Tháng Hai năm 1945. Gió bấc từ sông Hồng tràn về, rít lên từng hồi trên những cánh đồng chết. Cả huyện Văn Giang, Hưng Yên chỉ còn lại đất nứt nẻ và những gốc rạ khô vàng. Lúa đã bị vơ vét sạch sành sanh. Trâu bò cũng bị bắt đi từ lâu. Chẳng còn gì ngoài những cái xác người nằm rải rác ven đường, co quắp như những con cá chết phơi trên cát nắng.
Ruồi bâu kín, vằn đen trên những đôi môi khô khốc, trên những hốc mắt trống hoác, nơi trước kia còn ánh lên những tia hy vọng cuối cùng. Nhưng giờ đây, chỉ có cái chết.
Mùi tử khí quện với hơi đất lạnh, nồng nặc trong gió. Không ai buồn chôn cất. Người sống còn chưa chắc qua khỏi đêm nay, đào huyệt làm gì.
Dưới gốc cây gạo đầu làng, một người đàn bà đã chết cứng, tay vẫn siết chặt cái rổ trống không. Xa hơn một chút, một đứa trẻ nằm sấp trên mặt đất, đôi mắt trừng trừng, miệng khô nứt nẻ. Lũ ruồi bu kín hai hốc mắt, bò qua cái lưỡi thè ra như còn muốn khóc mà không thành tiếng.
Chỉ có gió hú qua những mái nhà xiêu vẹo.
---
Bà Lành ngồi tựa lưng vào vách nhà, mắt trũng sâu, đôi tay ôm chặt cái bụng rỗng. Đã lâu lắm rồi bà không còn cảm giác đói nữa. Chỉ có những cơn co thắt âm ỉ, khô rát như thể dạ dày đang cào xé chính nó.
Trước mặt bà, thằng Cò co ro trong tấm chăn mỏng. Thằng bé từng có một đôi má phính, từng lon ton chạy khắp sân, nhưng giờ nó chỉ còn là một bộ xương bọc da. Hai con mắt sâu hoắm, đôi môi nứt toác.
Bên cạnh hai bà cháu, ông Nhân nằm bất động trên chiếc phản gỗ. Một thời, ông là người đàn ông khỏe mạnh nhất làng, từng vác cả bao thóc chạy băng qua cánh đồng không biết mệt. Nhưng giờ đây, ông chỉ còn là một cái xác chưa kịp chết. Xương gò má nhô ra, đôi mắt trống hoác, hai bàn tay gầy guộc ôm lấy bụng như cố kìm nén cơn đói.
Bà Lành nhìn chồng, nhìn cháu, rồi cắn chặt môi. Còn một nắm cám cuối cùng.
Bà gạt nước mắt, đổ cám vào bát nước nóng, quấy lên rồi chia làm hai phần. Một nửa cho thằng Cò, nửa còn lại đặt trước mặt ông Nhân.
Nhưng ông không cầm lấy.
Bà ăn đi. Tôi không cần nữa…
Bà Lành không nói gì. Bà nhìn vào đôi mắt ông – đôi mắt không còn sức sống. Rồi bà quay đi, dỗ từng muỗng cám vào miệng thằng Cò.
Cháu ráng ăn đi con… ăn vào còn sống…
Thằng bé mím chặt môi, nước mắt rơi xuống bát cám đã loãng như nước vo gạo.
Ngoài trời, gió bấc vẫn rít từng cơn.
---
Sáng hôm sau, bà Lành lê từng bước nặng nhọc ra chợ Bần.
Ngày trước, chợ Bần nhộn nhịp lắm. Người ta gánh phở nghi ngút khói, quán xá ồn ào tiếng mặc cả. Nhưng giờ đây, chợ hoang tàn như một nghĩa địa.
Những cái bóng vật vờ lướt qua nhau, mắt vô hồn. Không ai nói, không ai gọi, chỉ có tiếng gió rít qua những quầy hàng bỏ trống.
Một người đàn ông ngồi bệt bên gánh phở đổ nát, tay ôm mặt, tóc rối như tổ quạ. Một bà lão gầy như cái que, đang cặm cụi lục lọi đống rác, cố nhặt nhạnh những vỏ khoai sùng, những cọng rau úa vàng.
Bà Lành quỳ xuống trước một quầy hàng bỏ hoang, giọng khản đặc:
Ai có lòng thương, làm ơn cho tôi xin miếng cơm… cháu tôi đói lắm…
Không ai đáp. Không ai còn gì để cho.
Bà lê bước qua góc chợ.
Dưới mái hiên sập sệ, một người đàn bà nằm chết còng queo, đôi tay bấu chặt vào mảnh vải quấn quanh bụng lép kẹp. Trên lòng bàn tay gầy guộc, một nắm cơm thiu đen sì.
Bàn tay bà Lành run rẩy vươn ra…
Chưa kịp chạm vào, một kẻ khác đã lao đến, giật phắt lấy, mắt long sòng sọc như thú hoang.
Bà Lành khuỵu xuống đất.
Không một hạt cơm.
---
Bà lê từng bước về nhà.
Mỗi bước chân như chìm xuống bùn lầy.
Bà không biết mình đã đi bao lâu. Chỉ biết khi về đến nhà, mặt trời đã lặn hẳn.
Bà gọi:
Cò ơi… Bà về rồi đây…
Không có tiếng đáp.
Trong góc nhà, thằng Cò vẫn nằm đó.
Nhưng nó không còn thở nữa.
Bà Lành quỳ sụp xuống, đôi bàn tay run rẩy áp lên khuôn mặt cháu. Lạnh.
Mắt nó khép hờ, miệng hơi hé như muốn gọi một tiếng "bà ơi", nhưng không thành lời.
Ông Nhân vẫn nằm đó, bất động. Ông đã nhắm mắt, không bao giờ mở ra nữa.
Bà Lành ôm chặt lấy thân thể bé nhỏ, bàn tay siết chặt tấm chăn mỏng giờ đã vô dụng.
Một giọt nước mắt nóng hổi lăn xuống, rơi trên gò má xám ngoét của thằng bé.
Nhưng rồi, bà chẳng còn khóc được nữa.
Đêm ấy, người ta vẫn thấy bà ngồi đó, ôm chặt xác cháu và chồng.
Gió từ sông Hồng vẫn rít qua, cuốn theo hơi lạnh của một mùa xuân chết chóc.
Sáng hôm sau, cả nhà ba người đã hóa thành những cái xác khô.
---
Năm ấy, hoa gạo không nở.
Không có những chùm hoa đỏ rực như lửa cháy trên nền trời tháng Ba.
Chỉ có những cánh đồng trơ trọi, những mái nhà hoang tàn, những cái xác nằm la liệt dưới gốc cây gạo đầu làng.
Chỉ có hàng vạn linh hồn đói khát, lang thang trong cõi u minh, vĩnh viễn không tìm thấy lối về.
Và chỉ có gió bấc rít qua những ngôi làng xác xơ, mang theo tiếng khóc thầm của những người đã chết, vọng về từ mùa xuân năm ấy…
Mùa xuân của đói.
Mùa xuân của chết chóc.
Mùa xuân của những hạt gạo không bao giờ nở.