Lên Chùa Khấn Phật
Tác giả: Tiếu Ngạo Dư Sinh
“Một khấn cầu duyên
Hai vái tác hợp
Ba lạy lệ hoen”
Phật hỏi: “Kiếp này định sẵn con và y vô duyên. Ứng hay không ứng?”
Tôi nói: “Đức Phật từ bi, con quỳ kính dâng tâm. Ba cõi chẳng ai bằng nguyện đổi một kiếp phu phụ sắt son.”
***
Trước khi gặp chàng, tôi là con gái cả của nhà phú hộ làng bên. Thầy u thương tôi, đặt tên độc một chữ “Chiêu”.
Nhưng cuộc đời tôi nào có được như tên, trời ghen trời tỵ trời thêm chút lận đận điểm xuyết chút chông gai.
Có chăng đã là “cậu ấm, cô chiêu” còn cầu thêm “Chiêu” nên định sẵn điềm dữ hay không?
Năm tôi lên mười, thầy u mời một thầy pháp cao tay nhất một vùng về xem số mệnh cho tôi. Vàng, bạc, châu báu đổ ra nhiều vô số kể mới mời được thầy tới cửa xem cho một quẻ.
Đợi mãi, đợi hoài, rốt cục lại đợi được ngày thầy phán tôi mệnh yểu, phải lấy chồng sớm tuổi cập kê để trấn áp xui xẻo. Năm đó lòng tôi nào đã nổi tơ vương với chàng, âu cũng là do ông trời khéo sắp đặt.
Thầy u xót tôi nào chịu được đả kích như vậy, u khóc ngắn than dài, thầy tôi thở dài thườn thượt vận
tà áo dài ngũ thân, khăn đóng chặt nhọc công một phen đi cầu rể.
Ngày chia tay bến sông, tôi và u không ngờ thầy lại kiếm được người đồng ý hôn sự nhanh đến vậy, nước mắt u rơi còn chưa kịp khô đã phải cười lộ lúm đồng điếu.
Nghe đâu, chàng rể thầy lựa cho tôi bát tự vừa hay tương hỗ, bấm mệnh Đông Tây Tứ Trạch lại may rơi ngay chữ hoà. Thầy tôi trở về chung trà nóng uống được phân nửa đã bị u lôi kéo đi chuẩn bị sính lễ rượu, chè, trầu, cau đủ cả. Tôi tớ trong nhà cũng được một dịp bận rộn ra mặt.
Ngẫm cũng lạ, thầy u nóng lòng đến nỗi lễ nạp thái không có thì thôi đi, ngay cả đôi chim nhạn thưa chuyện cũng do nhà tôi chuẩn bị nốt.
Nhưng tôi nào muốn lấy chồng. Rồi cũng có ngày u dòm thấy đường mày đuôi mắt chau sắp sát vào nhau của tôi mới vỡ lẽ đôi trai trẻ gái thơ chưa hề tương ngộ.
U thấy tôi buồn mà thương thay, mặc thầy lắc đầu ngao ngán vẫn quyết dẫn tôi vượt sông sang gặp đức ông chồng hứa gả.
Trước khi khởi hành, u đã dặn tôi con gái con nứa phải dịu dàng nết na chớ đừng làm thầy u mất mặt. Tôi nhoẻn miệng cười gật đầu cái rụp. Với tôi khoảnh khắc đó tim nào đã bồi hồi đập xốn xang như đi gặp tình lang. Cùng lắm chỉ lộ ra sắc xuân vì được u dắt rời làng đi vui thú mà thôi.
Nhưng khốn nổi tình đời rắc rối, sau ngày hôm đó chàng giăng bủa sợi tơ trong tôi mất rồi.
Bà vú trong nhà hay tin tôi sắp đi gặp người sẽ là trời là bể, là niềm vui nỗi buồn sau này mắt đã rưng rưng chực trào. Nhưng khóc thì khóc vẫn không quên sai tôi tớ chuẩn bị áo tứ thân buộc vạt bằng vải gấm thượng hạng cho tôi.
Hàng cau dưới nắng trong ngả nghiêng tiễn tôi lên đường. U sợ tôi ham vui thất thố lại hỏng chuyện nên sắm cho cái nón ba tầm to vành che lấp khuôn mặt.
Thầy bảo đức chồng tôi là người làng bên, cách nhau chỉ một con sông. Hoá ra là ấm tử thật.
Nhà họ quyền quý nhưng của ăn của để lại không bằng nhà tôi.
Từ sớm tinh mơ tiếng gà gọi, người ăn kẻ ở đã được sai bảo nhen bếp lửa hồng sửa soạn đồ lễ cho gia chủ lên chùa dâng hương. U tôi hay tin gần xa mới toan dắt tôi tới cửa Phật dòm ý trung nhân.
Ngôi chùa nọ nằm trên đỉnh núi, non xanh nước biếc hoạ sắc nhưng đường đi lên lại chông chênh vô cùng.
Tôi thầm đoán có lẽ phải linh thiêng lắm nhà chồng tôi mới không quản chuyện đường xá xa xôi mà bái Phật cầu an.
Tăng ni phật tử lầm tưởng chúng tôi là lữ khách phương xa, đi ngang tiện ghé dạo một vòng chùa chiền nên rất nhiệt tình tiếp đón.
Dưới bóng cây bồ đề ngả nghiêng, tôi “giác ngộ” chữ tình luyến lưu.
Chàng đứng đó, vận áo dài the cài khuy, đầu quấn khăn xếp nhã nhặn nổi bật giữa đám tôi tớ bưng lễ dài từ ngoài cổng đến tận thềm chính. Trong tiếng gõ mõ cốc cốc cùng tiếng kinh huyền diệu, u tôi kìm lòng không được thốt lên:
“Chiêu, trông thấy chưa? Người sau này là chồng của con đấy!”
Tôi gật gật dõi theo dáng chàng ba quỳ chín lạy dâng hương. Tà áo dài the, quần gấm đen chàng bận nào còn thẳng thớm, sạch sẽ nữa đâu nhưng sao vương bụi trần gian vẫn ưa nhìn đến vậy.
Khi nghi lễ đã qua, chàng hỏi han đôi điều cùng phương trượng chủ trì chùa. Chẳng biết là vô tình hay cố ý, chàng nhìn sang gốc cây bồ đề tôi đứng.
Tôi nhìn Đức Phật ngự trên cao, chắp tay quỳ xuống, cúi lạy ba lần.
“Kính lạy Đấng Thế Tôn, lòng con nguyện sắt son, thành tâm cầu chữ duyên.”
Lúc ngẩng đầu lên, không biết có phải do choáng váng hay không, dường như trông thấy ngài cười đầy hiền từ.
Ai cũng thấy nhà bên cưới được tôi thật hời, lục lễ chỉ làm qua loa hai lễ, sính lễ mang tới lèo tèo vài ba món cũng được thầy u mắt nhắm mắt mở phẩy tay cho qua.
Thầy u khuyên tôi, không cần uỷ khuất.
Tôi không hề thấy thiệt thòi chỗ nào nhưng cõi lòng lại buồn vui lẫn lộn. Đằng trai cùng thầy u bàn tới tính lui, ngẫm tuổi tôi còn quá bé để diễn ra đêm tân hôn. Nhưng thầy bói đã chỉ tôi mệnh yểu kiểu nào cũng phải gả ra khỏi cửa sớm. Thôi thì cứ sang làm dâu trước, làm vợ sau.
Sính lễ nhà chàng không là bao nhưng mâm vàng, mâm bạc nhà tôi lại nặng trĩu tay kẻ hầu, người hạ. Xem ra, lần này không gả không xong.
U tôi nước mắt lưng tròng trong ngày thân nghinh, u bảo hủ tục phong kiến thì nhiều, lấy cậu ba nhà bên không phải làm dâu cả sau nhẹ gánh chuyện thờ cúng, hương khói tổ tiên. Âu cũng là cái phúc cái phận.
Thầy tôi toan mắng cho nhưng cũng xót con gái gả sớm, cuối cùng chỉ xoa đầu dặn:
“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
Thầy u trao tôi tận tay nhà chồng, tôi đứng ngay cửa dõi đoàn người khuất xa. Hai làng chỉ cách nhau một con sông, nhưng nào có chiếc cầu nào nối bờ sông. Lễ giáo xưa đặt nặng tam tòng, tứ đức, tôi đâu thể trẻ con như trước muốn là lên thuyền về nhà mẹ đẻ.
Tôi gặp chàng dưới mí mắt Đức Phật nên từ ngày về làm dâu cũng hình thành thói quen thờ cúng trong biệt phủ riêng. Tiếc lắm thay, hết thảy tượng phật tôi thờ, kinh thư tôi tụng cũng không đổi được cái quay đầu từ chàng. Thôi thì thôi, tôi cầu thay chàng vậy.
“Cửa Phật từ bi, đời là cõi tạm, kiếp người trôi mau. Mong chàng được như ý.”
Phật cười hiền từ không tỏ có đồng ý hay chăng.
Nhà chồng tôi gần ngay bến sông, ngày ngày tôi cùng người hầu dâng hương lên chùa. Chúng tôi tớ đều thì thầm vào tai ông chồng tôi thế này, ông chồng tôi thế kia, còn hỏi sao mợ Ba không bận lòng.
Kể ra tôi sắm vai vợ hờ cũng đã vài năm, kẻ hầu người hạ nói ra nói vào không đáng nhắc, nhưng đến người ngoài cũng thầm chỉ trỏ mợ Ba ngu xuẩn.
Tôi cũng biết, biết hết đấy nhưng lực bất tòng tâm. Tôi nào quản được tâm tư chàng tơ vương vườn hồng nhà khác.
Chàng dù cho có phụ lòng tôi thì cũng là đức ông chồng, là trời là bể là đường sống, lẽ đời tôi. Cho nên tôi quyết nhọc lòng một phen. Bà vú trong nhà biết tôi định gặp ý trung nhân của chàng với thân phận vợ cả thì hết lời can ngăn. Ai cũng hỏi tôi sao phải tội tình vậy?
Thị nom đẩy đà lại phong tình hơn tôi nhiều, có lẽ đó là kiểu con gái chàng thích. Đâu có phải lầm lì suốt ngày tụng kinh gõ mõ như tôi.
Thị cười rộ lên thật đẹp:
“Mợ Ba không ngờ lại có lòng đi hỏi vợ lẻ cho đấng chồng đến vậy.”
Mắt tôi sáng lên, gật đầu mạnh hơn nữa. Chỉ mong thị hiểu lòng tôi, chung sống hoà bình. Tâm tôi thiện lương, một nhà hạnh phúc là đủ.
Thầy u tôi biết vợ chồng trên danh dưới không thuận, khuyên tôi hay là rút sính lễ, chịu tai tiếng một chút còn đỡ hơn là khổ ai cả đời.
Năm đó, đằng trong đằng ngoài chiến tranh liên miên, nhà phú hộ tôi cũng lao đao không ít, đâu giống nhà chồng tôi vào triều làm quan. Thầy u hỏi tôi có nguyện lòng đi theo không, dứt áo bán hết ruộng đất tới nơi khác lập canh. Tôi cắn răng, nhớ tới vầng hào quang sáng lóa trên vầng trán chàng trong lần đầu gặp gỡ dưới bóng cây bồ đề mà lắc đầu trong lệ.
Rồi một đêm sáng trăng, tuổi đã chớm nở rộ, thầy mẹ trong nhà giục chúng tôi động phòng. Bà cả chưa ra bà cả sao nhập bà hai, bà ba được, đó cũng là một đạo lý.
Tôi và chàng trên danh nghĩa là vợ chồng đã lâu nhưng vẫn ngủ riêng, đêm tân hôn coi như cũng là thủ tục nhập phòng.
Xưa nay chàng xem tôi như không khí đã thành quen nhưng đêm đó chàng không đụng vào tôi đã đành còn phẫn nộ chất vấn:
“Cô tuổi còn nhỏ đã ác độc như loài rắn rết. Sao cô dám nói nàng ấy cùng đinh mạt hạng, khố rách áo ôm?”
Cánh cửa phòng đóng rầm trước mặt, tôi còn chưa hết ngỡ ngàng, tôi nhớ đâu nói những lời khó nghe như vậy với thị ta. Không hiểu thị ta nghe như thế nào lại ra được ý đó.
Người hầu kẻ hạ càng được nước bàn tán rộn ràng cả lên, đồn tới đồn lui mợ Ba khóc bù lu bù loa ướt đẫm cả gối nằm.
Bà mẹ chồng tôi nào đâu chịu để yên, cho gọi tôi tới thị uy. Tôi nghe đến rưng rưng cả mắt mới được thả về.
Hoá ra chồng tôi thưa chuyện không thể chạm vào tôi, đó có khác nào nỗi nhục, thầy u tôi nghe được chắc khóc hết nước mắt mất. Mẹ chồng sợ tôi nghĩ quẩn toan tự vẫn, xưa nay nào có chuyện trả dâu, còn trả muộn hẳn mấy năm.
Tôi chỉ sợ không chết trong lời dè bỉu của người đời, thầy u cũng ngã bệnh vì khổ tâm.
Tôi thương thầy u lắm thay, nhưng có chăng là tôi lo xa quá, sính lễ năm xưa nhà tôi chuẩn bị nhà họ tiêu pha không còn một cắc bạc lẻ, giờ trả dâu thì dễ, trả lễ lại không đành. Người đi kẻ lại trong nhà thêm cô vợ hờ cũng không thiệt là bao.
Nhưng ông chồng tôi đâu giống năm đó nữa, đâu chịu nghe theo sự sắp đặt của trưởng bối trong nhà. Ngày chàng khuơ chiêng gõ trống đón thị về, chàng đã tận tay viết hưu thư bắt ép tôi nhận. Hủ tục phong kiến nặng nề, tôi dù có trăm ngàn cái miệng cũng không bằng câu “bỏ thê” của chàng.
Tà áo chàng tung bay trước mắt tôi. Cứ thế kẻ hầu người hạ lôi hết đồ đạc tôi ra khỏi nhà. Hàng cau xanh mơn mởn trĩu buồng giờ chỉ sơ xác tiễn biệt.
Người đời hỏi tôi có oán không? Từ lần đầu gặp gỡ tôi liền hiểu kiếp này đã định sẵn trả nợ cho chàng, ai oán gì cho dư thừa.
Tôi chuyển tới tiểu viện gần ngôi chùa se duyên cho chúng tôi. Đạo Phật thâm sâu, có lường trước được mối lương duyên kết nhầm không?
Âm thanh xào xạc quét lá của chú tiểu buồn đến thê lương, khó mà giữ được thanh tịnh trong tâm hồn.
A Di Đà Phật, Phật A Di Đà…
Đời là bể khổ mênh mông, khéo nương phật pháp thoát đường trầm luân...
Nhưng ở đời có mấy ai được toại nguyện tất thảy.
Vài cuốn kinh thư, một sân đầy lá bồ đề cũng không cầu nổi chàng bình an một đời.
Phương trượng trong chùa biết lòng tôi còn vướng bận, mới cho hay dưới núi dịch bệnh tràn lan, người chết la liệt.
Tôi đối với hồng trần tâm không còn vương nhưng duy chỉ đối với chàng lại quyến luyến không nỡ. Nước mắt chảy dài, dập đầu cảm tạ rồi run rẩy xuống núi.
Đường tôi về cỏ dại mọc đầy hai bên, thành trì hoang sơ. Dân làng đồn nhau có ma có quỷ vùi dập, hết cúng hết bái lại đốt lễ cũng không ngăn được bệnh lạ. Hỏi thầy thuốc trong làng đâu hết cả rồi, mới vỡ lẽ ôm đống thuốc thang, của cải sang làng khác lánh nạn cả rồi.
Trước kia người ta nói mợ Ba ngu si quản không được ông chồng còn bị đuổi ra khỏi cửa, giờ mà hay tin tôi danh không chính ngôn không thuận về chăm sóc chồng cũ bệnh không biết còn sỉ vả tới mức nào.
Chàng trông thấy tôi, bệnh nặng lắm rồi nhưng nào còn sức mắng sức đuổi:
“Sao lại là cô?”
Cả gia tộc hay tin làng mắc dịch bệnh, lên xe ngựa rời đi trong đêm. Chàng sốt li bì mấy ngày, thầy mẹ cắt cử vài tên hầu ở lại chăm sóc nhưng bọn chúng nhân lúc khốn khó vơ vét tài sản. Thật là lũ không có tình người.
Rồi có một đêm mưa tầm tã, chàng sốt đến mụ mị đầu óc, nắm tay tôi chặt gọi tên thị. Đêm đó, tôi thức trắng đêm ngồi nhìn chàng.
Trước khi về làm vợ chàng, tôi đi tới đâu tôi tớ theo sau không rời nửa bước. Giờ đây đổi lại, tôi bước một bước, người hầu của thị cản tôi hai bước. Âu thời thế thay đổi nhanh như vũ bão.
Thầy u thương tôi, của dành cho tôi cũng nhiều, chỉ là từ khi lên chùa tập quen sống giản dị, đạm bạc cho nên cũng không cần kẻ hầu người hạ như trước.
Thị sợ tôi lây bệnh cho thị, khăn voan che trước mũi, còn xua tôi như xua tà:
“Chồng cô trả lại cho cô.”
Chồng tôi nhưng trái tim chàng đâu ở nơi tôi. Tôi vì chàng lại lặn lội đường xa leo núi gặp sư thầy hỏi xin cách cứu chữa. Sư thầy chắp tay, lắc đầu.
“Sắc thắm liên hoa ngát lòng người.” (***)
Tôi nghe vậy vội vội vàng vàng xuống núi mang hết tài sản sẵn có phổ độ chúng sanh, phát gạo cho dân làng qua cơn đói khát tích đức thay chàng.
Hiếm lắm chàng mới chịu bắt chuyện cùng tôi:
“Cô có vẻ tin thần tin phật.”
Tôi nắm chặt tràng hạt, chỉ biết cười:
“Phật cho em kiếp này, cớ gì lại không tin?”
Thì mê rồi phải ngộ, còn hơn cả thần, cả Phật Tổ, là chàng, chàng liệu có tin chăng?
Tôi nhìn tượng Phật, vội lau giọt nước hoen mi. Phật duyên thâm sâu, tôi nào có phúc phận được trời độ, cố chấp nương nhờ cửa Phật nên duyên cùng chàng.
“Đức Phật trên cao, từ bi đại lượng, con chân thành chắp tay cầu chàng tai qua nạn khỏi.”
Chàng và tôi phu phụ vài năm, xa cách vài năm. Chuyện đời luẩn quẩn quay lại sớm tối dưới một mái nhà. Chỉ là lần này tôi không xong rồi, thật không xong rồi.
“Chàng là người vô thần, nhưng ở đời có tín ngưỡng làm niềm tin cũng tốt mà”
Chăm chàng đến khi xuống giường được cũng là lúc tôi đổ bệnh. Tôi xuống bếp bưng nước hầu hạ chàng không than một câu nhưng đến lúc sốt cao lại không muốn chàng lại gần. Tôi cãi cùn cùng chàng, nói chàng năm xưa bỏ qua tôi, kiếp này định sẵn qua rồi.
Chàng quay đầu lại, nhìn bức tượng Phật bên trong:
“Nếu lần này em sống, tôi nguyện thờ thần cúng Phật.”
Tôi ngỡ bản thân sốt cao quá sinh ra ảo tưởng. Muốn hỏi chàng một câu, kiếp này tôi trả chàng đã đủ chưa? Nhưng cuống họng khàn khàn không phát nổi âm thanh.
Hàng cau ngoài hiên xác xơ đến thảm, tôi nhìn chàng, không còn thấy vầng hào quang đến lóa cả mắt nhưng vẫn là chấp niệm cả đời tôi:
“Chàng đã từng thương em chưa? Dù chỉ một lần nhỏ nhoi trong suốt bao năm quen biết.”
Chàng hé miệng nhưng vẫn không nói lời nào. Tôi hiểu, hiểu hết chứ. Chuyện tình cảm đâu thể một hai ngày kề cận liền có thể nói thích. Chàng thẳng thắn như vậy thật không uổng công tôi u mê một thuở nhưng lòng không ngăn được bâng khuâng ngậm ngùi.
Tôi mệt đến nỗi thở dài cũng thấy đau, kỳ thực biết là uổng công vẫn cố chấp gặng hỏi. Tôi nhắm nghiền mắt:
“Thôi thì thôi vậy.”
Chàng khẽ gọi tên tôi, từ lần chàng đưa hưu thư tôi mới hay chàng còn biết đến tên mình:
“Chiêu, kiếp sau chờ ta.”
Sinh tử luân hồi. Hắc Bạch Vô Thường hiện ra từ cõi hư không, chàng không hay tôi đã xuất hồn khỏi xác vẫn nắm tay tôi nói đôi ba câu. Lúc tôi còn sống không chịu nói với tôi nhiều một chút, giờ tiếc lắm thay, tôi chẳng nghe chàng nói được nữa.
Tôi được áp giải tới cầu Nại Hà, ranh giới cuối cùng của địa ngục. Mạnh Bà hỏi tôi có uống canh không, tôi thầm nghĩ kiếp này trả cho chàng cũng xong rồi, chờ đợi làm gì, khéo lại nhìn thấy chàng tay trong tay thị ta xuống đầu thai lĩnh kiếp lại dở khóc dở cười.
Tôi uống cạn chén canh, quên đi một kiếp, lại luân hồi một kiếp. Chỉ là chẳng hiểu cớ sao, kiếp trước trả nợ chàng lận đận tình duyên không nói đến kiếp sau lại ứng vào vô tâm vô phế, lãnh đạm duyên trần.
Tôi mang một bụng uỷ khuất bước xuống hoàng tuyền lần nữa, chàng chắp tay sau lưng, trông thấy tôi mắt bỗng ánh lên.
Chàng phất tay áo, hỏi:
“Cớ sao không chờ?”
Chàng đột nhiên hỏi vậy, làm tôi ngẩn ngơ một hồi lâu:
“Tưởng chàng nói đùa.”
Chàng cười lạnh:
“Thôi thì thôi vậy, dù gì Phật tổ cũng hứa cho tôi và em ba kiếp. Ba kiếp mất một còn hai cũng đủ rồi.”
Tôi suy nghĩ mãi một hồi mới hiểu chàng toan nói gì, nhưng chàng lại không chịu giải thích chàng làm cách nào để cầu được.
“Có lẽ thành ý của em cuối cùng cũng đã cảm động đến trời cao”
Tôi nhoẻn miệng cười, nhưng hai hàng lệ rơi.
Ngẩng đầu không hiểu sao lại thấy đài sen lấp lánh toả bốn phương.
***
P/s: (***) - Trích ĐỨC PHẬT TỪ BI, lời thơ: Thích Pháp Lưu