Gió bấc vẫn rít từng hồi qua những khe liếp nứa rách tả tơi, mang theo cái lạnh thấu xương của tháng Giêng âm lịch. Làng Hạ quê tôi, nơi từng là vựa lúa trĩu hạt của phủ Thái Ninh (tỉnh Thái Bình), nay tĩnh lặng đến rợn người. Tiếng quạ kêu thảm thiết trên ngọn cây đa đầu làng như điềm báo cho một ngày tang tóc mới.Mẹ tôi, bà Hai, nằm bẹp trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Đôi mắt trũng sâu, vô hồn nhìn lên mái nhà dột nát, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng thở dài khô khốc. Cả gia đình tôi, từ ông bà nội đến mấy đứa em, giờ chỉ còn lại tôi và mẹ. Bố tôi đã vĩnh viễn nằm lại dưới cánh đồng trũng từ cuối năm ngoái vì kiệt sức sau những ngày phu phen, nhổ lúa trồng đay cho quân Nhật.Cái đói ập đến như một cơn lũ cuốn trôi tất cả. Ban đầu, nhà tôi còn chút cám gạo rang, rồi đến củ chuối, rau má, củ mài... Khi tất cả cỏ cây quanh làng bị đào bới sạch, người ta bắt đầu ăn cả vỏ cây và đất sét.U ơi, cố dậy uống hớp nước lá nhãn cho đỡ xót ruột u nhé. – Tôi nghẹn ngào, đưa bát nước chát đắng cho mẹ.Bà Hai lắc đầu thều thào, bàn tay gầy guộc như que củi nắm chặt lấy tay tôi. Làn da nhăn nheo, vàng bủng bám chặt lấy những đốt xương đang dần lồi lên. Bà thều thào, hơi thở đứt quãng:Thằng Cả... con cố sống nhé. Cố mà bới lấy củ dong riềng ngoài bãi... u... u không trụ nổi nữa rồi...Tôi khóc nghẹn. Nước mắt người thanh niên tuổi đôi mươi lúc này cũng trở nên khô cạn. Mới hôm qua, xóm dưới có nhà chết cả 5 người, nằm la liệt trên thềm. Làng xóm vắng hoe, thi thoảng mới có bóng người vật vờ như những bóng ma, lê bước trong vô định, miệng lảm nhảm xin ăn.Gạo ở miền Nam còn rất nhiều, nhưng chính sách cai trị khắc nghiệt của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã chặn đứng mọi ngả đường cứu trợ. Thóc lẫy đầy bồ của bọn cường hào, quan lại và kho của lính Nhật, nhưng người dân nghèo thì vẫn phải chết gục vì bát cháo cám lợn. Sự sống và cái chết chưa bao giờ mong manh đến thế.Trưa hôm ấy, tôi men theo con đê lở để tìm chút rau má hay bất cứ thứ gì ăn được. Đi ngang qua cổng đình làng, cảnh tượng trước mắt khiến tôi ám ảnh đến tột cùng. Một chiếc xe bò chở xác người chất chồng lên nhau đang đi về phía bãi tha ma. Những cái xác gầy guộc, bọc trong manh chiếu rách, chân tay thõng thượt đung đưa. Theo cuốn [Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử] của GS. Văn Tạo, có những xóm chết đói đến 79% dân số, làng xóm tiêu điều, nhiều dòng họ tuyệt tự. Làng Hạ của tôi cũng đang chung cảnh ngộ ấy.Bất chợt, tiếng la hét chói tai vang lên từ phía chợ huyện. Tôi vội vã chạy theo. Trước một cửa hàng bán gạo, một đám đông hốc hác, rách rưới đang tranh giành nhau từng nắm tấm vãi vung vãi trên mặt đất. Một người đàn bà trung tuổi ôm chặt lấy gói gạo nhỏ trong lòng, bị mấy người đàn ông đẩy ngã dúi dụi. Bà ta gào khóc, dùng cả hàm răng cắn vào tay kẻ cướp để giữ lại sự sống cho mình và đứa con đang thoi thóp trên lưng.Tôi nhặt được một củ chuối ai đó đánh rơi. Lớp bùn đất lấm lem, dính cả xác sâu, nhưng tôi vội vàng nhét vào miệng nhai ngấu nghiến. Vị chát đắng, ngai ngái xộc lên cổ họng, nhưng đó là thứ duy nhất giúp tôi cảm nhận được mình vẫn đang tồn tại.Khi mặt trời khuất dần sau lũy tre làng, tôi lê bước trở về nhà với hy vọng le lói rằng mẹ đang chờ tôi mang đồ ăn về. Nhưng bước vào căn nhà trống rỗng, chõng tre lạnh lẽo. Bà Hai đã đi xa tự lúc nào, đôi mắt vẫn mở trừng trừng nhìn về phía cánh cửa như đang ngóng chờ đứa con trai duy nhất.Tôi gục xuống bên thi thể lạnh ngắt của mẹ, gào khóc thảm thiết. Tiếng khóc xé lòng hòa vào màn đêm u ám của nạn đói năm Ất Dậu, dường như muốn nuốt chửng cả một kiếp người. Nỗi đau ấy vượt xa sức chịu đựng của một đứa trẻ mồ côi.Nhưng rồi, bi kịch tột cùng ấy cũng là lúc tình người tỏa sáng mãnh liệt nhất trong đêm đen. Dù bản thân cũng đang đối mặt với cái chết, những người nông dân cùng khổ vẫn đùm bọc, nhường nhịn nhau miếng ăn cuối cùng. Những người có của ăn của để cũng mở kho thóc cứu đói cho dân làng. Chính tình thương đồng loại ấy đã níu giữ những người như tôi lại với cuộc đời.Nhiều ngày sau đó, tôi lang thang xin ăn qua các làng bên, thân thể tàn tạ. Cái chết đã tiến sát đến ranh giới của sự buông xuôi. Nhưng sâu thẳm trong tim, lời trăn trối của mẹ: "Phải sống, con nhé!" như một ngọn lửa nhỏ sưởi ấm tâm hồn tôi.Mùa xuân trôi qua, đến khoảng tháng 5 năm 1945, thời tiết ấm lên, vụ chiêm mới bắt đầu cho thu hoạch. Người dân được cứu đói kịp thời, những cánh đồng lại hồi sinh, màu xanh mạ non bắt đầu phủ lên những hố chôn người rải rác. Tôi đã vượt qua cửa tử.Nhiều thập kỷ trôi qua, nỗi đau về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với 2 triệu người chết vẫn là vết thương nhức nhối trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, thảm họa bi tráng ấy cũng minh chứng cho sức chịu đựng bền bỉ, tinh thần đoàn kết và khát vọng sống mãnh liệt của con người. Đó là nền tảng để dân tộc ta đứng lên, làm nên Cách mạng Tháng Tám hào hùng, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.