Giữa nhịp trôi chầm chậm của buổi chiều cố đô, khi những giai điệu da diết của bài hát Ai ra xứ Huế khẽ vang lên từ chiếc cát-sét của một người chèo đò trên bến Vân Lâu, An lặng lẽ ngắm nhìn hoàng hôn nhuộm tím cả một vùng trời Hương Giang thơ mộng. Lời ca "Ai về là về núi Ngự, ai về là về sông Hương" như chiếc chìa khóa vạn năng mở toang cánh cửa ký ức của anh về những ngày thanh xuân tươi đẹp nhất, cái thuở anh còn là một chàng sinh viên nghèo say mê hội họa, lần đầu chạm mặt một cô gái Huế có nụ cười tỏa nắng và mái tóc thề nghiêng che dưới chiếc nón bài thơ bên dòng sông lững lờ. Họ đã cùng nhau đi qua biết bao thăng trầm, cùng hẹn hò trên bến Văn Lâu, nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân vang trong những chiều lộng gió, rồi lặng yên tựa đầu vào nhau đếm từng nhịp của cây cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp. Dẫu cho vòng quay hối hả của cuộc sống sau này có cuốn anh rời xa mảnh đất kinh kỳ đầy hoài niệm, khiến tình yêu đôi ngả chia ly, thì mỗi khi giai điệu mộc mạc ấy cất lên, trong lòng An vẫn vẹn nguyên một khoảng trời bình yên và ngọt ngào. Anh nhận ra vẻ đẹp dịu dàng pha lẫn trầm tư của xứ Huế không chỉ nằm ở cảnh sắc thiên nhiên, mà nó đã hóa thành một phần tâm hồn, một bến đỗ tinh thần giúp anh luôn vững vàng và biết trân trọng những điều xưa cũ giữa dòng đời vạn biến.
Giai điệu da diết của bài hát về xứ Huế vẫn cứ bảng lảng bay trong không gian như một chất xúc tác diệu kỳ, thôi thúc bước chân của An dạo bước lên những nhịp cầu Trường Tiền lịch sử khi thành phố bắt đầu lên đèn, lung linh phản chiếu xuống dòng sông Hương phẳng lặng. Giữa dòng người qua lại tấp nập, anh bỗng khựng lại, tim đập liên hồi khi bắt gặp một bóng dáng quen thuộc đang đứng tựa ban công cầu, mái tóc thề khẽ bay trong gió và đôi mắt vẫn mang trọn nét trầm tư của người con gái cố đô năm nào. Chính là Hà, mối tình đầu mà anh cứ ngỡ đã đánh mất vĩnh viễn sau mười năm xa cách; cô quay lại nhìn anh, thoáng chút ngỡ ngàng rồi nở một nụ cười dịu dàng, xóa tan mọi khoảng cách của thời gian và không gian. Hóa ra, sau bao nhiêu giông bão của cuộc đời trôi dạt khắp muôn nơi, cả hai đều chọn quay trở về với mảnh đất kinh kỳ đầy hoài niệm này, để rồi định mệnh một lần nữa lại sắp đặt cho họ giao nhau ngay tại nơi tình yêu bắt đầu, minh chứng cho việc những người có lòng rồi sẽ tìm về bên nhau dưới bầu trời Huế mộng mơ.
Bước qua cánh cổng tam quan của ngôi nhà vườn cổ kính, không gian như lắng đọng trong nét văn hóa cố đô khi hiện ra trước mắt là một bàn tiệc ẩm thực truyền thống xứ Huế vô cùng tinh tế với mẹt bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc mướt mát, những chén chè hẻm ngọt thanh cùng tô bún bò Huế nghi ngút khói, lan tỏa mùi thơm nồng nặc của sả và mắm ruốc đặc trưng. Bên cạnh hiên nhà, trên chiếc chõng tre mộc mạc bày biện những món đồ truyền thống mang đậm hồn cốt kinh kỳ như chiếc nón bài thơ mỏng manh ẩn hiện vài dòng lục bát, những bức tranh làng Sình rực rỡ sắc màu tự nhiên và vài cặp diều Huế hình phượng hoàng uốn lượn sắc sảo. Nổi bật nhất giữa không gian hoài cổ ấy là hình ảnh những thiếu nữ thướt tha trong bộ lễ phục áo ngũ thân tay chẽn và chiếc áo dài Nhật Bình cao quý của bậc vương phi thuở trước, với phần cổ áo hình chữ nhật được thêu thùa hoa văn phượng hoàng, mây ngũ sắc cực kỳ tỉ mỉ bằng chỉ vàng chỉ bạc, kết hợp cùng chiếc mấn quấn tóc sang trọng, tạo nên một bức tranh văn hóa vừa lộng lẫy, vừa trang nghiêm, gìn giữ trọn vẹn nét đẹp vương giả và thanh lịch của một thời vàng son nơi đất Thần Kinh.
Quy trình chế tác một chiếc áo Nhật Bình truyền thống đòi hỏi sự kỳ công và tính kiên nhẫn tuyệt đối của người nghệ nhân, bắt đầu từ khâu lựa chọn những thước vải sa, gấm hoặc lụa tơ tằm cao cấp nhất, kế đến là việc định hình phom dáng rộng rãi đặc trưng với phần tà áo phẳng phiu và tay áo có viền ngũ sắc tượng trưng cho ngũ hành. Công đoạn thêu thùa chính là linh hồn của bộ lễ phục khi các nghệ nhân phải dùng những sợi chỉ ngũ sắc, chỉ vàng, chỉ bạc kim tuyến để tỉ mẩn thêu tay từng họa tiết cung đình, sắp đặt nghiêm ngặt theo phẩm trật của người mặc từ hình phượng ổ, loan ổ kiêu sa dành cho bậc hoàng hậu, công chúa đến các chữ Phúc, chữ Thọ đan xen lá hoa tinh xảo. Điểm nhấn quan trọng nhất nằm ở phần cổ áo to bản hình chữ nhật—nguồn gốc tên gọi Nhật Bình—nơi từng đường kim mũi chỉ được chăm chút để khi hai vạt áo khép lại trước ngực sẽ tạo thành một bố cục đối xứng, trang nghiêm hoàn hảo, trước khi toàn bộ trang phục được ráp nối thủ công, kiểm tra tỉ mỉ và ủi phẳng nhằm toát lên trọn vẹn phong thái vương giả, quý phái của người phụ nữ trong hoàng cung triều Nguyễn xưa.
Thế giới ẩm thực đặc sản xứ Huế luôn khiến du khách bốn phương phải say đắm bởi sự hòa quyện tinh tế giữa phong vị bình dân mộc mạc và lối chế tác cầu kỳ mang đẳng cấp cung đình, mà mở đầu phải kể đến món bún bò Huế trứ danh với sợi bún to mềm, nước dùng ngọt thanh từ xương ống ninh kỹ quyện chút nồng đượm của mắm ruốc cùng miếng giò heo béo ngậy và chả cua thơm phức. Bước sâu vào các khu chợ truyền thống, bạn sẽ bị cuốn hút bởi thiên đường các loại bánh làm từ bột gạo như bánh bèo đổ trong chén sành nhỏ xíu rắc tôm chấy vàng ruộm, bánh nậm mỏng manh thơm mùi lá dong, hay bánh lọc trong suốt lộ rõ con tôm đỏ quắt dai giòn sần sật, tất cả đều được nâng tầm nhờ chén nước mắm ngọt cay xé lưỡi đúng điệu người miền Trung. Không thể không nhắc đến cơm hến và mỳ hến—món ăn tuy giản dị với giá thành rất bình dân nhưng lại cực kỳ đưa miệng nhờ vị ngọt đậm đà của thịt hến xào, nước luộc hến nóng hổi hòa trộn cùng tóp mỡ béo giòn, hoa chuối, dọc mùng và chút ớt chưng cay nồng đặc trưng. Để khép lại hành trình vị giác một cách trọn vẹn, một ly chè hẻm ngọt thanh với đủ thức lựa chọn từ chè hạt sen bọc nhãn lồng thanh tao cho đến món chè bột lọc bọc heo quay độc đáo có một không hai, kết hợp cùng một tách trà cung đình thơm ngát hương thảo mộc, chắc chắn sẽ làm say lòng bất cứ ai muốn thưởng thức trọn vẹn nét tinh túy, thanh lịch của mảnh đất cố đô cổ kính.
Rời xa không gian cổ kính của vùng nội đô để ngược ngàn lên các huyện miền núi phía Tây như A Lưới hay Nam Đông, người ta sẽ không khỏi choáng ngợp trước bức tranh văn hóa đa sắc màu của đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa như Tà Ôi, Pa Cô, Cơ Tu và Bru-Vân Kiều. Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, cuộc sống của đồng bào gắn liền với những nếp nhà sàn truyền thống, nhà Gươl bệ vệ vững chãi—nơi tụ họp, sinh hoạt cộng đồng và lưu giữ những báu vật của buôn làng từ bao đời nay. Sức hút của các dân tộc nơi đây nằm ở kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vô cùng độc đáo, nổi bật nhất là nghề dệt dèng truyền thống của người Tà Ôi đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nơi những người phụ nữ khéo léo đan cài từng hạt cườm sắc màu trực tiếp vào tấm vải tơ tằm hay sợi bông thô sơ để tạo nên những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ và bền chắc. Không chỉ có trang phục, đời sống tinh thần của đồng bào còn vô cùng phong phú với những lễ hội lớn như lễ hội Aza (mừng lúa mới) rộn rã tiếng cồng chiêng, tiếng trống túc, trống kơ-tu vang vọng núi rừng, hay điệu múa Cha chấp dạ vũ uyển chuyển của các chàng trai, cô gái Pa Cô dưới ánh lửa bập bùng. Khi đêm về bên bếp lửa hồng, ngồi thưởng thức những món ăn đặc sản đậm chất núi rừng như cơm lam dẻo thơm, thịt nướng ống tre, cá mát nướng mộc mạc và nhấm nháp chút rượu cần, rượu đoác cay nồng, du khách sẽ cảm nhận được trọn vẹn tấm lòng chân thành, hiếu khách cùng bản sắc văn hóa kiên cường, bất khuất nhưng cũng đầy lãng mạn của những người con đại ngàn xứ Huế.