“Cuối thu, nghe đâu mùi hoa sữa,
Gió hơi lùa, lay nhẹ khóm zina ...”
Một buổi chiều thu, trời nổi gió, những lọn mây xoắn vào nhau và bồng bềnh nô đùa trên nền xanh biếc trong trẻo.
Aviras sống ở một thảo nguyên xanh rì, một mình, cùng chú chó Husky năng động, đợi Boglan - chồng cô, trở về.
Aviras và Boglan cùng lớn lên bên nhau, với đoàn người du mục, và là những đứa trẻ nương tựa ông bà, bởi cha mẹ đã khuất xa.
Họ từng cùng nhau lăn dài trên dốc cỏ mềm mượt, nằm ngả tấm lưng nhỏ mà đảo mắt ngắm nhìn chòm mây tạo hình thành muôn thứ trên đời.
Họ từng chơi trốn tìm, trốn sau bụi cây dại, trốn sau đám lông của đàn cừu, trốn sau xe kéo đồ bằng gỗ, trốn cả dưới chồng cỏ dựng cao.
Họ từng giận hờn nhau vì muốn uống sương mai, tranh nhau miếng pho mát thơm ngon, đánh nhau bở muốn được ăn trái dâu tây căng mọng mà ai đó trong đoàn cho, chút ít.
Họ từng cùng nhau học hành, vừa du mục, vừa học. Họ học trên thảm cỏ. Họ học trên xe kéo. Họ học trên lưng lừa. Họ học dưới tán cây. Họ học sau mái lán.
Họ từng ngoan ngoãn chụm đầu vào nhau ngủ, khi đoàn người thức trắng kéo nhau tiếp tục chuyến di chuyển dài đằng đẵng.
Tuổi thơ gắn liền kề với nhau chẳng rời, và họ nguyện một đời tiếp tục quấn quýt nhau, như thế.
Lớn lên, một đôi trai gái trẻ tuổi với sức sống tươi mới nổi bật giữa đoàn du mục ngưỡng tuổi chỉ có trung niên và đám nhóc là chính. Họ có thể thấy mình khi xưa - còn nhỏ, có thể thấy cả mình tương lai - khi già.
Tuổi 19, Aviras và Boglan cùng nhau tách khỏi đoàn du mục, nơi thân thương và tuổi thơ của họ, quyết định dừng chân tại một đồi thảo nguyên thơ mộng, mới mẻ, vắng vẻ. Họ gọi thảo nguyên của họ là Katia - Một cái tên tiếng Pháp - với ý nghĩa “tinh khiết”. Cuộc sống khi trước, hiện tại, và sau này, họ có nhau.
Khi rời đoàn du mục, Aviras và Boglan được tặng 2 con cừu, 1 con chó Husky - Tyz sau này, 2 con bê và cả 1 chú gà mái cùng vài nhu yếu thực phẩm cần thiết cho một cuộc sống mới - không phải cuộc sống du mục lữ hành.
19 tuổi, họ dường như có một trang trại nhỏ trong tay. Họ lao động, vận dụng những điều bản thân đã được rèn giũa. Aviras ở nhà chăm nom nền móng, cùng người thương xây dựng vài lán chuồng, và sau đó, vào ban ngày, Boglan sẽ rời khỏi mái gỗ đơn sơ để đi tìm vài giống rau củ dưới xuôi.
Có lẽ đó là khoảng thời gian đầu tiên mà họ tách xa nhau, vì Boglan bận bịu và Aviras cũng uể oải với đám gia súc.
1 năm sau đó, khi họ 20. Mọi thứ dần ổn định, và họ hạnh phúc với cuộc sống dần được hoà nhập dần. Boglan từ xuôi trở về mang theo những điều mới lạ. Họ tiếp tục cùng nhau “khám phá” thế giới tư tưởng mới. Nông trại nhỏ trên thảo nguyên tinh khiết ấy cũng chào đón những vị khách ghé thăm, ngỏ lời mua nông sản. Chà, họ đã rất hạnh phúc, và càng hăng say hơn.
21 tuổi, họ kết hôn. Aviras tự mình may một bộ váy cưới, và Boglan đã tới xưởng kim hoàn tự tay làm một chiếc nhẫn kim loại đơn giản có khắc tên, làm nhẫn cưới cho Aviras. Đám cưới thảo nguyên của họ diễn ra trước sự chứng kiến của những chú cừu, những chú gà con, đàn bò khoẻ mạnh và cả chú chó Husky Tyz.
“Anh yêu em, sẽ mãi yêu em, mình em, Aviras ...”
“Em cũng vậy, em yêu anh rất nhiều, Boglan ...”
Họ nắm chặt tay nhau, trao nhau nụ hôn cùng lời thề tình yêu chân chính đầy ngọt ngào.
Cuộc sống của họ vẫn cứ đẹp và giản dị như vậy, cho tới khi chiến tranh xảy ra.
Một ngày kia, Boglan thức dậy, mở cửa ra đón nắng sớm như mọi ngày thì bắt gặp một tờ giấy cài bên dưới.
“Triệu tập quân sự chiến đấu ...”
Dòng chữ với nét mực thô bạo trên nền giấy đôi phần nhăn nhúm khiến Boglan nặng trĩu người. Chiến tranh nổ ra, đồng nghĩa tất cả đàn ông, con trai sẽ phải nhập ngũ, chiến đấu, dẫu muốn hay là không. Aviras bắt gặp chồng mình thẫn thờ trên ghế, tới gần và ôm lấy anh.
“Boglan, có chuyện gì thế?”
Aviras được Boglan đưa cho tờ giấy, cô cũng lặng người, giống như đã rơi rớt đâu đó một nhịp tim thình thịch.
“Thời hạn ...”
Aviras chưa kịp đọc xuống, Boglan đã mở lời.
“2 tuần, anh chỉ có hai tuần để xuống xuôi tập trung.”
Aviras hiểu rằng đây không phải điều có thể chối bỏ. Họ không nói gì, chỉ đặt mảnh giấy xuống, ôm chầm lấy nhau, thật chặt, và nụ hôn sâu.
2 tuần sau ...
Hành trang của Boglan không có gì nhiều, bởi nếu ra chiến trường, anh chỉ còn có thể xác dâng hiến vì Tổ quốc, cùng với đó là trái tim khắc sâu lời thề tình yêu với Aviras.
Aviras tiễn anh ra tới cửa nhà, nhìn bóng người chồng khuất dần sau lưng đồi. Năm đó, họ đều 22 tuổi.
Ít lâu sau, Aviras phát hiện bản thân đã có thai. Cô vừa vui mừng, vừa tủi khóc. Boglan, liệu anh có biết được tin đó chăng? Boglan, liệu anh có trở về chăng?
Một mình Aviras đảm đương nông trang nhỏ, thân gầy vẫn gồng gắng với chiếc bụng mỗi ngày lớn dần. Tình yêu của Aviras dành cho Boglan chưa khi nào nguôi được, họ nhung nhớ và khao khát được siết lấy đối phương trong vòng tay.
Tháng thứ 5, bụng của Aviras đã lớn lên trông thấy. Cô thường kê chiếc ghế ra trước hiên nhà mái gỗ, chờ tới hoàng hôn để ngắm nhìn, và để đợi chờ hình bóng quen thuộc về với mình.
Tháng thứ 6, Aviras để Tyz dựa dưới chân, ánh mắt xa xăm hướng về một khoảng không rộng lớn.
“Boglan, em vẫn luôn chờ anh ...”
Đây là lần thứ hai họ xa nhau, lâu đến vậy. Trong lòng Aviras có chút xa lạ với cảm giác đó. Phải làm sao đây? Không ít lần nước mắt cô mất tự chủ mà rơi xuống. Quần áo tư trang của chồng, cô vẫn giặt sạch, treo, phơi và ngắm nghía hàng ngày, như anh chỉ đi xa có vài hôm thôi.
Tháng thứ 8, một buổi hoàng hôn, Aviras lại xoa xoa bụng lớn, lắng tai nghe theo tiếng gió vi vu. Bỗng nhiên, xuất hiện một chàng thanh niên cao lớn trong bộ quân phục.
“Cô là Aviras?”
“Vâng, là tôi ...”
Aviras hai mắt hơi sáng lên. Trên tay người lính kia có một bức thư, và trên túi dắt người anh có nhiều bức thư như vậy, hẳn là anh ấy sẽ đi tới thảo nguyên khác nữa.
“Có thư từ tiền tuyến gửi về cho cô, đây.”
Chàng lính thấy cô bụng lớn bất tiện, bèn chủ động mang tới gần cho cô.
“Hãy luôn lạc quan và mong chờ tin tốt. Xin chào, chúc cô may mắn.”
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh ta liền đi mất.
Aviras đưa mắt ngắm nhìn bì thư, là nét chữ của chồng cô.
“Gửi Aviras thân yêu của anh.”
Cô miết nhẹ lên vết bút, hai mắt đã rưng rưng.
“Vợ yêu của anh, anh đây, là Boglan của em đây.
Khi em đọc những dòng này, không biết rằng anh đang ở đâu, tiền tuyến hay lui về khu tập huấn, trên đồi cao hay dưới trướng biển sâu ... anh nơi đâu, chính anh còn chẳng rõ, vậy nên em ơi, xin em chớ hãy băn khoăn!
Aviras xinh đẹp của anh, anh vẫn luôn yêu, nhớ, và thương em da diết. Ở đây dẫu rằng xa xôi muôn trùng, nhưng em đừng quên, lời thề của đôi ta là vĩnh cửu.
Anh sẽ trở về, nhất định, khi anh còn có thể.
Đừng cố gắng gửi thư cho anh, hãy viết thư cho anh và đặt dưới gối ngủ, rồi anh sẽ mơ được những lời ngọt em dành cho anh.
Yêu em, yêu em rất nhiều.
Boglan của em.”
Lá thư ngắn được gấp gọn gàng, những lời lẽ đầy tình yêu được trao gửi qua hàng chữ. Aviras ôm chúng vào lòng, giống như cô đã được ôm lấy Boglan thương nhớ.
Tháng mang thai thứ 9, Aviras mệnh lớn, may mắn trùng trùng, sinh ra một bé gái xinh xắn, với nước da mịn màng và đôi mắt xanh biếc như Boglan. Cô tự mình chăm con, vẫn trông nom nông trang, với động lực lớn lao nhất là bức thư khi trước nhận được từ chồng. Cô gọi con gái mình là Laura - vòng nguyệt quế vinh quang, sẽ dành tặng cho Boglan.
Laura 5 tháng tuổi, trong một lần buôn bán với một tiểu thương, Aviras nghe được tin ngoài tiền tuyến đang lui về. Liệu chồng cô có về không?
Laura 1 tuổi, Aviras lại hay được rằng, quân binh đã tiếp tục chinh chiến. “Boglan, xin anh hãy luôn bình an.”
Cô nuôi con và chăm chút cho mọi thứ nơi thảo nguyên Katia ấy, với tình yêu bất tử dành cho người chồng đi xa đầy vất vả.
Như thường lệ, cô ôm con vào lòng, ngồi trên ghế gỗ đu đưa dưới ánh chiều hoàng hôn, và chú Husky nằm dưới chân ngoan ngoãn yên giấc. Thấy con đã say giấc, Aviras bế con vào phòng, và để con nằm ngủ trên chiếc giường nhỏ êm ái. Cô lại ngả lưng trên tấm ghế, ngón tay mân mê chiếc nhẫn cưới mà Boglan đã tự tay làm. Tiếng chuông nhỏ vang lên, thu hút sự chú ý của Aviras. Cô bật đứng dậy, là người lính đưa thư!
“Có thư từ tiền tuyến gửi cô, cô Aviras”.
Không còn là người lính đưa thư khi trước, nhưng trên chiếc túi dắt chéo, những bì thư vẫn cứ đầy ự.
“Cảm ơn anh.”
Aviras nhận lấy bao thư mà trong lòng nao nức. Đã bao lâu rồi Boglan không trở về cơ chứ?
Nét chữ vẫn đẹp đẽ và thân quen, “viết cho tình yêu của anh”.
“Gửi Aviras yêu dấu, anh nhớ em rất nhiều.
Tình hình hiểm trở, anh cũng không thể biết liệu anh có được bình an.
Anh luôn mơ thấy em, và anh đặt em trong tâm trí, trong trái tim và trong cuộc đời.
Anh đã làm một chiếc lược gỗ, tự tay anh chặt cây khi đi qua rừng, và mỗi khi rảnh rỗi anh đã khắc đẽo nó. Em sẽ thấy nó sau bức thư.
Chúng ta luôn bên nhau, nhưng chúng ta cũng đã xa nhau quá lâu.
Chiếc lược này sẽ thay anh bên em nếu anh không thể trở về trong một ngày xa xôi nào đó.
Aviras, anh yêu em mãi.
Boglan.”
Đóng bức thư lại, nước mắt cô lã chã rơi. Trong phong thư quả nhiên cộm lên bởi chiếc lược gỗ mảnh khảnh mà xinh đẹp. Trên đó khắc hai chữ B-A. “Boglan-Aviras”. Aviras ôm lấy chiếc lược, ôm lấy phong thư, nước mắt đẫm trên khuôn mặt thanh tú.
Bỗng nhiên, một thứ mực đỏ lan ra tay cô. Cô giật mình lật phong thư lại, tuy đã mờ mực, nhưng Aviras vẫn nhìn rõ dòng chữ được ấn dấu: “Đã hi sinh”, bên dưới còn ghi kĩ ngày, kĩ tháng.
“Boglan ...”
Chỉ vậy, cô đã hiểu, đây là di thư, và cũng là kỉ vật mà chồng cô gửi về từ nơi xa xôi.
Laura đã tỉnh giấc từ khi nào, chạy ra ngoài hiên cùng với mẹ.
Aviras bế cô con gái nhỏ lên, phong thư nhét vào trong túi áo, chải tóc cho con bằng chiếc lược gỗ kỉ vật. Chiếc lược chải rất êm ả, dịu dàng, Laura tươi cười dường như thích nó vô cùng. Răng lược chải từng đường trên mái tóc thưa mượt màu vàng bơ của Laura. Aviras chỉ đành sụt sùi, rưng rưng trên khoé mắt, đặt lên phiến má hồng của bé con một nụ hôn.
“I love you.”
Rồi ta sẽ lại yêu thôi, tình yêu sẽ luôn trường tồn.
Rồi ta sẽ lại yêu thôi.