Anh đứng trên boong tàu, dưới ánh dương nhẹ của bình minh. Chiếc áo đồng phục thủy thủ của hải quân Anh đang bay phấp phới trong gió. Hôm này trời khá đẹp, quang đãng với những làn gió biển thổi nhè nhẹ. Anh vừa ăn sáng với một kẹp sandwich khô khốc và chút sữa sô cô la, miệng vẫn còn dính chút vụn bánh chưa lau sạch. Đã hơn hai năm từ khi anh theo cái nghiệp thủy thủ này. Một cái nghề nguy hiểm, anh biết, nhưng nó đem lại cho anh cảm giác tự do, hơn hết anh muốn dành tuổi trẻ của mình trên những chiếc tàu vì đây là điều mà anh đã lựa chọn, anh thích cái nắng nhẹ vào mỗi buổi bình minh cùng làn gió phơi phới, thích cùng những người đồng đội của mình phiêu du trên biển và nghiên cứu, đặc biệt là cái cảm giác vui sướng khi bắt được những tín hiệu nhỏ dưới đáy biển...Thời tiết đẹp thật khiến người ta cảm thấy sảng khoái. Chợt một cơn gió thổi bay chiếc mũ trên đầu anh, làm lộ ra mái tóc vàng nhạt hơi rối. Gió cuốn nó rơi xuống sàn tàu. Anh thủy thủ vội vàng chạy đến để nhặt. Nhìn tấm sàn gỗ màu đen, một suy nghĩ thoáng qua trong đầu anh thanh niên: chiếc mũ trắng thật nổi trên nền gỗ màu tối, nền gỗ,... giống như căn phòng ở nhà của anh, anh rất thích căn phòng ấy, vì nó là nơi từng chứa đựng khoảng thời gian hạnh phúc ngập tràng của gia đình anh...Anh thấy mẹ đang ngồi ăn bữa sáng, miệng đang nhâm nhi tách trà nóng vữa hãm, dì đang bê những chồng đĩa từ tối qua đem đi rửa, trên chiếc bàn gỗ ngoài sân, em gái đang phấn khích thưởng thức mấy cái bánh ngọt nhỏ vừa mua trên thành phố, bàn tay non nớt vuốt ve chú chó con đang nằm gọn trong lòng. Mùi thịt xông khói lan tỏa từ trong căn bếp ấm cúng của gia đình. Một căn bếp với rèm hoa và ánh đèn vàng. Anh thấy mình đang ngồi ngay ngắn trên bàn, sắp được ăn bữa sáng, liền sau đó, dĩa thức ăn nóng hổi được bưng đến. Dì đặt nó xuống bàn, nhanh chóng ngăn chiếc nĩa thèm thuồng trong tay anh.
- Nhóc háu ăn này!
Dì cười:
- Thức ăn vừa nấu xong nên còn nóng lắm, chưa ăn được đâu. Cháu chờ cho nó nguội một tí rồi hẵn ăn!
Anh nhớ khoảng thời gian hạnh phúc ấy, nhưng sẽ chẳng thể nào gặp lại. 15 năm trước, căn nhà gỗ nhỏ của gia đình đã bị thiêu rụi trong ngọn lửa chiến tranh ác liệt. Thứ đỏ lòm nóng rực ấy lan nhanh đến nỗi những người cứu hộ chỉ kịp kéo được anh ra ngoài. Anh 6 tuổi, đứng ngây ngốc ở đó, chứng kiến ngọn lửa lan ngày một lớn. Anh nghe tiếng mẹ, tiếng dì đang gào khóc kêu cứu. Đội cứu hộ bảo không thể cứu hai người vì ngọn lửa đã quá lớn. Khuôn mặt họ hiện rõ sự bất lực và tiếc nuối. Lửa đã bao trùm quanh mẹ và dì, họ đang tuyệt vọng dần... Bàn chân nhỏ bé như bị ai gì chặt xuống mặt đất. Anh chẳng làm gì được, đúng ra là không biết nên làm gì. Chứng kiến cảnh tượng ấy, nhưng chẳng có giọt nước mắt nào rơi xuống trên đôi mắt anh. Anh còn quá nhỏ để nhận ra sự mất mát.
Những người dân còn sống đã hợp sức thu dọn tàn tro và dựng lên ba cái bia mộ nhỏ tại nghĩa trang làng, họ không tìm thấy em gái anh, nhưng khả năng cao cô bé chẳng thể sống sót.
Sau lần ấy, trưởng làng đã tốt bụng nhận nuôi anh. Gia đình ông gồm hai vợ chồng trưởng làng cùng một người con trai, cũng trạc tuổi anh. Vì cùng tuổi, nên hai người dễ dàng làm quen và đã trở thành bạn thân.
Gia đình trưởng làng yêu thương anh như con ruột mình. Họ đã nuôi anh ăn học, dành những điều tốt nhất cho các con mình. Đến năm 18 tuổi, người con trai ruột của họ chọn học tiếp lên Đại học vì cậu ấy muốn trở thành một luật sư. Hai vợ chồng già cũng muốn anh theo Đại học, nhưng anh đã lịch sự từ chối.Gia đình họ đã cho anh quá nhiều, giờ đây anh muốn trả ơn họ, không muốn họ phải vất vả nuôi anh thêm vài năm nữa, nên anh đã chọn phục vụ cho quân đội. Ông trưởng làng từng là một lính hải quân khi còn trẻ, mỗi lần nghỉ phép, ông đều mang về một số quà nhỏ từ biển như vỏ sò, những mảnh san hô nhỏ , ,...Có lần, ông mang về một mô hình thuyền buồm được đặt hoàn hảo trong chiếc lọ thủy tinh. Lúc anh nhìn thấy con thuyền, anh cảm thấy có một sự kết nối kì lạ, một sự tự do mà anh hằng mong ước... Vậy nên khi lớn lên, anh đã chọn trở thành một lính hải quân, khoác lên mình bộ đồng phục trắng xanh đầy tự hào. Ngày anh ra đi, gia đình trưởng làng tiễn anh ra bến tàu. Cậu con trai kia đã lên đại học, nên không đi cùng được, cậu đã gửi cho anh một bức thư chúc bình an. Anh ngoái lại chào ba mẹ nuôi lần cuối trước khi đi, nụ cười tự hào hiện lên trên khóe môi người cha gi-
Bộp!
- Này! Làm gì mà đứng nhìn xa xăm như thằng tự kỉ vậy!?
Một cái vỗ vai cắt ngang dòng suy nghĩ.
- A Joe hả, tớ đang ngắm cảnh tí ấy mà.
- Bày đặt ngắm cảnh nữa cơ, hay là giả vờ nhìn xa xăm, như ông cụ non ấy! - Joe nhếch mép.
- Cái thằng này, nói xàm không!- Anh cười, cụ nhẹ vào vai bạn mình.
- À, có cái này tớ muốn báo cậu. Tối qua máy quét trên nóc tàu vừa phát hiện ra một vật thể to lớn trên mặt biển đấy.Tớ thấy có cây, nhưng trên bản đồ không đánh giấu nơi này. Khả năng là chúng ta vừa phát hiện ra một hòn đảo mới đấy!
- Chuyện hay vậy mà cậu không nói tớ sớm hơn!!! - anh thủy thủ háo hức.
- Cậu ngủ có biết trời trăng gì đâu, với lại nỡ lòng nào thức cậu dậy, ngủ ngon vậy mà, còn chảy cả nước miếng cơ!! ‐ Joe cười khúc khích
- Điên!- Anh đưa chân đá cho Joe một cú, miệng cười toe toét.
Bù lại cả ngày hôm đó hai chàng thủy thủ chẳng phát hiện thêm được gì.
Trời đã nhá nhem tối. Hai người đành chấp nhận sự thật rằng hôm nay sẽ đi ngủ tay trắng. Độ mười giờ tối, Joe bắt một bình nước nóng để chuẩn bị nấu ăn. Gọi là nấu ăn vậy chứ thật ra là ăn đồ trong mấy cái túi thức ăn bột được phát. Chúng có khá nhiều vị: cà ri gà, súp, nui phô mai,... nhưng cơ bản toàn bột nhão. Joe đã chán ngấy chúng, nên anh không ăn, hôm nay chỉ có X ăn. Joe định sẽ lót bụng bằng vài cái bánh qui nén trong kho.