_ làng Đồng Lầy, mùa đói năm Ất Dậu _
I
Sương xuống từ lúc gà chưa gáy như một tấm vải liệm phủ lên cả làng Đồng Lầy. Đầu năm Ất Dậu, cái đói đã vào đến tận cổng. Người ta bảo ngoài Hà Nội, ngoài Nam Định, xác chết nằm đầy các ngõ. Ở Đồng Lầy thì chưa đến thế, nhưng cũng chẳng xa là mấy, vì đến con chó vàng nhà lý Phùng cũng đã biết liếm láp những thứ mà bình thường chả ai dám nghĩ tới
Anh Nhẫn dậy từ lúc ấy. Anh bốn mươi tuổi, nhưng cái đói đã khéo tay bào cho anh thành sáu mươi: lưng còng, má hóp, hai con mắt sâu như hai cái giếng cạn. Anh làm tá điền cho cụ Bá Khuê ba mẫu ruộng chiêm. Năm ngoái lụt, năm nay lại hạn hán, thóc nộp tô còn chưa đủ nói gì đến chuyện còn lại cho miệng mình. Vợ anh mất từ hồi cu Tí lên ba, vì một cơn sốt mà thầy lang bảo chẳng sao rồi thế là chết. Từ đó anh một mình nuôi con
Anh là người hiền. Nhưng cái hiền của anh Nhẫn không phải thứ hiền do đức độ gì ghê gớm. Đó là cái hiền của một kẻ cả đời chưa có dịp, hoặc là chưa đủ gan để làm điều gì khác. Anh chưa từng cãi ai, chưa từng ăn cắp của ai, chưa từng dám nhìn thẳng vào mắt cụ Bá. Cả làng gọi anh là anh Nhẫn nhà ta, bằng cái giọng người ta dùng để gọi một con trâu già thật thà
Sáng ấy anh ra ao đầu làng mò ốc. Cu Tí bảy tuổi nằm ở nhà, bụng ỏng, mặt xanh như tàu lá chuối. Từ hôm qua nó chỉ nói được mỗi một câu
"Thầy ơi, con đói"
II
Anh thấy người nằm ở bờ ao lúc sương vừa tan một nửa
Ban đầu anh tưởng một đống rơm. Rồi anh thấy cái chân gầy khẳng khiu, quắt lại như chân gà luộc, thò ra khỏi tà áo nâu rách. Anh bước lại gần, nhận ra cái mặt xám ngoét, hai gò má nhô lên như hai hòn đá, đôi môi nứt nẻ há ra một chút như muốn nói điều gì mà không kịp
"Sửu?" anh thốt lên
Là Sửu thật. Sửu, thằng bạn chăn trâu thuở nhỏ, thằng đã cùng anh ăn trộm ổi nhà ông Cả rồi cùng bị đánh bằng một cái roi mây. Có năm anh bảy tuổi trượt chân xuống sông, chính Sửu liều mình lặn xuống kéo anh lên, ướt như hai con chuột, rồi hai đứa ngồi bờ đê cười. Mười năm trước Sửu bỏ làng đi phu mỏ ở Hòn Gai, ai cũng bảo chết rục ngoài ấy rồi. Vậy mà giờ nó lại nằm đây, gầy như một bộ xương, trên ngực còn ôm khư khư một cái bị vải nâu nhỏ
Anh quỳ xuống, đặt tay lên mũi bạn. Có một hơi thở dù rất yếu ớt, gần như là không có. Con mắt Sửu he hé mở, nhìn anh mà không nhìn thấy anh, môi mấp máy: "Mơ... Mơ..."
Anh biết Mơ. Là vợ Sửu, chị thợ nhuộm đen đủi ở xóm Cầu, vẫn ngày ngày nuôi con Dần năm tuổi bằng cháo rau. Và anh cũng biết rõ rằng chỉ cần cõng thằng Sửu về xóm Cầu, chỉ cần mất nửa buổi sáng, thì có lẽ người ta sẽ cứu được nó
Nhưng cái bị...
Cái bị vải hơi hở miệng, và anh trông thấy những hạt gạo trắng ngần như một nắm ánh sáng nhỏ
Gạo!
Là gạo thật!
Không phải cám, không phải ngô, không phải khoai
Là gạo!
Đầu anh Nhẫn bỗng trống rỗng như cái nồi đun cạn nước. Rồi từ chỗ rỗng ấy, những ý nghĩ lần lượt mọc ra, từng ý nhỏ một như những con giun sau cơn mưa
Mình chỉ lấy một nắm thôi
Thằng Sửu chắc không qua nổi đâu. Trông nó kìa
Mà nếu mình cõng nó về, thì ai lo cho cu Tí? Cu Tí đang đói
Gạo của người sắp chết, thì cũng chỉ là gạo
Bàn tay anh run. Khi anh đưa ra, bàn tay Sửu bỗng giật nhẹ, các ngón gầy guộc siết lại quanh cái bị, như một đứa trẻ bám vú mẹ. Anh gỡ từng ngón một vô cùng nhẹ nhàng như thể chỉ cần dịu dàng một chút thì việc anh làm sẽ bớt đi một phần tội lỗi
Anh đứng dậy, ôm cái bị vào ngực, và bước đi. Đến đầu bờ ao anh ngoái lại một lần. Trong màn sương trắng xoá, ngực Sửu hình như còn nhấp nhô, hoặc có lẽ chỉ là gió làm bay tà áo
Anh chọn tin vào làn gió
III
Hôm ấy, nhà anh Nhẫn có cơm
Nồi cơm trắng bốc khói trong căn bếp lụp xụp, cái mùi thơm ngọt ngào lâu ngày không thấy làm cu Tí ngồi dậy khỏi cái chõng tre như thể có ai đó thổi vào nó một hơi sống. Nó ăn ba bát, mắt mỗi lúc một sáng, má mỗi lúc một hồng, và cứ mỗi miếng nuốt xuống lại ngẩng lên cười với anh
"Cơm ngon quá, thầy ạ. Sao thầy không ăn?"
"Thầy no rồi" anh nói
Anh nhìn con ăn. Mỗi miếng cu Tí nuốt xuống là một nhát dao nhỏ cứa vào lòng anh, vậy mà anh không thể thôi mừng. Đó mới là cái khổ nhất, và anh không biết gọi nó bằng tên gì: cái mừng đang nằm cùng giường với cái nhục, cái nhục đang nằm cùng giường với cái mừng, và hai đứa chúng nó ôm nhau ngủ ngon lành trong lòng anh
Chiều hôm ấy anh nghe tiếng mõ
Người ta tìm thấy Sửu chết bên bờ ao, đã cứng. Cả làng kéo ra xem. Chị Mơ đến sau cùng, tóc xõa loà xoà, dắt theo con Dần, và khi chị trông thấy cái xác, chị không khóc ngay mà đứng nhìn rất lâu như thể không tin nổi vào những gì đang xảy ra trước mắt. Rồi chị gục xuống, và tiếng khóc của chị vọng lên cả một vùng trời
"Ông ấy bảo mang gạo về cho mẹ con tôi... Ông ấy đi bốn tháng... Cái bị đâu? Cái bị gạo ông ấy mang về cho mẹ con tôi đâu rồi?"
Lý Phùng đứng giữa đám đông, bụng phệ, cái gậy gõ cộc cộc xuống đất
"Kẻ nào lợi dụng người ta chết mà lấy của, kẻ ấy trời không dung đâu"
Cả làng nhìn nhau. Kẻ nào cũng đói, kẻ nào cũng có thể. Ánh mắt họ sục sạo từ mặt này sang mặt khác, và anh Nhẫn, đứng lẫn giữa đám đông, thấy mặt mình nóng như vừa bị ai tát. Anh chờ một ánh mắt dừng lại ở anh
Nhưng không ai nhìn anh cả. Cái hiền của anh, cái hiền cả đời không làm gì ra hồn ấy, giờ trở thành tấm áo che cho anh. Ai lại nghĩ anh Nhẫn đi ăn cắp? Người ta nhìn lướt qua anh như thể anh không tồn tại
Và chính điều ấy mới là điều khiến anh muốn quỳ xuống mà thú tội
IV
Những ngày sau đó, anh Nhẫn học được một điều: gạo ăn dần thì hết, nhưng tội vẫn sẽ mãi mãi bám riết lấy anh
Mỗi bữa anh đong hạt gạo vào nồi, tay run lên khi bốc, và anh đếm thầm từng nắm một. Đó là gạo của Sửu. Gạo của bốn tháng làm phu. Gạo của một người đàn ông đã liều mình ra khơi để nuôi vợ con. Cu Tí ăn ngày một khỏe, khóe miệng bắt đầu có lại tiếng cười, và anh nhìn nó mà thấy mình như một kẻ đang nhìn thằng con trai được nuôi bằng máu của người khác
Đêm anh nằm mơ. Sửu ngồi bên chõng, mặt vẫn xám như hôm ấy, hỏi bằng cái giọng của một đứa trẻ bảy tuổi
"Nhẫn ơi, hồi ấy tao kéo mày lên khỏi sông, mày có nhớ không?"
Anh choàng tỉnh, mồ hôi lạnh ướt cả lưng
Sáng hôm sau, anh múc nửa bát gạo, sang xóm Cầu. Chị Mơ ngồi bên cửa, mắt sưng húp, con Dần nằm gục vào lòng chị, má hõm xuống
"Tôi... có chút gạo của nhà" anh nói, giọng khô khốc "Chị cầm lấy cho cháu"
Chị Mơ nhìn nửa bát gạo rất lâu. Rồi chị chắp hai tay, nước mắt trào ra
"Anh Nhẫn ơi, cả làng này, chỉ có anh là còn thương mẹ con tôi..."
Anh đứng chết lặng. Anh ao ước chị chửi anh một tiếng, hay nhổ vào mặt anh một cái, thì anh còn chịu được. Nhưng chị chỉ cúi đầu cảm ơn, và mỗi lời cảm ơn là một cái đinh đóng vào anh từng nhịp như người ta đóng quan tài cho một kẻ đang dần rơi vào cái chết
V
Một buổi tối, khi nồi gạo sắp cạn, cu Tí vừa húp xong bát cháo, ngẩng lên hỏi
"Thầy ơi, con Dần gầy lắm. Hôm nọ con thấy nó ngồi bên cầu, mắt nhìn con chằm chằm. Hay là mình cho nó một ít gạo nhé?"
Anh Nhẫn không đáp. Anh nhìn thằng bé, cái đầu tròn xoe, hai con mắt đen láy không chút ngờ vực. Rồi anh kéo nó vào lòng, ôm chặt, và lần đầu tiên từ cái sáng sương ấy, anh khóc, khóc không tiếng, chỉ thấy vai mình rung rung
"Ừ" anh nói "Mình cho nó"
Sáng hôm sau, anh mang nắm gạo cuối cùng sang xóm Cầu. Chị Mơ cầm bát, đưa lên mũi ngửi, và bỗng ngẩn người ra
"Gạo thơm quá" chị lẩm bẩm "Thơm giống gạo ông ấy mang về..."
Anh nín thở. Cả người anh cứng đờ như một cây cột đóng xuống đất. Chị Mơ ngước lên nhìn anh, một cái nhìn rất lạ và mơ hồ, trong đó anh không biết là có những gì nữa, là nghi ngờ hay chỉ là nỗi nhớ?
Rồi chị bật cười, một tiếng cười mỏng
"Chắc tôi lẩn thẩn rồi. Gạo nào mà chẳng giống gạo"
Chị cúi đầu cảm ơn anh. Anh bước ra khỏi cửa, đi dọc con đường làng chẳng còn một cọng cỏ, qua cái ao đầu làng nơi sương đã tan từ lâu. Anh đứng đó một lúc, nhìn xuống mặt nước
Anh chẳng biết mình có tội hay không. Nếu anh không lấy, biết đâu Sửu cũng chết, và gạo ấy sẽ nằm đâu đó cho một kẻ khác lấy. Nếu anh cõng Sửu về, biết đâu Sửu cũng không qua được, mà cu Tí của anh thì chết đói. Anh nghĩ đi nghĩ lại, và những ý nghĩ ấy xoay vòng như con chó đuổi đuôi mình, mà không bao giờ tìm ra lối ra
Chỉ có một điều anh biết chắc chắn, đó là nếu sáng mai sương lại xuống, nếu bên bờ ao lại có một cái bị gạo cạnh một người sắp chết, thì anh vẫn chưa dám chắc rằng mình sẽ làm khác