[Có phải địa ngục có 18 tầng? Có phải địa ngục chỉ được cai quản bởi Diêm Vương?_ Bài viết này sẽ giải đáp thắc mắc cho bạn về Địa Ngục]
# Từ một số nguồn tư liệu, người ta thấy các ghi chép về số lượng địa ngục và các loại địa ngục rất khác nhau. Từ điển Phật giáo Hán việt ghi rằng có ba loại địa ngục.
1. Căn Bản địa ngục: gồm, Bát hàn địa ngục và Bát nhiệt địa ngục.
2. Cận Biên địa ngục hay Thập Du Tăng Địa Ngục.
3. Cô Độc địa ngục.
* Bài viết này mình chỉ đề cập đến Căn bản Địa Ngục bao gồm Bát nhiệt địa ngục và Bát hàn địa ngục. Nên mục (2)&(3) sẽ không đề cập tới.
BÁT NHIỆT ĐỊA NGỤC (8 địa ngục)
(1) Đẳng Hoạt
(2) Hắc Thằng
(3) Hợp Chúng
(4) Hào Khiếu
(5) Đại Khiếu Hoán
(6) Viêm Nhiệt
(7) Cực Nhiệt
(8) Vô gián
BÁT HÀN ĐỊA NGỤC (8 địa ngục)
(1) Át Bộ Đà: lạnh như cắt, thịt phỏng phồng
(2) Ni Lạt Bộ Đà: gió lạnh thổi khiến toàn thân phông rộp
(3) A Tra Tra: mồm không động đậy, miệng rên tiếng a tra tra.(Chắc do lạnh quá, không nói được?)
(4) A Ba Ba: lưỡi cứng đơ, miệng kêu a ba ba (như trên)
(5) Âu Hầu Hầu: họng rên lên tiếng này.
(6) Uất Ba La: sắc thịt tái nhợt như hoa sen xanh
(7) Ba Đầu Mâu: sắc thịt tái nhợt như hoa sen xanh đỏ.
(8)Phân Đà Lị: xương cốt nạn nhân vỡ tựa hoa sen trắng.
Tám NHIỆT địa ngục, mỗi địa ngục đều có bốn cửa, ngoài mỗi cửa lại thông vào bốn tiểu địa ngục Du Tăng
Cửa phía Nam có:
(1) Hắc Sa: gió thổi cát nóng, tiêu da tan xương.
(2) Phí Thỉ: c.ứ.t sôi và hòn sắt nóng nhồi vào mồm.
(3) Thiết Đinh: nằm trên bàn nóng cho đinh sắt đóng khắp người.
(4) Tiêu Khát: nằm trên bàn nóng, nước đồng chảy rót vào mồm.
Cửa phía Bắc có:
(1) Nùng Huyết: máu mủ sôi chảy rót vào trong
(2) Lượng Hỏa: đem sắt nóng tay đong lường lửa
(3) Hôi Hà: chìm đắm trong nước nham thạch nóng bỏng
(4) Thiết Hoàn: nắm hòn sắt nóng, toàn thân bốc cháy
Cửa phía Tây:
(1) Cơ Ngạ: nằm trên giường sắt, hòn sắt trong mồm
(2) Đồng Phủ: ngục tốt bắt người, tóm bỏ vào vạc đồng
(3) Đa Phủ: móc câu sắt bày đặt trong vạc đồng sôi
(4) Thạch Ma: nằm trên đá bỏng đá mài trên chân
Cửa phí Đông:
(1) Cân Phủ: nằm trên giường sắt, rìu búa chém chân
(2) Sài Lang: đàn chó sói tranh nhau đến cắn xé
(3) Kiếm Thụ: gió thổi rừng kiếm, lá đâm xuyên người
(4) Hàn Băng: đau khổ kêu la sau đó mệnh chung.
Các hữu tình đọa vào các địa ngục này, thì các khổ hình lại tăng thêm, nên mới gọi là Du Tăng. Tám tầng địa ngục, mỗi tầng bốn cửa, mỗi cửa lại dẫn vào bốn địa ngục nên tổng cộng có 128 chốn địa ngục nhỏ, cộng thêm 8 địa ngục lớn thì thành 136 địa ngục.
THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG (hay Thập Điện Minh Vương)
(1) Đệ nhất điện: Tần Quảng Vương, trông coi địa ngục dưới núi Ốc Tiêu
(2) Đệ nhị điện: Sở Giang Vương, trông coi địa ngục Hoạt Đại và địa ngục Hàn Băng.
(3) Đệ tam điện: Tống Đế Vương, trông coi địa ngục Hắc Thằng
(4) Đệ tứ điện: Ngũ Quan Vương, trông coi địa ngục Hợp Đại và Huyết Trì (hồ máu)
(5) Đệ ngũ điện: Diêm Ma Vương, trông coi địa ngục Khiếu Hoán
(6) Đệ lục điện: Biện Thành Vương, trông coi địa ngục Đại Khiếu Hoán và Uổng Tử Thành
(7) Đệ thất điện: Thái Sơn Vương, trông coi địa ngục Nhiệt Não
(8) Đệ bát điện: Đô Thị Vương, trông coi địa ngục Đại Nhiệt Não
(9) Đệ cửu điện: Bình Đẳng Vương, trông coi A Tỳ địa ngục (tức Địa ngục Vô Gián)
(10) Đệ thập điện: Chuyển Luân Vương, trông coi địa ngục Chuyển Luân.
P/s: Nếu các bạn quan tâm hơn, các bạn có thể tìm đọc trong tác phẩm "Các tầng địa ngục theo phật giáo" của Nhã Nam.