Miền Tây Nam Bộ Những Năm 1930
Tại vùng đất Cù lao ông Chưởng, gia đình ông Hội đồng Tràng nổi tiếng giàu có nhất vùng với ruộng vườn thẳng cánh cò bay. Cậu Ba Tràng – con trai út của ông Hội đồng – là một trang nam tử khôi ngô, từng đi học trên Sài Thành, tâm hồn hào hoa nhưng lại mang một nỗi sầu kín đáo, không màng đến chuyện tranh giành gia sản.
An Lam là con gái của một gia đình nông dân nghèo nợ nần chồng chất, được đưa vào dinh thự Hội đồng làm người hầu để gán nợ. Cô có vẻ đẹp dịu dàng như đóa sen hàm tiếu, đôi mắt trong veo nhưng đượm buồn.
Mối tình bắt đầu vào một buổi chiều tà, khi cậu Ba Tràng ngồi bên hiên tây, tay gảy khúc nguyệt cầm trầm mặc. An Lam bưng khay trà hoa bưởi tiến vào. Tiếng đàn bỗng khựng lại khi cậu bắt gặp bóng dáng nhỏ nhắn, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy vì e sợ.
Cậu không trách phạt cô vì lỗi làm đổ nước trà, mà lại bị thu hút bởi mùi hương hoa bưởi vương trên tóc và ánh mắt thông tuệ của cô gái nghèo. Từ đó, mỗi khi cậu đàn, An Lam lại là khán giả duy nhất, đứng nép sau cánh cửa gỗ lim chạm trổ.
Dù ngăn cách bởi thân phận chủ tớ, họ tìm thấy sự giao thoa trong tâm hồn. Cậu Ba Tràng dạy An Lam chữ quốc ngữ, kể cho cô nghe về những chân trời xa lạ qua những trang sách cũ. Ngược lại, An Lam cho cậu thấy vẻ đẹp của những nhành lục bình trôi nổi, dạy cậu cách lắng nghe tiếng bìm bịp kêu nước lớn.
“Cậu Ba này, người ta nói thân phận con như cánh lục bình, chỉ biết trôi chứ chẳng biết đậu vào đâu. Còn cậu là đại thụ, là tùng bách...”
“Lam à, nếu em là lục bình, ta nguyện làm dòng sông ấy. Sông có chảy về đâu, cũng sẽ chở che nhành hoa tím của riêng mình.”
Bà Hội đồng phát hiện ra mối tình "nghịch đạo" này. Với bà, sự danh giá của dòng tộc không thể bị vấy bẩn bởi một đứa con gái thấp hèn. Bà ép gả cậu Ba cho con gái một điền chủ khác để củng cố thế lực.
An Lam bị đánh đập và bị tống vào kho củi, chờ ngày bán đi cho một gánh hát tỉnh xa. Trong đêm mưa tầm tã của miền Tây, cậu Ba Tràng đã vứt bỏ sự thanh cao của một công tử, quỳ dưới chân cha mẹ để van xin một lối thoát cho người mình yêu, nhưng chỉ nhận lại là những lằn roi và sự ghẻ lạnh.
Đêm trước khi bị đưa đi, An Lam trốn được ra bờ sông gặp cậu Ba lần cuối. Dưới gốc dạ lý hương tỏa mùi thơm nhức nhối, họ trao nhau chiếc khăn rằn thêu đôi chim líu lo. Không có cuộc bỏ trốn thành công nào cả, vì An Lam không muốn cậu Ba mất đi hiếu đạo, mất đi tương lai.
Cô chọn ra đi để bảo toàn danh dự cho người mình thương. Cậu Ba Tràng đứng lặng im giữa bến sông, nhìn chiếc ghe nhỏ chở người thương khuất dần vào màn sương trắng xóa.
Nhiều năm sau, cậu Ba Tràng không cưới vợ. Cậu trở thành một nghệ sĩ độc hành, tiếng đàn nguyệt của cậu giờ đây không còn sự hào hoa mà chỉ còn là những tiếng lòng nức nở. Người ta nói, cứ mỗi mùa sen nở, người ta lại thấy một người đàn ông trung niên ngồi bên bến sông cũ, chờ đợi một mùi hương hoa bưởi quen thuộc giữa dòng đời ngược xuôi.