mình và các quan thần thì ở lại bàn bạc đối sách.
Sứ thần vừa rời đi, Nhân Tông liền gấp gáp hỏi:
"Chư vị ái khanh cảm thấy chuyện này nên xử lý thế nào?"
"Bệ hạ, trận đánh này tất không tránh khỏi, Bắc Tống luôn dòm ngó giang sơn Đại Lý ta, huống chi ân chiếu này toàn lời lẽ cay nghiệt, làm theo chỉ sợ dân chúng lầm than, thần nguyện ý xuất chinh cùng giặc đối chiến."
"Bẩm bệ hạ, lời của Thái úy quả không sai, không đánh lần này còn đợi đến khi nào.."
"Quyết đánh giặc Tống, dẹp yên bờ cõi, hưởng tháng ngày cơ bình!"
Quần thần đồng lòng một chí, Nhân Tông vui vẻ khôn xiết.
"Được, Đại Việt ta quyết dẹp yên bờ cõi, đánh tan quân xâm lược."
...
2
Sau khi hồi phủ, Ngô Tuấn liền tìm gặp vợ con của ta.
"Sắp tới chiến sự vô cùng căng thẳng, nước nhà nguy nan sớm tối, ta cho phép mọi người rời quê hương tạm tránh mũi nhọn. Sau này..."
Chỉ là Ngô Tuấn còn chưa nói hết câu, con gái lớn của ta khoác theo chiến giáp, hiên ngang bước ra.
"Nước nhà nguy nan, là con dân Đại Việt, há có thể sợ sệt trước quân thù, tiểu nữ nguyện ý cùng tướng quân chinh chiến xa trường."
Ngô Tuấn bị lời này cảm động, sống mũi cay cay nhìn vợ ta một tay ôm bé gái trong lòng, tay còn lại thì dắt theo hai đứa nhỏ như búp bê, không nhịn được mà thương xót trong lòng.
Thời buổi chiến tranh loạn lạc, dân chúng dễ rơi vào cảnh cơ cực.
Ngô Tuấn thở dài, nhìn cô gái với tuổi đời còn rất trẻ quỳ dưới nền đá, gương mặt cô xinh xắn động lòng so với phu nhân Tạ thị của hắn, xứng đáng là kỳ phùng địch thủ.
Thuần Khanh là nữ tử nhà quan nên phú quý tự sinh, làm người lại thanh tao hiểu lễ nghĩa.
Còn cô gái trước mắt, cũng là con nhà quan văn nhưng lông mày lại toát lên vẻ anh khí bừng bừng, hào hiệp, cả người có một loại tinh thần thấy chết không sờn, so với đấng mày râu chả kém là bao.
"Ngươi tên là gì?"
"Bẩm Thái úy, tiểu nữ tự Vương Thanh"
"Thanh thủy xuất phù dung, hùng nhan tựa vương hoa, hahaha."
Ngô Tuấn cười sang sảng, liền ban cho con gái ta một cây Lâm Ngân Bá Vương thương, phong làm phó tướng một tốp quân nhỏ, chỉ tiếc đã bị nàng từ chối.
Thời buổi này, vẫn chưa có quan chế nào quy định về nữ quan và nữ tướng.
Vì vậy con ta chỉ có thể làm Sĩ nữ(cung nữ cao cấp) theo bên Ngô Tuấn, cùng đến Như Nguyệt Giang dựng phòng tuyến chống giặc.
...
3
Ngày 18/01/1076, Quách Quỳ dẫn theo toàn quân đổ bộ vào phía bắc Sông Như Nguyệt.
Thì phát hiện nhà Lý đã cho dựng phòng tuyến ở bờ nam nên đã hạ trại chờ thủy quân đến.
Ai ngờ, Miêu Lý thấy phòng tuyến bên ta lỏng lẻo nên đã hiến kế bắt cầu phao, tự mình dẫn theo 2.000 quân tinh nhuệ lao thẳng vào bờ nam, thành công vượt qua rào chắn thì bất ngờ bị quân ta tập kích.
Lúc này con gái ta là Lý Thị Vương Thanh cưỡi chiến mã, cầm bá thương dẫn đầu lao về phía quân địch, trận chiến lần thứ nhất nổ ra, Miêu Lý bị đưa ra chém đầu, quân nhà Tống thảm bại hơn nửa, khiến cho Quách Quỳ tức điên chửi ầm lên, "đúng là đồ ngu, hễ quân ta còn loại ngu dốt như thằng Miêu này thì mãi không thể đặt chân lên nhà Lý."
Lần đầu xuất chinh liền tổn hơn ngàn quân, Quách Quỳ đau như chó liếm đành yên lặng chờ thủy quân hội họp.
Nhưng người tính không bằng trời tính, chỉ có thể nói cứt người đen như cứt chó.
Gã còn chưa đợi được việt binh tới thì lại nhận được tin thủy quân bị bên ta chặn đánh, không thể chi viện.
"Cái gì?"
Gã dường như phát điên, mặc kệ là ai đến liền quát tháo đòi chém,đòi giết khiến ba quân không dám ho he một câu.
...
Bầu trời Như Nguyệt Giang bấy giờ u ám mây đen mấy ngày liền, gió bắc ùa về lạnh như dao cắt, tưởng chừng sẽ có mưa bão ập đến mà không báo trước.
Quách quỳ đứng bên bờ sông cảm nhận cuồng phong rét thấu, cái mặt xám xịt như gạch bê tông, râu mép cong lên đầy dữ tợn.
Hai lần xuất kích đều không công mà về, gã dường như vắt kiệt não bộ, toàn tâm thủ thắng nhưng kết quả thì sao?
Đả kích một lần so một lần càng khó mà tiếp nhận, ba mươi sáu kế Tôn Tử đâu mới là diệu kế.
Bài toán Như Nguyệt Giang thật khó giải!
Ps: mình k dành app, mn nhớ ghé qua mục tiểu thuyết để đọc nha. Phần cuối mình sẽ để ớ đó.