[ Kinh Dị ] SERIES NHỮNG CÂU CHUYỆN DÂN GIAN THẦN BÍ
Tác giả: 0 giờ sáng
CHỒN TINH ĐỔI MẠNG - LỜI NGUYỀN ĐÁNG SỢ NHẤT
_________________
Hôm nay tôi sẽ kể cho các bạn nghe về một câu chuyện thần bí, hay nói đúng hơn, đó là câu chuyện kỳ dị đầu tiên mà tôi đã trải qua, liên quan đến “chồn tinh đổi mạng”.
Đến tận ngày hôm nay, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn cảm thấy rùng mình kinh hãi.
Thời điểm vụ việc xảy ra, tôi mới chỉ 4 đến 5 tuổi.
Hồi còn nhỏ, tôi là một đứa trẻ rất hay ốm vặt, dăm bữa nửa tháng lại ốm một trận. Bố mẹ cảm thấy vô cùng lo lắng, nên đã mời một ông thầy xem số đến. Ông thầy phán rằng, tuy tôi sinh ra thân thể đã ốm yếu, nhưng lại thuộc mệnh thuần dương, tốt nhất là bây giờ đưa đến đạo quán hoặc một nhà nào đó có “mệnh cứng” để trấn áp bớt thì sẽ ổn, còn không thì, sợ rằng gia đình tôi sẽ không thể nuôi nổi.
Tất nhiên không thể cứ vậy mà tống đứa con ruột của mình vào đạo quán được, nên cả nhà đã thương lượng hồi lâu, cuối cùng quyết định đưa tôi về nhà bà ngoại ở Đông Bắc.
Bà tôi là người dân tộc Mãn, vốn là một tộc lớn, nhưng về sau nhận lệnh đi tìm báu vật cho Hoàng đế ở vùng Đông Bắc xa xôi nên đã chuyển hẳn đến đây để sinh sống. Tuy rằng, không ít con cháu trong tộc đã di cư đến nhiều nơi, nhưng các thế hệ đời sau vẫn giữa được nghề săn bắt, luyện võ của đời trước để lại. Cụ ngoại tôi cũng bởi vậy mà trở thành một trong những thợ săn nổi tiếng trong vùng.
Mọi người đều nói thợ săn có mệnh cứng, vậy nên muốn gửi tôi qua đó nhờ cụ ngoại trấn áp bớt.
Thế nhưng, lúc đó, mọi người lại quên mất một điều rằng, mặc dù cụ ngoại tôi oai phong, hùng dũng là thế, nhưng mảnh đất Đông Bắc núi rừng hiểm trở, động vật thì nhiều vô kể, mà người lại thưa thớt, hiu quạnh, thì những chuyện tà ma, đặc biệt có liên quan đến động vật là những điều không hề hiếm gặp.
Ở Đông Bắc, nhà nhà đều tôn thờ Ngũ Đại Tiên, chỉ năm loài động vật có linh khí mạnh và sau khi tu luyện dễ thành tinh nhất. Mỗi loài đều có đặc tính riêng, có thể giúp và cũng có thể hại người.
Trong Ngũ Đại Tiên, chồn tinh được xếp vào loại dạn người nhất. Chúng khá nghịch ngợm, lại thích nhập vào người để đi lừa dân, sau đó lấy đồ ăn thức uống.
Khi nhập, chúng sẽ dùng giọng điệu vô cùng kỳ quái để trò chuyện với những người xung quanh. Đầu tiên, chúng sẽ đòi thuốc lá, mà bắt buộc phải là loại làm từ nhân sâm được trồng tại một vùng chuyên biệt ở Đông Bắc. Chỉ nhoáng một cái, đã có thể hút hết cả bao.
Sau khi hút no thuốc, nó bắt đầu chọc phá dân làng, cứ nói nhăng nói cuội một hồi, ăn uống no say rồi lại tự đi mất.
Tương truyền, mỗi khi gặp chồn tinh, người dân nhất định phải hầu hạ nó thật chu đáo. Bởi chúng vốn nổi tiếng có lòng dạ hẹp hòi, thù lâu nhớ dai. Một khi điên lên, đến mạng sống của chính mình nó cũng chẳng tiếc.
Đây là sự thật, chồn tinh là loài động vật chẳng ngại làm bất cứ điều gì. Và đây, cũng chính là thuật đổi mạng trong truyền thuyết.
Chồn tinh “đổi mạng” cực kỳ ác, nó sẽ tìm một cái cây to, kẹp chặt đầu của mình vào hai nhánh cây, sau đó treo cổ, dần dần lịm đi cho đến c.hết.
Nhưng trước khi t.ự sát, nó sẽ tìm và chỉ điểm một người đổi mạng với mình, nó đau đớn như thế nào, người kia cũng phải hứng chịu cảm giác đớn đau y hệt. Hay, nói cách khác chính là muốn lôi người kia cùng xuống mồ, giống như một lời nguyền rủa c.hết chóc đáng sợ.
Sau khi chồn tinh treo cổ t.ự tử, người bị nguyền cũng sẽ hứng chịu tương tự những gì nó phải trải qua. Đang cười nói vui vẻ bình thường, cả người đột nhiên co thắt lại, sau đó không ngừng dùng tay cào vào cổ mình, đến độ nát tươm, da thịt lẫn lộn, m.áu me be bét. Tiếp sau, tròng mắt giãn to tưởng chừng sắp nổ tung, hơi thở trở nên gấp gáp, cuối cùng tự cắn nát lưỡi và c.hết tức tưởi.
“Chồn tinh đổi mạng”, không một loại thuốc nào có thể cứu chữa, chính bởi vậy mà nó trở thành lời nguyền đáng sợ nhất.
Tôi khi ấy, cũng từng được nếm trải mùi vị đổi mạng như vậy.
Lúc bấy giờ, tôi đang sống tại nhà bà ngoại ở thôn Cộng Hòa, thành phố Mẫu Đơn, tỉnh Hắc Long Giang. Nơi đây ẩn mình giữa chốn núi rừng hoang vu, thiên nhiên hùng vĩ, bao la mà thơ mộng, còn có cả dòng suối trong veo, hòa âm róc rách len qua từng gốc cây cổ thụ tán rợp bóng trời, cùng rừng hoa hướng dương trải dài bạt ngàn và thấp thoáng xa xa là dãy núi trùng trùng điệp điệp...
Ngôi làng nơi đây không lớn lắm, chỉ có mấy hộ gia đình tập trung sinh sống. Nhà nào nhà nấy đều xây một căn nhà bằng gỗ nhỏ san sát, được dựng lên từ những tấm gỗ thông vô cùng chắc chắn, thoang thoảng mùi thông đặc trưng.
Tháng 8, tháng 9 hàng năm là thời điểm mọi người lên núi hái nấm. Những cây nấm mật vàng óng trải khắp mặt đất, chỉ cần đi một buổi là đã có thể xách về đầy cả một giỏ.
Đặc biệt, mỗi khi đi hái nấm, người dân cần phải mặc một cái quần ôm sát chân, để tránh bị rắn cắn. Một khi bị rắn cắn, chắc chắn chỉ còn nước nằm nhà chờ c.hết, bởi bệnh viện gần đây nhất cũng phải mất tới 6 tiếng đi ô tô, dù thế nào cũng không thể cấp cứu kịp thời.
Mùa đông ở Đông Bắc kéo dài rất lâu, lại vô cùng lạnh giá, mấy đứa trẻ con như chúng tôi sau khi ăn uống xong xuôi từ chiều sẽ nằm sưởi ấm bên bếp lửa, đợi bà đến kể chuyện cho nghe, rồi mới chịu nhắm mắt đi ngủ.
Bà ngồi khoanh chân, vừa đan áo len, vừa kể chuyện cho chúng tôi nghe. Từ chuyện thợ săn lên núi gặp phải gà vàng, người đi đào sâm trông thấy “em bé sâm”, đến bác đốn củi gặp phải chó sói, khiến tôi cả đêm toàn mơ thấy ác mộng.
Tôi đã có một tuổi thơ tràn đầy sự ma quái và kỳ bí tại thôn làng nhỏ như thế đấy.
Dù cho nơi đây lưu giữ bao kỷ niệm tuổi thơ và chất chứa nhiều điều ảo diệu, nhưng, đã rất nhiều năm trôi qua, tôi vẫn chưa quay trở lại. Lý do chính là bởi sự việc chồn tinh đổi mạng ám ảnh dưới đây.
Sự việc này, bắt nguồn từ một tên lông bông ở trên thị trấn.
Anh ta là một tên ế vợ, sống cô độc một mình, cả ngày chỉ biết uống rượu rồi đi quanh làng quanh xóm gây chuyện, hơn nữa, còn mắc bệnh nấm đầu, bởi thế nên ai gặp cũng g.hét, cũng né. Và đặt cho anh ta cái tên: “Lại Bát Tự”.
Tuy rằng Lại Bát Tự lười thối thây, nhưng được cái thông minh. Ngày trước anh ta đi theo một người thợ săn, học được cách săn bắt, làm bẫy, vậy nên dù cuộc sống không khá giả gì nhưng ngày ngày vẫn có thịt ăn, kể ra cũng không tồi chút nào.
Đầu đông năm ấy, trong thôn bỗng xuất hiện mấy người Quan Nội (miền tây Sơn Hải Quan, Trung Quốc) đến thu mua thuốc. Việc này trước nay không có gì là lạ, thế nhưng thứ họ mua lần này khá đặc biệt: Chồn tinh.
Họ nói sắp mở một tiệm thuốc Trung y, và chồn tinh chính là một dược liệu quan trọng trong bài thuốc của quán, m.áu của nó chuyên chữa bệnh thận, cho dù bệnh nặng cỡ nào, chỉ cần uống m.áu của 7 con chồn tinh là lập tức khoẻ mạnh, chạy nhảy, làm việc bình thường trở lại.
Họ ăn mặc cũng rất kỳ lạ, từ đầu đến chân, từ quần áo, mũ mão, thậm chí cả tất và giày đều nửa trắng nửa đen, tưởng chừng như đã cắt hết tất cả những bộ quần áo màu đen và trắng làm đôi rồi ghép chúng lại vậy.
Ngoài ra, mỗi người họ còn đeo một cái khăn màu đỏ tươi, trông rất bắt mắt.
Có người hiểu cao biết rộng, nói rằng, đây là cách ăn mặc của những người “đi âm”, những người này có thể tự do đi lại giữa hai thế giới âm - dương, vậy nên buộc phải mặc nửa đen - nửa trắng, tượng trưng cho Hắc Bạch Vô Thường, còn cái khăn đỏ đeo trên cổ kia được nhuộm bởi chu sa (một loại khoáng thạch có màu đỏ), nhằm ngăn chặn những thứ tà quái theo về từ cõi âm.
Người “đi âm” đều là những nhân vật tai to mặt lớn, vô cùng tài giỏi. Lần này, một lúc nhiều người kéo đến như vậy, chắc hẳn nơi đây sắp có chuyện lớn xảy ra rồi.
Là người Đông Bắc, không ai là không biết Hoàng Đại Tiên (Chồn tinh), vậy nên, chẳng một ai cả gan, chán sống mà liều mình đi bắt chồn tinh cho họ cả.
Nhưng, Lại Bát Tự thì dám!
Bởi nhóm người đó đưa ra cái giá quá cao: một con chồn tinh, trả 50 tệ.
Ở thời điểm ấy, 50 tệ đáng giá ra sao?
Đầu năm ấy, có những khách sạn lớn của nhà nước kinh doanh rượu Mao Đài. Một bình rượu được gói ghém cẩn thận đã có thể khiến người ta một bước lên mây, ấy thế mà cũng chỉ cần có 8 hào!
Không hề khoa trương khi nói rằng, 50 tệ đủ để mua được vài mạng người!
Vả lại, ở chỗ chúng tôi, đặc biệt là những bãi tha ma nhiều mộ, thường có không ít chồn tinh nhảy loạn xạ hoành hành, thế nên có thể dễ dàng bắt gặp chúng. Nửa đêm đi ra ngoài, nhìn loáng thoáng đã có thể thấy rất nhiều đốm lửa sáng lập lòe, xanh xanh bay lơ lửng như ma trơi, đó chính là chồn tinh đi lại khắp nơi. Quả thực chẳng phải thứ gì quý hiếm!
Nhưng thứ nhóm người này muốn không chỉ đơn giản là chồn tinh, họ còn đưa ra một yêu cầu vô cùng dã man: Chồn tinh không những phải bắt sống, mà còn phải giày vò chúng đến c.hết theo cách họ chỉ dẫn.
Trong mắt tên Lại Bát Tự này chỉ có tiền, thế nên, không nghĩ ngợi gì nhiều, hắn lập tức bắt tay vào hành động.
Chồn tinh chỉ ăn đồ sống, vậy nên phải dùng những loại thịt sống tanh tưởi làm mồi dụ chúng.
Nhưng, loài vật này còn biết thu gọn người, dễ dàng chui lọt thỏm vào những cái lỗ nhỏ đúng kích cỡ một quả bóng bàn, vậy nên rất khó bắt.
Mùa đông đi bắt chồn tinh, phải đào một cái hố nghiêng với mặt đất, sâu khoảng 2 mét, chiều rộng ngang với cái chum nước, sau đó lấy mấy xô nước đổ chậm quanh khắp cái hố, thời tiết Đông Bắc lạnh giá sẽ khiến nước chẳng mấy mà đông cứng lại, vậy nên sẽ tạo thành một lớp băng mỏng trơn trượt, bất cứ loài vật nào rơi vào cũng khó mà trèo lên được.
Sau đó, vứt một con gà gô đen đã bị cắt cánh vào bên trong. Chồn tinh rất thích ăn loại gà này, do đó, một khi đánh hơi thấy mùi động vật mà mình ưa thích, chúng nhất định sẽ lao vào tìm mồi. Sau khi ăn no, chúng sẽ phát hiện bản thân từ lúc nào đã nằm gọn trong hố sâu, vào thì dễ mà ra thì khó, hơn nữa, còn bị bao quanh bởi một lớp băng trơn, ắt sẽ chẳng thể đào được đường khác thoát thân. Khi đó, có thể bắt chồn tinh một cách dễ dàng.
Hơn nữa điều này vừa hay có thể đảm bảo khi chồn tinh rơi xuống hố nhất định sẽ không c.hết, bởi đã có sẵn đồ ăn ở bên trong, thậm chí còn có thể sống sót qua vài ngày.
Những con chồn tinh rơi xuống đầu tiên đều là những con không chịu nổi cám dỗ từ món gà sống tươi ngon, đến khi nó phát hiện ra có điều bất ổn, sẽ bắt đầu kêu cứu, gọi những con chồn khác đến. Cứ như vậy, con này gọi con kia, chẳng bao lâu sau là đã có thể bắt sạch cả một đàn chồn tinh rồi.
Loại bẫy như vậy, trong giới thợ săn Đông Bắc còn được gọi là “hố tuyệt hộ”, người thường sẽ không dùng đến chúng. Cho dù có dùng, cũng chỉ bắt con lớn, thả những con nhỏ hoặc con cái, vì trong nghề đánh bắt cá hay thợ săn, đều xem trọng việc không đuổi cùng g.iết tận, như vậy, năm sau mới có con mồi mà săn bắt.
Còn Lại Bát Tự thì lại không để tâm đến mấy thứ như vậy, anh ta đào một lúc 5 - 6 cái hố tuyệt hộ ở bãi tha ma. Sau đó, chạy vạy khắp nơi xin xỏ mọi người, rồi thì bán cả cái nhẫn gia truyền ông bà để lại, mãi mới mua được 5 - 6 con gà gô đen vứt vào hố. Chỉ qua mấy ngày, hắn ta đã bắt được hơn mười mấy con chồn tinh cả lớn cả nhỏ.
Lại Bát Tự dùng gậy gỗ đánh ngất chúng, cho vào một cái bao tải, rồi huýt sáo mừng rỡ, chạy đến vứt cho nhóm người Quan Nội kia để đòi tiền.
Thế nhưng, mấy người đó lại lạnh lùng nói với anh ta, muốn lấy tiền, trước tiên phải tuân thủ ước định, hãy giày vò những con chồn tinh này đến c.hết!
Sau đó họ chỉ dẫn cụ thể cách tra tấn chúng.
Bước đầu tiên, phải lột da khi chúng còn sống.
Chồn tinh rất bé, thế nên lột da không hề dễ. Phải treo chúng lên cây, sau đó dùng một lưỡi dao sắc bén xẻo môi nó. Trước tiên, cẩn thận bóc tách lớp da trên đầu chúng, sau đó dùng hai tay kéo thật mạnh phần da đã lột xuống, như vậy là có thể lột xong một bộ da vô cùng hoàn chỉnh.
Bước thứ hai, cột chặt những con chồn tinh đã bị lột da m.áu me đầy người này trên đống lửa đang cháy nhỏ, từ từ nướng khô.
Trời Đông Bắc rét lạnh, chồn tinh lại mất lớp da sưởi ấm bên ngoài, chẳng mấy chốc sẽ bị cóng buốt. Hơn nữa, khi nướng trên đống lửa nhỏ, chúng cũng sẽ không thể c.hết ngay được, mà chỉ có thể giương mắt từ từ cảm nhận nỗi đau đớn, từng chút từng chút một cháy khô, cuối cùng trở thành một đống tro tàn.
Nghe đến đây, dù cho Lại Bát Tự có thèm tiền đến đâu đi nữa cũng chẳng dám xuống tay.
Việc này cũng kỳ quái quá rồi!
Làm như vậy, rõ ràng là muốn chồn tinh tích tụ nỗi oán hận ngút trời trước lúc c.hết. Đám người này, rốt cuộc muốn làm gì cơ chứ?
Họ cũng không giải thích gì thêm, kẻ cầm đầu đưa cho Lại Bát Tự một tờ bùa, bên trên có ghi bát tự của một người, còn dính thêm mấy sợi tóc, sau đó dặn anh ta phải đọc bát tự đó lên trước khi nướng c.hết chồn tinh.
Lại Bát Tự nghe vậy, kinh hãi đến mức hai tay xua liên hồi nói: “Chồn tinh tà quái lắm, ai dám làm như vậy chứ?! Thôi bỏ đi! Tôi không cần tiền của các người nữa, chồn tinh tôi cũng không lấy, mấy anh muốn làm gì thì làm!”
Vừa nói dứt câu, một xấp tiền dày cộp ném xuống chân anh ta, và ngay sau đó là một con dao sắc nhọn cắm phập vào xấp tiền kèm theo một tiếng quát lớn: “Làm cho tốt rồi cầm tiền biến đi! Nếu không, thứ bị nướng hôm nay chính là mày đấy!”
Chẳng còn cách nào khác, Lại Bát Tự đành cắn răng vác đám chồn tinh trở về và làm theo lời bọn họ nói, vừa định nhấc chân đi thì nhóm người liền vẫy lại, bảo anh nhặt xấp tiền kia mang về.
Lại Bát Tự cầm tiền trong tay, nhưng cũng chẳng dám về nhà, hốt hoảng chạy tới đập cửa nhà tôi, cầu xin cụ ngoại tôi cứu mạng.
Cụ ngoại tôi là người tộc Mãn, đồng thời cũng là thợ săn lâu năm ở nơi đây. Bắt hổ, săn gấu, g.iết sói trắng, chém thanh xà, cụ oai phong lẫm liệt, vang tiếng khắp vùng.
Cụ thường nói, một khi động vật ăn thịt người, thì cho dù có phải trả cái giá đắt đến cỡ nào, cũng nhất định phải đem người lục tung núi rừng, vây bắt, g.iết cho bằng được!
Đây không chỉ là quan niệm “g.iết người đền mạng”, mà quan trọng hơn cả, động vật già trong rừng đều đã thành tinh, nhất cử nhất động của con người, chúng đều nắm rõ. Nếu như cứ để mặc chúng tung hoành, phá phách, ăn thịt người mà không ai quản, vậy thì những con thú khác trong rừng cũng sẽ bắt chước mà làm theo, đến lúc ấy, thiên hạ sẽ loạn mất!
Sau khi nghe Lại Bát Tự lắp bắp kể lại đầu đuôi câu chuyện, cụ thở dài, cái tội ác tày trời này, ấy thế mà vẫn có đứa ngu ngốc phạm phải rồi!
Hoá ra khi ông còn trẻ, thiên hạ loạn lạc, rất nhiều cao nhân mai danh ẩn tính ở những vùng núi cao, rừng sâu. Cụ ngoại tôi lương thiện, thường xuyên tiếp tế cho họ chút rau, chút thịt mà ông săn được... Để báo đáp tấm lòng cụ, họ đã dạy lại cho cụ một chút thuật phong thuỷ.
Khi đó, một ông thầy phong thuỷ nói, một vài dãy núi có hình dạng đặc biệt, nom khá giống bộ phận cơ thể người đều thuộc dạng dãy núi phong thủy. Và ở vùng này, cũng có một ngọn núi như thế, hình dáng vô cùng đặc biệt, giống bàn tọa của con người, thích hợp làm nơi tu dưỡng linh khí cho bách yêu.
Người đó còn chỉ cho cụ tôi xem, quả thực rất giống cái bàn toạ, giống đến cả cái “nốt ruồi”. “Nốt ruồi” mà cụ nói thực ra chính là một quả đồi màu đen, bên trên còn mọc mấy khóm cây nhỏ nhỏ, dài dài. Đứng nhìn từ xa, trông giống như mấy sợi râu mọc lên từ nốt ruồi đen vậy, sống động như thật.
Nhưng nơi tu dưỡng linh khí rốt cuộc là gì, thì người kia lại không nói, chỉ nhắn lại với cụ tôi, sau này chắc chắn sẽ có hoạ lớn, rồi thuật lại cho cụ một phương pháp cứu thân.
Cụ tôi khi ấy cũng chẳng quá để tâm, nhưng nào ngờ rằng, mấy chục năm sau, “họa lớn” cũng đã đến!
Sau khi nghe Lại Bát Tự kể lể xong xuôi, cụ không hỏi thêm về con chồn, cũng chẳng hỏi kỹ về lai lịch của nhóm người kia, mà ngược lại, chỉ hỏi một việc dường như không mấy liên quan: “Số tiền nhóm người đó đưa, cháu đã động vào tí nào chưa?”
Lại Bát Tự cuống cuồng đáp: “Cháu nào có dám làm gì đâu, để nguyên, ôm đến tận đây.”
Cụ nghe vậy, bảo anh ta vứt xấp tiền xuống đất, còn mình thì tu một ngụm rượu mạnh, rồi phụt thẳng vào đống tiền. Trong chốc lát, mọi người cứ ngỡ bản thân bị hoa mắt, sao đống tiền đó đột nhiên lại đổi màu rồi?
Nhìn kỹ lại lần nữa, chỗ tiền đó quả thực đã chuyển thành màu xanh, bên trên còn in hình diêm vương. Rõ ràng đây là tiền đốt cho người c.hết!
Cụ tôi thở dài một tiếng: “Đây là tiền mua mạng, may mà cháu còn chưa động vào! Nếu không, bây giờ đã thành q.uỷ rồi.”
Lại Bát Tự không nhịn được mà hỏi: “Tại sao lũ người kia không g.iết cháu luôn? Còn phải bày ra trò này?”
Cụ tôi lại thở dài: “Một khi nhóm người đó ra tay g.iết thì cháu sẽ chẳng có liên quan gì đến bọn chúng nữa. Nhưng, khi cháu đã cầm tiền mua mạng, thì nhất định sẽ biến thành “quỷ nô”, đi theo phục vụ họ. Nhóm người này, là đang đi tu “quỷ tiên”!”
Sau đó cụ lại hỏi: “Bát tự họ bảo cháu đọc, còn nhớ không?”
Lại Bát Tự gật đầu, cả chiều nay, anh ta đã đọc đi đọc lại đến cả mấy chục lần, vậy nên vẫn nhớ rõ như in, vội vàng đọc lại một lần nữa cho cụ tôi nghe.
Vừa nghe xong, cụ ông với đôi mắt trước nay vốn tèm nhèm vì tuổi già, nay bỗng gắng trợn mắt, đứng phắt dậy, ném ấm trà bên cạnh xuống đất, vỡ tan thành nhiều mảnh.
Cụ quát lớn: “Đám người Nam Cương này đ.iên rồi sao? Chuyện “Bách q.ủy táng thiên thai” mà cũng dám làm, không lẽ chúng muốn xưng vua sao?!”
Khi đó tôi còn nhỏ, không biết “Bách q.ủy táng thiên thai” là gì.
Nhưng sau này, khi đã quen được nhiều vị cao nhân, đồng thời cũng cất công nghiên cứu một chút “Chu dịch”, thì mới có thể hiểu được ý nghĩa của câu nói này.
Người xưa có câu: “Nhất mệnh, nhì vận, tam phong thuỷ” cũng chính là để nói về điều này.
“Nhất mệnh” khá đơn giản, nếu bạn sinh ra trong Hoàng tộc, chỉ cần không hoang d.âm vô độ, ít nhất cũng sẽ được làm một Vương gia tự do, tự tại. Nếu bạn sinh ra ở nơi rừng thiêng nước đ.ộc, cho dù có cố gắng đến mấy, cũng chỉ có thể làm một người thợ săn được nhiều người trong thôn nhỏ kính trọng mà thôi.
Vậy nên, số mệnh của bản thân tuyệt nhiên không thể thay đổi, ông trời ban cho bạn, tốt hay xấu thì cũng phải chịu lấy. Đây cũng là sự thật, dù là ai đi nữa cũng không thể lựa chọn xuất thân của mình, sinh ra là thế nào thì sẽ là như vậy.
Nhưng “vận” và “phong thuỷ” thì lại khác.
“Nhì vận” có chút phức tạp, ý chỉ vận thế, một điều rất thần bí.
Vận thế là biến số lớn nhất trong đời người. Ví như 10 năm trước, bạn có một khoản tiền, bạn có thể chọn ăn chơi nhảy múa tiêu hết chúng, nhưng cũng có thể đổ vào xổ số hay cổ phiếu, hoặc cũng có khi đem đi mua nhà. Mua nhà lại có nhiều lựa chọn khác, mua nhà ở Bắc Kinh hay ở chốn làng quê. Sau 10 năm, có thể sự lựa chọn ấy sẽ đem lại một cuộc sống hoàn toàn khác cho bạn.
Cứ 10 năm, vận thế lại xoay chuyển một lần, chỉ là thời gian bắt đầu không giống nhau, mà vận thế mỗi người lại riêng và khác biệt.
“Tam phong thuỷ” còn rối rắm gấp bội lần.
Nhiều người nói về phong thuỷ một cách mơ hồ, giống như một thứ chỉ có trong sách trời vậy. Hồi trước tôi có gặp được mấy cao nhân về phong thuỷ, họ lại nói, phong thuỷ thực ra rất đơn giản, không hề cao siêu như người ta thường nói, ngược lại đây còn là một bộ môn khoa học, hoàn toàn có thể giải thích được.
Vậy ba điều này có liên quan gì tới “Bách q.ủy táng thiên thai?”
Thứ gọi là “thiên thai”, chính là chỉ người có số mệnh tốt nhất, vận khí vượng nhất, hơn nữa còn tồn tại ở nơi có phong thuỷ tốt nhất.
Theo như sách nói, người như vậy thường có sao Tử Vi, mang số làm Hoàng Đế.
Vậy nên từ đó mới sinh ra một loại tà pháp kỳ quái mang tên “Đoạt mệnh”. Chính là việc có người tính ra được ai sinh ra đã có “thiên mệnh”, sau đó dùng các loại tà thuật, thay đổi trời đất để hoán đổi phúc mệnh, đoạt lấy “thiên thai” của người khác, dồn hết về mình.
Nhóm người này g.iết chồn tinh, dùng sự oán h.ận tột cùng của chồn tinh để “xung” mất “thiên thai” linh khí của người khác, đợi đến khi thiên thai rơi vào chốn bụi trần, chúng sẽ đến đoạt.
Thứ gọi là “Bách q.ủy táng thiên thai” chính là dùng 100 loại linh thú để “xung” thiên thai. Hành hạ, giày vò 100 con chồn tinh này cũng chỉ là 1 trong số 100 loại linh thú mà thôi.
Cụ tôi khi đó nghe thấy cái tên theo Bát Tự này lấy làm lạ nên đã hỏi liền mấy câu, người cao nhân kia đáp rằng, đây là cách hoán đổi phúc mệnh từ thời xa xưa lưu truyền lại, do Khương Tử Nha sáng tạo ra, đời sau Võ Tắc Thiên cũng từng dùng, “Binh biến Trần Kiều” thực ra cũng là một cách làm khác của “Bách q.ủy táng thiên thai”.
Cụ tôi thở dài, lần nào dùng đến nếu không phải trời đất thay đổi, thì cũng m.áu đổ thành sông, “thiên” này, vẫn là không nên động đến thì hơn.
Sau đó vị cao nhân kia dạy cụ tôi một cách để phá giải “Bách q.ủy táng thiên thai”.
Phương pháp này, thực ra cũng chẳng phải chiêu thức tốt đẹp gì.
Nói ra cũng đơn giản, “Bách q.ủy táng thiên thai” phải g.iết hại 100 loài linh thú, tích tụ oán khí mới có thể thực hiện được, vậy thì bây giờ, ta đi báo trước cho những loài sinh vật khác, nhắc nhở chúng cẩn thận lũ người kia.
Vậy nên cụ tôi nói với Lại Bát Tự rằng, muốn sống thì phải nhanh chóng chạy đến bãi tha ma, trên đầu cắm 3 cây hương, chân đi giày cây bấc, quỳ xuống thỉnh tội, nhất định phải thành khẩn, khóc lóc dập đầu, cầu xin sự khoan dung độ lượng của chồn tinh.
Lại Bát Tự sợ xanh mặt, đồng ý ngay, hứa nhất định sẽ làm theo, lại định dập đầu tạ ơn cứu mạng của cụ.
Cụ tôi không nhận cái dập đầu đó, song bởi không từ chối được, liền bảo tôi với anh ta quỳ đối diện nhau, dập đầu lại mấy cái với anh ta coi như đáp lễ.
Sau khi Lại Bát Tự đi mất, tôi hỏi cụ: “Sao lại muốn con dập đầu với anh ta ạ?”
Cụ tôi thở dài nói: “Ta không nhận được cái dập đầu của người c.hết. Người này ấy, không sống được bao lâu nữa đâu. Mà người sống không được nợ người c.hết, không thì phiền phức to.”
Khi đó tôi giật mình, bởi khi nãy lúc cụ bảo tôi đáp lễ, do coi thường anh ta, nên tôi đã dập thiếu mất một cái. Kết quả, vì một cái dập đầu thiếu đó, mà tự tôi đã rước không ít hoạ vào thân.
Ngày hôm sau, mọi người đột nhiên phát hiện Lại Bát Tự c.hết trong tư thế vô cùng kỳ dị, anh ta quỳ ngay ngắn trước một cái mộ cổ, khoé miệng nở nụ cười quái lạ.
Sau đó, đám người Quan Nội kia cũng vội vàng lên núi ngay trong đêm, nhưng không một ai sống sót trở về.
Đám chồn tinh trước nay vốn thường thấy xuất hiện ở khu mộ cổ đó, về sau cũng không thấy bóng dáng đâu nữa.
Còn về Lại Bát Tự, cụ tôi tự mình tổ chức hậu sự cho anh ta, tất cả người trong thôn cùng đến tham dự. Tang lễ tổ chức rất trang trọng, chỉ riêng rượu Mao Đài đổ lên mộ cũng đã tới 15- 25 lít.
Chỉ có tôi là vẫn nơm nớp lo sợ, bởi, tôi luôn cảm thấy, nụ cười kỳ quái khi c.hết của anh ta là dành cho tôi.
Sau đó, mọi việc ngày một trở nên kỳ lạ.
Mấy ngày sau khi hạ táng Lại Bát Tử, tôi đang ăn cơm, bỗng nhiên giật mình, quỳ trước cái bếp, sau đó m.áu mũi chảy không ngừng, làm cách nào cũng không cầm lại được.
Cụ tôi thấy vậy, sốt sắng nói rằng đây là chồn tinh đổi mạng, vả lại còn là loại đổi mạng m.áu đáng sợ nhất.
Con chồn tinh này tìm một cái gậy gỗ, cứ như vậy mà chọc thẳng vào lỗ mũi, một phát đâm lên tận não, bây giờ mới chỉ chảy m.áu mũi, một lúc nữa thôi sẽ “chảy” cả não ra.
Mối thù mấy đời mới thành ra cay độc đến vậy, xem ra tên Lại Bát Tử hận chúng tôi không cứu hắn, cộng thêm việc tôi nợ hắn một cái dập đầu, vậy nên mới đem hết nỗi oán h.ận trút lên đầu tôi, khiến chồn tinh báo thù cả tôi.
Cụ tôi nói, chồn tinh đổi mạng chưa chạy bao xa, chắc chắn vẫn còn trốn quanh đây, cụ bảo mọi người châm lửa, phải đốt hết từ trong nhà đến cây cỏ xung quanh, phải đốt c.hết con chồn tinh này.
Sau đó cụ thắp hương đốt mã, cắt tay lấy m.áu, thề với trời, nếu cháu ngoại lần này xảy ra chuyện, cụ cũng sẽ cược mạng sống của cả nhà, đem dầu lên đốt hết núi rừng, toàn bộ sinh vật trên núi cũng phải tuẫn táng (mai táng) theo cháu cụ.
Chưa nói hết câu, từ trên trần nhà đã rơi xuống một con chồn tinh trụi lông, mũi chảy đầy m.áu, giãy giụa mấy cái dưới đất rồi gục c.hết.
Gần như ngay khắc ấy, m.áu mũi tôi cũng ngưng không chảy nữa, dần tỉnh lại.
Hàng xóm xung quanh thấy tôi không sao, vội vàng gọi người đến dập lửa, nhưng lại bị cụ tôi cản lại, cụ đứng trong đêm tối, nhìn đám cháy và ngọn núi xa xa, cứ như vậy cả đêm.
Ngày hôm sau, cụ gọi điện về cho mẹ tôi, bảo mẹ mau đến đón tôi về Giang Tô, cấm không được về thăm hay thờ cúng.
Ba tháng sau, cụ mất.
Theo như lời mẹ kể, một tuần trước khi đi, cụ tuyệt thực, cả người khô quắt lại như quả óc chó, giống một con chồn tinh bị cháy khô.
Cả nhà thuận theo di nguyện cụ để lại, sau khi cụ mất không được an táng bất cứ thứ gì theo, không làm quan tài gỗ, không mặc quần áo, cứ vậy mà hạ táng trên ngọn núi hình bàn tọa có nốt ruồi đen kia.
Thỉnh theo di nguyện lúc còn sống, tôi chưa từng thờ cúng cụ.
Không những không thờ cúng, dần dần tôi cũng quên luôn cả hình bóng cụ.
7 - 8 năm trước, tôi đi chùa Pháp Nguyên ở Bắc Kinh, một lão cư sĩ trông vô cùng hiền từ, cứ nhìn tôi mà cười, còn chắp tay chào tôi.
Tôi tò mò, liền chạy đến nói chuyện.
Ông nói: “Cậu là một người có phúc khí lớn, chắc hẳn có một vị trưởng bối rất yêu thương, vẫn luôn phù hộ cho cậu.”
Tôi nghĩ lại rất lâu mới nhớ đến cụ, liền kể lại cho cư sĩ về câu chuyện năm đó.
Vị cư sĩ thở dài, nói năm đó cụ tôi đã lập lời thề m.áu, dùng lời “lăn dầu đốt núi” ép sơn thần ra tay cứu giúp mới g.iết c.hết được con chồn tinh đổi mạng kia, nhưng cũng vì thế mà không thể tránh khỏi nhân quả sâu đậm.
Để tránh liên lụy đến con cháu, cụ tuyệt thực mà c.hết, lại dùng cách hạ táng không mặc quần áo trên người, muốn kết thúc mối nhân quả này. Nhưng dùng lời thề độc như vậy, làm gì có chuyện một người c.hết đã có thể xoa dịu trời đất?
Ông hỏi tôi: “Cậu có một người chú nữa cũng mất sớm đúng không?”
Tôi gật đầu, chú hai tôi hồi trẻ t.ự s.át, lúc hơn 20 tuổi, cũng c.hết một cách rất kỳ lạ.
Vị cư sĩ già thở dài nói: “Cậu phải sống cho tốt, vị trưởng bối này rất lo cho cậu, ông ấy vẫn luôn bên cạnh, âm thầm phù hộ, che chở cậu.”
Nước mắt tôi tuôn rơi lã chã, buổi hoàng hôn hôm đó, tôi khóc nấc như đứa trẻ mất đi tất cả!
Tôi không tin vào Phật, nhưng vẫn rất thành khẩn quỳ trước Tam Bảo, quyên góp cho chùa Pháp Nguyên 200 nghìn tệ, hy vọng họ có thể làm một pháp hội, lập bia tiền kiếp, thắp đèn trường minh cho cụ, mong rằng cụ có thể yên tâm rời đi, sớm ngày về miền cực lạc.
Cụ rời xa tôi cũng đã hơn 30 năm rồi.
Con nhớ cụ lắm, cụ ơi…!
-HẾT-
___________________
Chào Tháng Cô Hồn cùng series "Những câu chuyện dân gian thần bí"