Ta ngồi dưới gốc hòe cổ ở đầu làng, gió thu thổi từng cơn se lạnh, rụng hoa vàng rơi đầy trên vạt áo lam đã phai màu theo năm tháng. Ánh trăng rọi xuống mặt nước sông lặng lẽ, vằn vặt những vệt sáng tối y hệt đêm ta lần đầu bước chân vào ngôi miếu nhỏ ẩn mình giữa núi rừng. Đã bao mùa trăng tròn khuyết trôi qua, mái ngói miếu vẫn phủ rêu xanh, lối đi vẫn phủ lá thông mục nát, cảnh vật vẫn như cũ – chỉ có người ta ngày đêm mong ngóng, nhớ nhung mãi chẳng thấy bước chân quay về.
Ngày ấy ta từ giã quân ngũ, sau bao năm chinh chiến đầy thương tích trên người lẫn trong lòng, chỉ muốn tìm một nơi yên bình để chôn vùi quá khứ, sống một đời bình dị không máu lửa. Ta đi mãi, qua bao ngọn đồi trùng điệp, bao con suối chảy róc rách, đến vùng núi xa xôi này thì gặp một ngôi miếu cổ ít người viếng thăm. Cánh cửa gỗ sẫm màu, khắc hoa văn lá cây đã mòn vẹt theo thời gian, trước hiên có chậu cúc trắng nở rộ trong sương sớm, hương hoa thoang thoảng thanh khiết.
Ngay lúc đó em ra mở cửa. Em mặc áo dài lụa lam nhạt, tóc đen buông lỏng nửa phần, cài một bông hoa sữa trắng muốt bên tai. Gương mặt thanh tú như vẽ, làn da trắng như sứ, đôi mắt trong như nước suối nguồn giữa rừng sâu, không chút ngạc nhiên cũng không e dè khi thấy ta đứng ngoài mệt mỏi. Em mỉm cười nhẹ nhàng, giọng nói thanh như tiếng chuông chùa văng vẳng:
– "Chàng đi đường xa mệt rồi phải không? Mời vào nghỉ chân."
Đó là lần đầu ta gặp Đặng Thành An. Em là người trông coi miếu này từ nhỏ, do gia đình giao phó, sống một mình giữa núi rừng bao la. Em không hỏi ta tên gì, từ đâu đến, vì sao lại xuất hiện ở nơi hẻo lánh này, chỉ lặng lẽ đun nước trà sâm, bày bánh khoai mật ra mời trên chiếc bàn gỗ cũ. Bước đi em nhẹ như gió lùa qua cành lá, không để lại tiếng động nào.
Ta ở lại nghỉ ngơi vài ngày, rồi nảy ý định ở lại lâu hơn. Em vui vẻ đồng ý, cho ta một căn phòng nhỏ bên gian thờ, còn cùng ta dọn dẹp mảnh vườn hoang phía sau miếu. Ngày tháng trôi qua chậm rãi, êm đềm như dòng nước chảy dưới chân đồi:
Sáng sớm khi sương còn phủ kín đỉnh núi, em đã dậy sớm quét lá rụng, nấu cháo đậu xanh thơm lừng. Ta theo em lên rừng hái thảo dược, em chỉ cho ta biết cây nào dùng làm thuốc cảm, cây nào đắp vết thương, cây nào có hoa thơm ngát, cây nào có quả ngọt chua. Em nói nhỏ: "Núi rừng không bao giờ lừa người, chỉ cần mình biết trân trọng là đủ." Có lần chúng ta ngồi nghỉ dưới gốc cây thông cổ, em chỉ tay về phía đám mây trắng bay nhẹ: "Ngày nào em cũng ngồi đây chờ ai đó, nay chờ được chàng rồi."
Khi ta luyện võ trên bãi cỏ rộng bên bờ sông, em ngồi trên gốc cây cổ thụ xem, tay cầm quyển sách cổ gáy da, thỉnh thoảng ngước nhìn ta mỉm cười. Có lần ta không cẩn thận bị cành gai rừng xước tay, máu chảy rỉ ra, em vội chạy đến, lấy lá dâu tằm nhai kỹ đắp lên vết thương, rồi dùng dải lụa trắng cẩn thận băng bó từng vòng. Ngón tay em chạm nhẹ vào da thịt, ấm áp như ánh nắng ban mai:
– "Chàng cẩn thận chút đi. Vết thương tuy nhỏ nhưng cũng đau lắm đấy."
Tối đến hai người ngồi bên bếp lửa sưởi ấm, ánh lửa bập bùng soi bóng hai người trên tường gỗ cũ. Em đọc cho ta nghe những câu chuyện cổ về duyên phận, về những người gặp nhau giữa núi rừng rồi ở bên nhau đến đầu bạc; ta lắng nghe, mắt không rời gương mặt em dưới ánh lửa vàng ấm. Đôi khi em ngừng đọc, nghiêng đầu hỏi ta về những vùng đất ta từng đi qua, về những điều ta thấy trên chiến trường – em không sợ, chỉ muốn hiểu thêm về quá khứ của ta. Đêm trăng rằm tháng Tám, em hái một bông hoa sữa cài vào ngực áo ta:
– "Hoa này thơm thanh khiết, không khoe sắc, như lòng chân thành chẳng cần trang trí hoa mỹ."
Ba mùa hoa nở hoa tàn đã qua đi, ta đã quen với sự có mặt của em như quen với hơi thở mỗi ngày, không còn muốn đi đâu nữa. Đêm ấy trăng sáng soi rõ từng góc miếu, từng nếp nhăn trên áo dài em, ta nắm chặt bàn tay em trong lòng bàn tay thô ráp của mình, nói thật lòng từng lời:
– "An này, đợi khi mọi chuyện bình yên, ta sẽ xin phép bác, đón em về làm vợ. Ta không hứa giàu sang, nhưng hứa sẽ bảo vệ em cả đời, không để em bị tổn thương chút nào."
Em bỗng run bật cả người, mắt ngấn lệ trong nhưng vẫn cười rạng rỡ, gật đầu thật mạnh:
– "Em chờ chàng. Dù bao lâu, dù có khó khăn gì, em cũng chờ chàng."
Từ đó chúng ta sống như cặp vợ chồng bình dị. Ta sửa lại mái ngói bị dột, làm thêm bàn ghế gỗ mới chắc chắn, trồng hai cây đào trước cổng miếu theo ý em – em từng nói hoa đào nở rộ là dấu hiệu bình an. Em thì chăm sóc vườn thảo dược xanh mướt, mỗi bữa ăn đều nấu những món ta thích, chờ ta về dưới ánh đèn dầu mờ ảo mỗi khi đi săn hay đi xa về. Có những đêm không ngủ, chúng ta đứng trên hiên miếu ngắm sao, em dựa vào vai ta nói về những điều em mong muốn: một chiếc giường gỗ mới, một vườn hoa sữa rộng hơn, và một ngày không còn phải lo sợ gì cả. Người làng quanh đó đều biết trong miếu có cặp người tốt bụng, ai cũng khen chúng ta có duyên trời định, sinh ra là để thuộc về nhau.
Ai ngờ yên bình chẳng được bao lâu, quá khứ chinh chiến vẫn không buông tha ta.
Đêm đó mưa lớn tầm tã, sấm chớp xé toạc bầu trời, gió lùa qua kẽ lá rít lên như tiếng khóc. Đầu canh hai, ta nghe tiếng ngựa phi rền vang từ xa, rồi tiếng bước chân dày đặc vây kín xung quanh miếu. Ta vội tắt đèn, kéo em ẩn sau cột gỗ, nhìn qua khe cửa thấy hàng chục tên mặc đồ đen, đeo mặt nạ, cầm đuốc và vũ khí sắc bén đứng chật trước hiên. Người cầm đầu giọng khàn khàn gào vào:
– "Lê Quang Hùng! Ngươi giết chúa ta năm trước, nay chạy trốn đến nơi đây! Ra đầu thú, bằng không ta đốt cháy cả miếu này, giết sạch kẻ vô tội!"
Ta nhận ra ngay đó là đám dũng sĩ của gia tộc địch – kẻ ta từng chặn đứng khi họ định cướp bóc làng mạc, giết chóc dân lành. Ta vốn nghĩ đã giải tán hết bọn chúng, không ngờ còn sót lại và tìm được đến tận nơi này.
Ta chuẩn bị rút kiếm ra ra gặp họ, em lại giữ chặt lấy tay ta, mắt đỏ hoe như đã khóc, giọng run run:
– "Chàng đi là chết! Họ đã chuẩn bị sẵn bẫy, không bao giờ để chàng sống ra khỏi đây."
– "Ta không thể để họ làm hại em và người vô tội." – ta vuốt nhẹ má em, đau lòng nói.
Em im lặng rất lâu, nghe tiếng gõ cửa mạnh như muốn đập vỡ gỗ, nghe tiếng đe dọa đốt nhà. Rồi em đẩy ta vào kho gỗ kín ở phía sau miếu – nơi có tường đá dày đặc, khó phát hiện – nói nhanh và chắc chắn:
– "Chàng ở đây đừng ra, dù nghe thấy gì cũng đừng ra. Em sẽ nói với họ chàng đã đi xa từ hôm qua rồi."
Em đóng chặt cửa gỗ, khóa lại từ bên ngoài. Ta nghe tiếng bước chân em mở cửa miếu, nghe giọng em nói bình tĩnh với bọn giặc: "Chàng ấy đã rời đi từ sáng sớm, đi về phía biên giới xa rồi." Nhưng bọn chúng không tin, tên cầm đầu giật lấy đuốc soi khắp gian phòng, thấy chiếc khăn tay em cài trên áo ta hôm qua còn để trên bàn, liền biết ta còn ở đây.
Chúng bắt em lại, trói chặt vào cột gỗ. Ta nghe tiếng roi da quật mạnh xuống da thịt, nghe vải áo rách rưới, nghe tiếng em kêu đau nhưng không bao giờ hé nửa lời. Tên cầm đầu gầm thét: "Nói ra nơi ẩn náu, bằng không ta đánh ngươi đến chết!" Em chỉ thở dốc, lặp lại với giọng khản đặc: "Chàng ấy đi rồi, ta thật sự không biết đâu." Ta ở trong tối, nắm chặt tay đến nỗi móng tay đâm vào da thịt, tim đau như bị xé toạc nhưng không thể làm gì.
Bọn chúng nổi giận, đốt lửa vào rơm rạ trước hiên, ngọn lửa bốc cao cháy xém mái ngói. Em nhìn thấy lửa lan dần đến kho thuốc súng chúng để dưới hiên – thứ chúng chuẩn bị dùng để phá tường – thì đột ngột giãy giụa thoát khỏi tên giữ mình, lao tới giật lấy ngọn đuốc. Trước khi kịp ngăn cản, em đã đâm mạnh ngọn đuốc vào thùng thuốc súng.
Một tiếng nổ lớn vang động núi rừng, đất đá rung chuyển, lửa cháy bùng bùng soi đỏ cả bầu trời đêm mưa. Bọn giặc bị văng ra xa, có kẻ bị thương nặng, hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Ta gõ cửa mãi mới ra được, khói lửa mịt mù, gỗ vụn rơi đầy mặt, chẳng thấy bóng em đâu. Ta gọi tên em đến khản tiếng, lội qua lửa và nước bùn tìm khắp mọi ngóc ngách.
Ta tìm suốt đêm trong mưa gió, đến sáng sớm khi mưa đã tạnh, ánh nắng đầu tiên chiếu rọi qua mây mới thấy em ở bờ sông, người bị bỏng nặng, quần áo rách rưới dính đầy tro than, hơi thở yếu ớt như sắp tan vào sương mai. Em vẫn còn nhận ra ta, cố gắng nâng tay lên muốn chạm mặt ta, mỉm cười yếu ớt:
– "Chàng... chàng không sao rồi... em không để họ tìm ra chàng..."
Ta ôm em vào lòng, cảm thấy thân thể em ngày càng lạnh, nước mắt rơi như mưa lấp đầy kẽ tay:
– "Tại sao em ngốc thế?"
Em nắm lấy bàn tay ta, từng lời nói khó nhọc như khắc vào tim ta:
– "Em đã nói sẽ chờ chàng, sẽ bảo vệ chàng mà... chàng sống yên bình... là em mãn nguyện... Kiếp sau em sẽ tìm chàng trước, không để chờ nữa..."
Nói rồi em nhắm mắt lại, tay còn nắm chặt vạt áo ta không buông ra.
Người làng chỉ nghe nói em theo họ hàng xa đi kết duyên nơi khác, chẳng ai biết sự thật đau lòng này. Chỉ có ta, núi rừng và dòng sông này biết: em đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy sự an bình cho ta, để ta được sống yên bình như mong muốn.
Ba năm trôi qua, ta vẫn ở lại đây, xây lại ngôi miếu cũ như hình dáng cũ, chăm sóc mộ em trên đồi cao phía sau. Ta vẫn làm những việc chúng ta từng làm cùng nhau: dậy sớm quét lá, nấu cháo đậu xanh, lên rừng hái thảo dược, ngồi bên bếp lửa xem lửa cháy. Có những đêm trăng rằm, ta vẫn hái hoa sữa cài vào chỗ em thường đứng, vẫn nói những lời ta chưa kịp nói với em. Ta vẫn chờ, chờ một lần nữa được nghe em gọi "chàng", chờ một lần nữa được em cài hoa vào áo ta, chờ một lần nữa được ngồi bên em xem trăng lên trên bờ sông. Ta biết em không bao giờ quay lại nữa, nhưng không nỡ rời đi – vì nơi đây có em, có những ngày tháng đẹp nhất đời ta, có lời hứa em đã nói với ta.
Gió thu thổi qua lá cây, mang theo hương hoa sữa thoang thoảng như ngày nào. Ta nói nhỏ với bóng trăng trên cao:
– "An ơi, người ta nói duyên ta là mộng. Vậy thì để ta mãi ngủ trong giấc mơ đó, được không em?"
Chỉ có lá hòe rơi nhẹ nhàng trên vai ta, như lời đáp của em từ nơi xa thẳm.
Người ta nói chúng ta chỉ có duyên gặp nhau, không đủ phận đi cùng nhau. Đúng vậy. Duyên trời đã cho chúng ta gặp, cho chúng ta yêu, nhưng hoàn cảnh đời đã đẩy chúng ta ra xa nhau mãi mãi.
Nếu duyên ta chỉ là một giấc mơ – thì ta
nguyện ngủ trong giấc mơ đó mãi mãi.
.End.
Tình yêu đẹp như hoa Quỳnh – chỉ nở một đêm rồi chóng tàn, để lại nỗi nhớ, nỗi đau ám ảnh suốt đời.