.hfgjkk
Tác giả: Truyện nhà Cam 🍊
I.HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN MÙA XUÂN
1.Cáo tật thị chúng (Mãn Giác Thiền Sư)
Về thời nhà Lí (1009 - 1225), Thăng Long trở thành kinh đô nước Đại Việt. Sau chiến thắng sông Cầu - Như Nguyệt (1076), nền độc lập của Tổ quốc ta được củng cố, ý thức dân tộc phát triển mạnh mẽ. Việc học hành được mở mang, Kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển khá phồn thịnh. Đạo Phật trở thành quốc giáo. Việc xây chùa, đúc chuông, tạc tượng, in kinh Phật diễn ra sôi nổi khắp nơi. Nhiều vị Thiền sư được triều đình trọng vọng. Họ là những con người lỗi lạc, đức trọng, tài cao, giỏi thơ văn, tên tuổi sáng ngời sử sách.Trong số đó, Mãn Giác Thiền sư (1052 - 1096) là một vị cao tăng mang tâm hồn thi sĩ tuyệt đẹp. Bài “Có bệnh bảo mọi người” (Cáo tật thị chúng) được vị Thiền sư đọc cho các đệ tử nghe khi ông lâm bệnh trọng, trước lúc qua đời. Vốn là một bài kệ (kinh kệ) hàm chứa triết lí đạo Phật cao sâu, nhưng lại tươi mát, gợi cảm, đầy thi vị. Nguyên tác bằng chữ Hán.
1.1,Cấu trúc bài thơ
Mãn Giác Thiền sư đã nói lên quy luật của sự sống và thiên nhiên, biểu lộ tâm thế của nhà sư trước quy luật sinh, tử ở cõi nhân gian, cái tịch diệt và cái vĩnh hằng trong vũ trụ.Có bệnh bảo mọi người” gồm 6 câu, cứ 2 câu kết thành một liên đăng đối, hài hoà để lại nhiều ấn tượng thú vị. Hai câu đầu nói lên sự tuần hoàn của 4 mùa, tiêu biểu là sự chuyển vần của mùa xuân. Mỗi độ xuân về, trăm hoa nở (bách hoa khai) đua sắc khoe hương.
1.2, Cảm nhận sự chuyển tiếp ở mùa xuân
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Dịch:
Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười
Hình ảnh “trăm hoa cười’’ tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, cho vẻ đẹp của cây cổ thiên nhiên và mùa xuân. Nhựa sống mùa xuân, hương sắc mùa xuân... còn gì đẹp hơn? Và khi mùa xuân đi qua, ngày tháng sẽ trôi nhanh theo mùa hạ, chuyển sang mùa thu rồi đến mùa đông, chẳng bao lâu lại trở về mùa xuân... cỏ cây, hoa lá, tạo vật cũng biến đổi, sinh trưởng hay phai tàn theo 4 mùa, năm tháng. Khi mùa xuân trôi qua, “trăm hoa rụng” (bách hoa lạc) theo quy luật của tự nhiên. Hai câu thơ mang màu sắc triết lí, khái quát quy luật tồn tại của thiên nhiên và sự vận động của thời gian. Mùa xuân cũng như sự sống thiên nhiên chuyển biến bất tận: “xuân qua” rồi “xuân tới”, “hoa nở” rồi “hoa tàn”... Mùa xuân là vĩnh hằng. Cỏ cây, trăm hoa cũng như vạn vật, con người đều bị chi phối theo quy luật khắc nghiệt của tự nhiên.Bước đi của mùa xuân “qua... tới”, cũng như trăm hoa “rụng... nở”, một lối nói đầy cảm xúc, làm cho câu kệ vốn khô khan đã trở thành câu thơ đẹp và hay. Qua đó, ta thấy tâm hồn vị Thiền sư quả là đẹp!
1.3,Cảm nhận sự thay đổi không ngừng qua từng mùa xuân
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Dịch:
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi.
Hai câu tiếp theo, Mãn Giác nói về chuyện người, chuyện đời. Trong cõi nhân sinh, vạn vật biến diễn không ngừng, vận động theo năm tháng “Trước mắt việc đi mãi... Cũng như con người, có sinh tất có tử, lúc khoẻ mạnh ắt có lúc ốm đau, bệnh tật, có tuổi hoa niên trẻ tráng tất cái già sẽ đến. Quy luật cuộc sống là như thế, vốn thế! Vị cao tăng đang nằm trên giường bệnh, đọc bài kệ này cho các đệ tử nghe. Ông muốn nhắc nhở họ với tất cả sự thanh thản: Ông đã về già, đang “có bệnh”, nhất định sẽ “tịch” (chết). Đó là lẽ thường tình, có gì đáng sợ, đáng lo. Ý tưởng và triết lí của câu kệ cao siêu vô cùng. Hãy biết yêu cuộc đời với sự thanh thản - hãy làm chủ cuộc sống
1.4,Hình ảnh mùa xuân tràn đầy sức sống
Bài kệ được khép lại bằng hai câu tuyệt cú, xưa nay được truyền tụng như một vần thơ đẹp trong bài cổ thi:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Dịch:
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước, một cành mai.
Hai tiếng “mạc vị” (chớ tưởng) như một lời nhắc khẽ, thấm thìa. Câu thơ cấu trúc liên hoàn, tương phản: “hoa rụng hết” và “một cành mai” nở ra. Hình ảnh “nhất chi mai” (một cành mai) là một thi liệu ta thường bắt gặp trong thơ cổ. “Đối ngạn: nhất chi mai”, (Bên suối: một nhành mai) - Hồ Chí Minh... nhành mai tượng trưng cho vẻ đẹp tinh khiết, thanh cao, lộng lẫy của thiên nhiên và con người. Trong bài thơ này, cành mai nở hoa buổi xuân tàn là một hoán dụ nghệ thuật, nhà thơ lấy nó để nói về mình, chỉ về mình, biểu lộ một quan niệm nhân sinh của vị chân tu: vạn vật sinh ra, tồn tại rồi mất đi, có sinh, trưởng, lão, bệnh, tử... nhưng nhà tu hành chân chính, đắc đạo có thể vượt ra khỏi vòng sinh tử, ngoài quy luật tự nhiên như cành mai nở hoa buổi xuân tàn, khi trăm hoa đã rụng hết! Vậy thì ta (Thiền sư Mãn Giác) đang “có bệnh” là chuyện thường tình, theo quy luật của tự nhiên có gì đáng băn khoăn? “Thác là thể phách, còn là tinh anh” (Truyện Kiều). Ngoài triết lí sâu xa của đạo Phật, được cụ thể hoá và hình tượng hoá qua hình ảnh “nhất chi mai”, câu thơ còn ẩn chứa một ý nghĩa đẹp: nhà sư rất lạc quan yêu đời. Với ông, thì thiên nhiên hữu sắc hữu hương, tràn đầy sức sống, tươi mát trẻ trung, cuộc sống không ngừng vươn lên mạnh mẽ theo dòng chảy thời gian.
Bài "Cáo tật thị chúng" thể hiện một cốt cách, một quan niệm sống đẹp của vị Thiền sư đức trọng tài cao. Tư tưởng Phật giáo hoà quyện với chất thơ, tầm cao sâu triết lí đạo Phật được trang phục bằng lời thơ đẹp, giàu hình tượng và cảm xúc.
Bài kệ đã trở thành bài cổ thi, đã đi suốt hành trình một thiên niên kỉ. Đọc bài Cáo tật thị chúng, ta trân trọng tinh thần yêu đời, yêu sự sống của vị Thiền sư, chúng ta yêu thêm vẻ đẹp trắng muốt của cành mai nở hoa buổi xuân tàn. Dư vị của bài thơ như một lời nhắc khẽ: hãy làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời và biết làm chủ bản thân mình, để yêu đời, yêu sống, để lao động và học tập say mê.
2,Mùa xuân toàn bích (Nguyễn Trãi)
Đại thi hào Nguyễn Trãi (1380 - 1442), anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử cũng để lại cho hậu thế những thi phẩm mùa Xuân toàn bích. Đó là khung cảnh yên bình ở một bến đò vào tiết mùa Xuân với những thảm cỏ xanh non như màu khói, những hạt mưa Xuân bắt đầu nặng hạt khiến nước sông dềnh lên những đợt sóng tưởng như nước vỗ trời, đường đồng vốn vắng qua nhiều ngày mưa càng thêm vắng nên con đò cũng được thảnh thơi.
1.1
Bài thơ bằng những nét vẽ nhẹ nhàng cảnh Xuân ở một bến đò mà người đọc còn cảm nhận tâm hồn thư thái, thảnh thơi không vướng bận thế sự:
Trại đầu Xuân độ
Ðộ đầu Xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô chu trấn nhật các sa miên.
Dịch thơ:
Bến đò Xuân đầu trại
Cỏ xanh như khói bến Xuân tươi,
Lại có mưa Xuân nước vỗ trời.
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách,
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi.
(Khương Hữu Dụng dịch)
Đó là những năm Nguyễn Trãi về Côn Sơn ở ẩn, không bận chuyện triều chính, thế sự nên được khi thảnh thơi, nhàn nhã không ai làm phiền. Những ngày như thế trong cuộc đời Nguyễn Trãi không nhiều, nhà thơ để tâm hồn hòa nhịp với thiên nhiên, chỉ cần nghe tiếng cuốc kêu mà biết ngày Xuân đã muộn, thêm nữa mưa bụi và hoa xoan rơi đầy sân. Trong những hoàn cảnh bất đắc dĩ phải khép phòng văn bó mình trong không gian chật hẹp nhưng tâm hồn thi nhân vẫn mở rộng để cảm nhận đất trời độ cuối Xuân. Thi nhân kết thúc bài thơ bằng hình ảnh hoa xoan dân dã, bình dị vượt khỏi những công thức ước lệ, những thi liệu trang nhã về mùa Xuân. Ngày Xuân đã vãn, tuổi Xuân đã qua hơn nữa đã lớn tuổi nhưng Nguyễn Trãi vẫn giữ trọn niềm tin vào cuộc đời:
Mộ Xuân tức sự
Nhàn trung tận nhật bế thư trai,
Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Ðỗ Vũ thanh trung Xuân hướng lão,
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai.
Dịch thơ:
Cuối Xuân tức sự
Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn
Khách tục không ai bén mảng gần
Trong tiếng cuốc kêu Xuân đã muộn
Ðầy sân mưa bụi nở hoa xoan.
Mùa Xuân trong thơ chữ Hán của Ức Trai vốn đã bình dị, quen thuộc thì đến mảng thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi chúng ta càng cảm nhận thêm những vần thơ dân dã, gần gũi nhưng không kém phần lãng mạn. Tập thơ Quốc âm thi tập với 254 bài được ví như bông hoa đầu mùa của nền văn học chữ Nôm mà Nguyễn Trãi đóng góp trong tiến trình lịch sử Văn học Việt Nam. Ở mảng thơ chữ Nôm, Nguyễn Trãi có nhiều điều kiện thuận lợi bộc lộ trực tiếp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của mình, đó là một tâm hồn đa cảm, đó là người dám Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc Xuân.
3,Cảnh xuân (Trần Nhân Tông)
Trần Nhân Tông (1258-1308) là ông vua anh hùng dã cùng Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh thắng giặc Nguyên - Mông. Ông còn là một anh hùng - thi sĩ. Có những câu thơ như tiếng vọng thần kỳ của sông núi thiêng liêng.
“Xã tắc hay phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng”
Thơ của ông viết đều bằng chữ Hán. Những bài thơ của ông như: “buổi sớm mùa
xuân “, “Cảnh mùa xuân”, “trăng” là những bài thơ hay nhất biểu lộ một hồn thơ đẹp.
Cảnh mùa xuân
Chim hót véo von liễu nở đầy,
Thềm hoa chiều ảnh bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân sự,
Chỉ tựa bao lơn đứng ngắm trời
1.1 Hình ảnh mùa xuân...
Bài thơ miêu tả cảnh mùa xuân đẹp, ca ngợi đất nước yên vui thanh bình. Hai câu đầu tả cảnh mùa xuân đẹp:
“Chim hót véo von liễu nở đầy
Thêm hoa chiều ảnh bóng mây bay”,
Bốn nét châm phá, bốn thi liệu chọn lọc, chim hót, liễu nở, bóng nắng chiếu vào thềm hoa (ngọc) cung điện mây Trời. Tả ít mà gợi nhiều. Nhà thơ đang đứng ở lan can bao lơn) cung điện say mê ngắm cảnh đẹp. Tiếng chim hót véo von. Một chiều xuân tưng bừng. Những cây liễu xanh biếc thướt tha, búp liễu trắng nõn đẹp lắm. Sau này trong truyện Kiều Nguyễn Du cũng viết: “Lơ thơ tơ liễu buông mành “, Trần Nhân Tông tả cây liễu mang vẻ đẹp và sức sống mùa xuân qua hình ảnh hàm súc, gợi cảm: “liễu nở đầy”.Bóng chiều vàng nhạt chiếu xuống thềm ngọc điện của nhà vua, thềm ngọc trở thành “thềm hoa” óng ánh sắc màu lộng lẫy; ánh chiều êm dịu làm đẹp thêm thềm ngọc. Câu thơ vừa thực vừa mộng.Cảnh buổi chiều thêm đẹp, những áng mây nhởn nhơ bay qua bầu Trời. Chắc là bầu Trời xanh cao, mây trắng, vàng... lơ lửng bay theo chiều gió nhẹ.
1.2....
Cảnh đẹp nên thơ. Tâm hồn thanh cao của thi sĩ đang giao cảm với mùa xuân, với đất Trời. Đó là một buổi chiều xuân đất nước đang sống yên vui thanh bình.
Hai câu cuối, tác giả mượn “khách “để nói đến cảnh:
“Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân sự
Chỉ tựa bao lơn đứng ngắm trời”
“Khách “ở dây có thể là một vị quan to trong triều đến yết kiến vua để bàn quốc sự. Cũng có thể là một tao nhân mặc khách đến để bàn luận văn chương thơ phú? “Khách “cũng có thể là nhân vật trữ tình - nhà vua - thi sĩ? Trần Nhân Tông đãsử dụng biện pháp nghệ thuật thậm xưng trong miêu tả.Người ta thường nói “đẹp mê hồn”, “đẹp say đắm lòng người”... Khách đến với vua đã quên hết nhân sự” chẳng hỏi chuyện nhân sự mà “chỉ tựa bao lơn đứng ngắm Trời”. Nhà thơ đã lấy khách để nói lên cảm xúc của mình trước cảnh đẹp.
Trần Nhân Tông yêu quê hương đất nước sâu nặng lắm. Tình yêu ấy đã biến hành quyết tâm, hành động “Sát Thát”, làm rạng rỡ Tổ quốc Đại Việt. Tình yêu ấy được diễn tả và gửi gắm trong nhiều vần thơ nói về thiên nhiên, về mùa xuân:
... “Song song đôi bướm trắng
Phấp phới sấn hoa bay”.
(Buổi sớm mùa xuân)
“Thức dậy tiếng chày đà lặng ngắt,
Trên chùm hoa mộc, nguyệt lồng gương.”
(Trăng)
1.3.....
“Cảnh mùa xuân “là một bài thơ xuân cổ kính, hoa lệ. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, bút pháp miêu tả thoáng mà đầy ấn tượng, chỉ phác hoạ một vài nét mà vẫn làm nổi bật cái hồn cảnh vật. Thi pháp cổ được vận dụng thần tình sáng tạo.
Tình yêu thiên nhiên, yêu mùa xuân gắn liền với tình yêu quê hương đất nước. Đó là hồn thơ của Trần Nhân Tông. Thơ xuân của Trần Nhân Tông gợi nhiều bâng khuâng và man mác, đậm và ý vị. Tâm hồn nhà thơ trẻ đẹp mãi với mùa xuân của non nước muôn đời.
II, Đối chiếu giữa ba tác phẩm
III,Nghệ thuật
IV,Liên hệ
V, kết bài chung cho toàn bộ tác phẩm