Giữa tháng năm trời bắt đầu trở nóng. Trưa ngày mặt trời hun đúc những con đường, những tòa nhà bê tông ở thành phố đến tưởng như ngửi thấy mùi khen khét. Những buổi chiều nắng oi ả, khi cái mặt trời đỏ lòm vẫn chưa kịp trốn đi, thì thi thoảng lại ập đến một cơn mưa dềnh dàng thất thường. Giữa cái tiết trời dễ làm con người ta phát điên này, lại có một con người khoái chí ngồi cười toe toét hở răng hở lợi - A Pó.
Chẳng là mẹ nó mới đánh điện xuống báo với A Pó một cái tin mà nó chưa từng, chưa một lần từng nghe trong đời: Nhà mình giờ có điện lưới nhà nước rồi đấy A Pó ạ!
Đấy, cái điều nghe có vẻ chẳng có gì to tát kia lại chính là nguyên do làm cu cậu sướng cái bụng đến vậy. Có lẽ không phải ai cũng có cái bụng tốt như của A Pó, nó hay hài lòng với mọi thứ một cách dễ dàng. Nhưng cũng dễ hiểu, đâu phải ai cũng từng phải thắp đèn dầu học bài. Đâu phải ai cũng từng trải qua một tuổi thơ như của nó.
Nơi A Pó lớn lên là giữa rừng sâu, nơi ngay cả những tia nắng sáng nhất giữa trưa hè cũng phải bất lực trước những tán cây rừng già um tùm trên đỉnh đèo, nơi tưởng như một bước là chạm tới mặt trời. Đêm về cái bản nhỏ của Pó nằm im lìm trong bóng đêm tịch mịch, những ánh đèn dầu le lói đơn lẻ không đủ để nhìn thấu qua lớp sương núi dày đặc. Buổi đêm người ta đốt đuốc qua nhà nhau để bàn tính chuyện đều không thể biết nhà kia đã ngủ hay chưa nên đến đầu nhà là phải gọi to, còn gia chủ nghe tiếng chó sủa là phải dỏng tai lên mà nghe xem có ai đến nhà, chứ ánh đèn chẳng giúp được gì.
Cứ như vậy không biết bao lâu, rồi có ai đó trong bản lần đầu quen với người kinh dưới xuôi, họ làm ra cái máy phát điện nước thắp cái bóng đèn sợi đốt đỏ quạch. Nhớ bữa đó cả bản được phen hoảng hốt tưởng nhà kia bị cháy, mọi người còn hô hoán cuống cuồng thi nhau vác bương nước chạy tới để giập lửa. Kể từ ngày đó, ở cái ghềnh đầu bản bắt đầu dần xuất hiện một dàn máy phát điện nước ngày đêm ù ì quay át cả tiếng nước dưới ghềnh. Ngày đầu vài ba nhà chung nhau một đầu máy, rồi người ta lại gùi lên núi những cái vô tuyến truyền hình đen trắng mặt kính lồi, đít dài thườn thượt. Kể từ đó những nhà bán trâu bán bò mua vô tuyến hình đều có một cái máy phát điện nước riêng. A Pó vẫn nhớ cái hồi đó, muốn xem phim ảnh là buổi ngày trẻ con đi kiếm củi, kiếm củ sắn. Đến đêm mang đi đổi để được xem.
Cái ngày mà nhà nó cũng có máy điện nước A Pó không làm sao mà ngủ được vì nó quen nằm trong tối lâu rồi. Mà bóng điện Pá nó bảo không tắt đi được, sợ đầu máy điện bị cháy má*. Thế là từ hôm sau, cả nhà phải làm ra cái áo chụp vào bóng điện để đêm cho bớt sáng. Tuổi thơ A Pó cũng là vô số lần phải xách đèn đi sửa điện giữa đêm, nhất là mùa mưa, chốc chốc chân vịt* lại bị lá cây lèn chặt, cũng là cơ số lần lóng ngóng bị điện giật tê tái. Đàn ông trong nhà ở quê Pó dần dà ai cũng trở thành thợ sửa chữa, máy hỏng là tự vác mỏ-lết, cờ-lê ra tháo tháo lắp lắp. Mùa mưa, lũ rừng ào ào tràn về, đàn ông trong nhà ai cũng xô nhau chạy ra "cứu" máy điện trong đêm, bất chấp nguy hiểm. A Pó lúc nhỏ mấy lần đều đi theo Pá nó cứu máy điện, nó đứng từ bờ cao bên suối, dõi mắt lo lắng nhìn theo ánh đèn của Pá nó. Đến khi Pá nó quay lại thì vừa phải vác máy, vừa phải cõng nó trên lưng. Nói nó ở nhà đợi mấy lần mà nó khóc thét không chịu, riết rồi lần nào Pá nó cũng dắt nó ra theo. Ấy thế mà đến mùa khô, khe ngòi nào cũng cạn kiệt. Người lớn kéo quần lên ngang đùi là có thể lội qua nhiều đoạn suối. Nước không đủ chạy nhiều đầu máy điện, người ta tranh nhau từng giọt nước mãi rồi cũng chán. Lại quay ra mấy nhà chung nhau một đầu máy, chia nhau mỗi nhà một bóng thắp sáng. A Pó vẫn nhớ có dạo nhà nó với nhà bác nó dùng chung một máy điện. Nhiều lúc cả nhà đang ăn cơm tối thì bóng điện nhấp nháy vài ba cái:
- Lấy cái đèn dầu ra thắp đi Mế nó à, nhà bác Phó sắp tắt điện để chiếu phim đấy!
Pá nó bảo.
- Có khi tại hòn đá lăn vào chân vịt máy điện thôi.
Anh nó bảo. Ấy thế rồi điện tắt thật.Cả nhà lại phải thắp đèn dầu để ăn nốt bữa tối.
Cái vụ kéo điện lên núi này thật ra cũng không phải mới mẻ gì. Cách đây cả chục năm, người dân bản đã xôn xao bàn tán chuyện có nhóm người lạ từ xa đến, vác theo một đống máy móc lỉnh kỉnh đo đo tính tính. Hỏi ra thì ông trưởng bản mới nói là người ta muốn nối điện lên giúp bà con. Ấy vậy mà hơn mười năm trôi qua, dân bản vẫn phải vài ba năm bán một con bò để đổi một cái máy phát điện mới, và vẫn thói quen lúc nào cũng thủ trong nhà một hai cái đèn dầu để phòng hờ. Cuối cùng giờ thì điện cũng vượt được đèo đến bản nó. A Pó biết rồi cuộc sống nơi quê nó sẽ thay đổi vĩnh viễn. Cũng y chang lần người ta mở đường thông vào đầu bản nó, người dân bản đã bán dần ngựa và mua xe máy để đi. Vốn dĩ lúc đầu mỗi nhà đều có một đến hai con ngựa, phân ngựa nghẽn cả mấy cái khe nhỏ, mà đến giờ thì nguyên cả cái bản của Pó không có lấy một bóng ngựa. A Pó có một quả tim nhẹ như hạt sim khô*. Mọi cái thay đổi nhỏ đều tác động đến nó sâu sắc hơn những người khác. Khi Pá nó bán con ngựa cuối cùng của nhà nó đi, có đêm A Pó bật dậy giữa đêm chạy ra đầu hồi vì nó nghĩ nó nghe thấy tiếng vó ngựa. Không chỉ là tiếng vó ngựa nào đó, mà đúng là tiếng vó con ngựa A Mói của nó. Thế rồi khi tiếng thở hổn hển của chính nó lắng dần, trả lời lại nó lại chỉ là tiếng dế, tiếng bọ ầm ì trong cái tĩnh lặng của rừng đêm.
Lần này điện lưới quốc gia về thật, A Pó không chắc những cái máy phát điện hay những chiếc đèn dầu, cái nào sẽ biến mất trước. Nhưng rồi trước sau gì chúng cũng sẽ bị lãng quên cả. Đám trẻ con lứa mới đẻ không được thấy tận mắt con ngựa, giờ cũng sẽ không biết cái máy phát điện trông như thế nào?. Bất giác A Pó chợt nhớ đến A Lềnh, một cậu bạn tuổi thơ trong tưởng tượng của nó. A Lềnh là một con ma rừng nhỏ, mỗi lần A Pó đi một mình vào rừng nó đều biến thành con chim cu cứ bám theo A Pó trò chuyện. A Lềnh đi theo bảo vệ A Pó khỏi những con ma rừng lớn khác, A Lềnh cũng chỉ đường cho A Pó mỗi khi nó một mình chạy trong rừng tìm trâu đi lang đến nhập nhoạng tối, nhờ vậy A Pó chưa lần nào đi lạc. A Pó vẫn nhớ Lềnh rất sợ ánh điện. Mỗi lần A Pó đi đến nhà ông A Lâu đầu bản, quay ra đều thấy A Lềnh đã chạy mất. Lần này điện về sáng trưng cả bản. Cả nhà A Lềnh và những con ma rừng khác chắc phải đi khỏi ngọn núi sau nhà Pó để đến nơi khác sống.
A Pó từng nghe người già nói, thú rừng là của ma rừng nuôi. Họ thương tình thả cho con nào thì con người mới được ăn con đó. Mấy năm nay A Pó đi học biền biệt, mỗi lần về đều không thấy A Lềnh đến hỏi chuyện, còn thú rừng thì thưa dần. A Pó đoán không chừng ma rừng đã bỏ đi hết, cả A Lềnh cũng vậy.
Dòng suy nghĩ vừa rứt, lòng A Pó chùng xuống, nó thôi không cười nữa. Đôi mắt tĩnh lặng như muốn xoáy sâu nhìn vào một nơi vô định, quá khứ hay tương lai? Cái cũ cái mới? Thứ còn lại hay thứ đã vĩnh viễn bị thời gian xóa sạch? Chính nó cũng không biết nữa.