(Lời tự sự của Bá tước Armand de Valmont, viết trong phòng giam ở Điện Conciergerie, vài giờ trước khi bị đưa lên máy chém, Cách mạng Pháp năm thứ II)
Người ta nói rằng Paris vào tháng Bảy nồng nặc mùi máu và bụi đá vỡ. Nhưng ta chỉ nhớ về nó như nhớ về một buổi chiều tà trong khu vườn Điện Tuileries đã tàn phai. Đó là mùi hương của nàng.
Lẽ ra, với dòng máu Valmont chảy trong huyết quản, ta phải viết những dòng này trên giấy da cừu, dưới ánh nến sáp ong vàng ruộm, với thứ mực Tàu đen nhánh của ông nội ta để lại. Nhưng ở đây, trong căn hầm đá ẩm mốc này, ta chỉ có mảnh áo sơ mi rách và một mẩu than củi nguội lạnh. Nhưng than ôi, chính khi con người ta bị tước đoạt đến sợi ren cuối cùng của phẩm giá, thì tâm hồn mới trần trụi nhất để nói về Tình Yêu.
Ta đã yêu Élodie giữa những câu thơ của Pierre de Ronsard và tiếng đàn lute vọng ra từ Đại Sảnh Gương. Nàng đẹp như một câu châm ngôn của La Rochefoucauld: “L’esprit est toujours la dupe du cœur.” (Tâm trí luôn là kẻ bội tín của trái tim). Đôi mắt nàng màu hổ phách, long lanh như rượu vang Sauternes sóng sánh dưới ánh trăng. Ta đã nghĩ cuộc đời quý tộc của mình chỉ là những vũ hội và những cuộc tình vụng trộm sau cánh gà nhà hát. Nhưng rồi, những tiếng thì thầm về Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái bắt đầu vọng lên từ những con hẻm tối tăm của Faubourg Saint-Antoine, át cả tiếng nhạc cung đình.
Chiến tranh không đến với tiếng kèn đồng oai hùng như trong sử sách. Nó đến qua đôi tay run rẩy của Élodie khi nàng giấu tờ truyền đơn của phái Girondins vào trong tập thơ “Les Fleurs du Mal” (Ác Hoa) – một tập thơ mà phải nửa thế kỷ sau mới ra đời, nhưng ta tin rằng nó đã tồn tại trong trái tim những kẻ tuyệt vọng như ta từ thuở hồng hoang. Nàng nói với ta, giọng đanh lại nhưng vẫn giữ nguyên vẻ du dương của tiếng Pháp vùng Touraine: “Armand, chúng ta không thể cứ mãi nhảy điệu Gavotte trên tro tàn của những người không có bánh mì. Anh phải chọn: Hoặc là vương miện của cha anh, hoặc là trái tim em.”
Và ta đã chọn trái tim nàng. Ta đã phản bội lại giai cấp của mình không phải vì những lý tưởng hùng hồn của Rousseau hay Diderot, mà vì cách nàng vén lọn tóc mai lòa xòa khi đọc cho ta nghe một đoạn trong “Khế ước Xã hội”. Tình yêu của ta, nó hào hùng như khúc La Marseillaise vút lên từ lồng ngực những người lính không quần, nhưng lại dịu dàng và kiêu hãnh như cách ta cầm lấy bàn tay nàng lần cuối trên bậc thềm Versailles, trước khi cơn bão lửa của lịch sử quét sạch tất cả.
Ngày mai, khi lưỡi dao của La Guillotine lạnh lẽo rơi xuống cổ ta, ta sẽ không nghĩ đến nước Pháp hùng cường. Ta sẽ thầm thì tên nàng, và nếu có một chút run rẩy nào nơi khóe mắt, ấy không phải vì sợ hãi cái chết. Ấy là vì ta tiếc nuối một nụ hôn chưa kịp trao dưới bóng cây bồ đề nơi thung lũng Loire, nơi hương hoa oải hương vẫn nồng nàn bất chấp mùi thuốc súng.
“Je vous salue, ma Reine, même si vous n'avez plus de royaume.”
(Tôi kính chào Nữ hoàng của tôi, dẫu cho nàng chẳng còn vương quốc nào nữa.)