Chuyện xưa kể lại rằng, có chàng thi sĩ họ Lưu nọ người từ Gia Định lần đầu đặt chân lên đất Huế. Nhìn những cô gái tuổi mới đôi mươi vận trên mình tà áo mang sắc tím tựa hoa bằng lăng, lại nhìn phong cảnh nước non hữu tình mà “hữu tình” ở đây còn có cả cái tình của đồng bào nơi đất lạ, còn chưa kể đến những món ăn đặc sản ít thấy ở miền nam. Chàng say lắm mê lắm, vắt kiệt cái tài văn chương (mà thậm chí còn không thể thắng nỗi cậu sinh viên mới ra trường để giành được một chỗ trên tập san tuần) và gọi cái cảm xúc ấy là nhất - kiến - chung - tình. Bắt nguồn từ câu thơ của Cao Bá Quát trong bài “Giai nhân tái đắc” rằng “Nhất kiến chung tình biết cùng ai?” (ấy là cậu chàng đang nhầm lẫn với câu “Chữ chung tình biết nói cùng ai?”). Ôi, thôi hãy bỏ qua cái văn dở dở ương ương của cậu đi. Lại nói đến việc người ta hay kháo nhau rằng: “Đến Huế mà không tham quan con sông Hương thì cũng coi như là chưa từng đến.”, cộng với cái danh Hương Giang nức tiếng từng chảy trong vô số dòng thơ của các thi sĩ nổi tiếng đương thời, chàng thi “sĩ” ấy liền bỏ tiền thuê hẳn một chiếc xuồng dạo sông cho thoả thích.
Người lái đò là một ông cụ tuổi quá tứ tuần, miệng cười lộ vài chiếc răng đen, niềm nở trò chuyện bằng giọng đặc sệt chất Huế
“Mi người mô rứa?”
“Dạ… cháu người Sài Thành ạ.”
“Rứa à! Lên ni mần chi mô rứa? Rứa đi nghể mô?”
“Vâng ạ.”
Người ở đâu cũng thế đâu chỉ riêng Sài Gòn là hiếu khách. Chẳng qua nơi đâu cũng cần một cái “đặc sản” của nơi đó và lắm người cứ vì e ngại cái khẩu âm độc - nhất - vô - nhị của người dân đất cố đô mà bảo người Huế gai góc. Cậu chàng tức thay, họ dễ gần, thân thiện đến thế kia mà. Nhưng đến Huế đi rồi hẵng biết, sông Hương sẽ rửa trôi cái định kiến lỗi thời đó của họ.
Nói về sông Hương thì… chà, nói sao nhỉ? Chàng thi sĩ bí từ. Nó không chỉ là một con sông đơn thuần như bao con sông khác ở Việt Nam. Phải biết rằng nó từng chảy trong các đoạn sử xưa, trong những cuốn sách cổ nhất và còn xa, xa hơn thế nữa, trước khi con người dùng ngôn từ để nói, sông Hương đã tự kể câu chuyện của riêng mình.
Chiếc xuồng đơn lững lờ giữa lòng sông Hương, cậu đưa tay vốc một nắm nước sông như thể thấy được những hạt lúa chín mà nó sẽ chảy về. Đây là huyết mạch đất Huế! Cậu cảm thán, con sông phù sa bồi đắp nên mảnh đất màu mỡ này đã nuôi sống nhiều thế hệ đồng bào nơi đây.
Thân là một nhà thơ, cậu biết rõ hơn ai hết rằng sông Hương còn là “mực” của những cây bút đại tài trong nền văn học nước nhà. Hương Giang là nàng thơ của Đồng Đức Bốn, là rượu của Nguyễn Trọng Tạo, là cái tình của Hàn Mặc Tử. Và còn nhiều, nhiều lắm những áng thơ mà nếu phải kể thì chắc kể đến khi sông Hương cạn cũng chưa hết.
Bỗng nhiên, chàng thi sĩ nghe thấy tiếng đàn, tiếng sáo trúc ngân vang đệm bằng tiếng trống bản hùng tráng làm rung động mặt nước sông Hương. Từ xa, có thể nhìn thấy chiếc thuyền đầu rồng được chạm khắc tinh xảo mang trên mình cả một nền văn hoá lâu đời và đáng tự hào của người dân đất Huế. Dòng sông này là minh chứng lịch sử cho sự ra đời của nền âm nhạc cổ điển Huế. Nó không ngừng phát triển, chứng minh bản thân mình là di sản quý báu không chỉ trong lòng người dân xứ Thần Kinh mà còn là công trình vĩ đại của sự sáng tạo, trở thành một trong những biểu tượng của đất nước.
Và cậu chàng thi sĩ ấy sau khi nhận ra được điều đó thì như cảm được hồn thơ của Nguyễn Trọng Tạo, cậu say đắm, si mê nét đẹp của sông Hương mà chẳng nơi nào sánh được. Tiếng đàn phương xa tựa khúc nhạc vàng, chàng thi sĩ nọ trong một khoảnh khắc lại lầm tưởng mình là Kim Trọng khi gặp lại Thuý Kiều trong lầu Ngưng Bích. Cậu rướn người về phía trước để nghe cho rõ, mải mê, chăm chú đến mức sảy tay trượt khỏi xuồng. Suýt chút nữa là trở thành một hồn thơ đúng nghĩa.
Sau chuyện đó, cậu ốm nặng ba ngày ròng. Cũng trong ba ngày này, cậu miệt mài viết lách và cho ra đời tập thơ mang tên “Âm thanh của xứ Huế”, giành được một số giải thưởng danh giá.
Sông Hương của những phù sa màu mỡ, nuôi những mảnh hồn thơ, có lẽ là vì thế.