Mặt Trăng máu
Tác giả: Dựt Khánh Điềm Vân
Huyền Dị/Phạm tội
Dân làng Cocytus thấy mặt trăng đêm nay to, tròn vành vạnh và đỏ quạch màu máu.
Sắc đỏ gai mắt loang ra toàn bộ nền trời và những cụm mây giăng vần vũ, thức khung cảnh quỷ dị như để báo hiệu cho một hạn điềm chẳng mấy dễ chịu sắp xảy đến với ngôi làng nhỏ nơi chân núi Tartarus.
“Phụ nữ và trẻ em, xin hãy ở yên trong nhà.”
Trưởng Đội Vệ binh của làng nhắc nhở bằng chất giọng ồm ồm khói hun - di chứng không thể chối cãi bởi sự tàn phá lâu ngày của bia rượu. Y năm nay đã trên dưới bốn mươi, thể hình cao lớn và vạm vỡ, nhưng mớ râu tóc xồm xoàm cùng bộ dáng nhếch nhác thường trực của một gã ma men đã vô tình khiến y mất đi vài điểm tín nhiệm trong mắt dân làng.
Vậy mà đêm nay, giọng vị Đội trưởng nọ không còn lè nhè nối chữ này, nhịu chữ kia. Dòng thông báo được đưa ra ngắn gọn, nhưng dõng dạc và rõ ràng. Trên tay y, thay cho chiếc bi đông chứa đầy loại rượu rẻ tiền pha chung với nước lã, thì nay là một khẩu súng trường có gắn lưỡi lê kim ở đầu nòng.
Dân làng chợt nhớ ra lý do vì sao năm xưa, gã đàn ông này được bầu làm Trưởng Đội Vệ binh của Cocytus. Và ai nấy đều ngầm hiểu, họ bắt buộc phải nghe theo mệnh lệnh của y nếu còn muốn một sớm mai được vươn vai, mở mắt, hít thở và nhìn ngắm thành quả trên những thửa ruộng mướt mát đầu mùa.
°
Làng Cocytus là một trong năm ngôi làng nằm dưới chân núi Tartarus. Năm ngôi làng tuy sở hữu năm hệ môi trường và nền văn hoá khác nhau, nhưng cùng chung sống vô cùng hoà thuận.
Ngay kế bên làng Cocytus là làng Phlegethon, nơi mà đất đai quanh năm cằn cỗi. Người ta chuộng ví von bề mặt đất với hình ảnh của một bà mẹ trẻ cùng chiếc bụng bầu ngật ngưỡng, trên lớp da là chi chít các vết rạn hằn.
Dân làng từ già, trẻ, lớn, bé đều mang trên mình nước da đỏ như đồng hun cùng đôi vết bớt với kích cỡ ngang bằng hai đồng obulus cổ nơi mí mắt. Họ sống quây quần thành từng thị tộc, tổ chức cơ cấu xã hội như một bộ lạc thời nguyên thuỷ, xăm mình, đeo khuyên cổ và nong vành môi bằng những chiếc đĩa gỗ to. Thức ăn của họ là bất cứ thứ gì có da và thịt bay ngang qua bầu trời, trong khi nguồn lửa vĩnh cửu của địa ngục - sùng sục dọc theo các kẽ nứt trên mặt đất - cho họ thứ phương tiện để nấu chín chúng.
Sinh ra và lớn lên ở đây, người dân không có cảm nghĩ nào hơn ngoài việc thấy bản thân như những pho tượng đất sét, được đặt trong một chiếc lò nung thường trực xấp xỉ 1800 độ.
Và đấy hẳn cũng chẳng phải biện pháp tu từ ngoa dụ, khi thứ duy nhất có thể mọc được trên đất làng là một tàng cây keo trơ trụi đơn sắc.
Chiếc cây được dân làng đặt tên theo danh của ngọn lửa địa ngục vĩnh cửu Inferno, và cung kính phụng thờ như một thực thể sống. Mỗi phiến lá của nó lại chứa đựng trong những đường gân một lời tiên đoán về tương lai.
Không một ai, kể cả các bậc trưởng bối lớn tuổi nhất trong làng Phlegethon, có thể lý giải được bí mật về sự tồn tại của Inferno. Chỉ biết rằng, tự thuở mới nhận thức về siêu năng lực của chiếc cây, dân làng đã luôn nghe theo và bảo vệ nó với một sự kính cẩn tột cùng. Bởi nó là ngọn hải đăng sống, là biểu tượng vững chãi truyền cho họ động lực và niềm tin để hiện thức hoá những điều tưởng chừng như bất khả.
Ít nhất là cho tới khi dân làng Styx xuất hiện, và bẻ gãy đức tin ấy bằng thứ năng lực trào phúng của mình.
Vậy là một điều bất khả được sinh ra mà không có hai chữ "tưởng chừng" đứng trước. Ấy là thách thức người dân làng Styx nói dối.
Ngôi làng Styx còn được biết đến dưới cái tên "Ngôi làng nói thật", hoặc "Ngôi làng thù ghét".
Lý do kể ra cũng đơn giản. Bởi phàm những lời nói thực tâm thường làm mất lòng nhau, và vô hình trung trở thành mồi lửa châm ngòi cho các mâu thuẫn, tị hiềm không đáng có. Thành thử dân làng Styx, với thứ vận rủi đội lốt một điềm lành - lời thề không được nói dối vĩnh viễn chẳng thể xoá bỏ, đành phải ngậm ngùi chấp nhận bản thân hoặc giả câm cho qua chuyện, hoặc đánh đổi một lần trái lòng để nhận lại hình phạt từ thần linh là cả cuộc đời câm nín. Dần dần, họ học cách treo lên gương mặt sự vô cảm, thờ ơ với tất thảy mọi nỗi bất công và điều xấu xí của cuộc sống xung quanh.
Và cũng là lẽ cư nhiên, bọn họ không thể dấn bước vào con đường thương nhân vì phẩm chất thực thà bất luận lời lỗ sẽ bán đứng họ. Một sự đáng tiếc, khi khí hậu thuận lành cùng đất đai màu mỡ trời phú của nơi đây lại khiến nông sản được gieo trồng bởi bàn tay dân làng Styx luôn đứng nhất về chất lượng, và được bốn ngôi làng còn lại ưu ái.
Vậy nên các bô lão trong làng quyết định, phải tìm nơi nào có thể hỗ trợ tiêu thụ lượng nông sản này với thất thoát kinh tế ở con số tối thiểu. Một nơi có mức sống cao, nhưng khan hiếm lương thực đến nỗi sẽ không nghĩ tới việc trục lợi từ họ.
Thế là làng Acheron ngay lập tức được "chọn mặt gửi vàng".
Ở nơi đây, thay cho thức khung cảnh của một ngôi làng vùng quê quen thuộc - với hàng ngàn mái nhà lát gạch mọc san sát nhau như bát úp, là các khối kiến trúc hình thù lạ kỳ được chắp vá từ vô số miểng bánh răng cưa lớn bé, hoặc những cỗ động cơ tinh xảo đang phì phò nhả hơi nước.
Với vòm trời bao phủ ngôi làng quanh năm khoác một lớp ánh sáng trắng gắt gao, kể cả lúc kim đồng hồ điểm 12 giờ đêm - không mấy ngạc nhiên khi người làng Acheron sớm đã coi các cặp kính bảo hộ cơ khí như một món đồ dân dụng bất ly thân.
Và du khách cũng đừng vội quan ngại về năng lực nhận thức của bản thân, nếu bỗng nhiên bắt gặp vô số chú cá kim loại đang bơi lượn giữa không trung trong lúc dạo phố. Hoặc giả dụ, vô tình dừng chân bên một khúc sông vắng, lắng tai nghe thấy tiếng leng keng và bắt gặp một đàn vịt máy đương nhàn nhã thả mình theo dòng nước trong.
Bởi Acheron, nơi được mệnh danh là thủ phủ kỹ thuật của cộng đồng dân cư dưới chân núi Tartarus, là như vậy. Không khí tại đây không đủ ấm cho thảm động, thực vật nhiệt đới sinh sôi; cũng chẳng quá the để hệ sinh thái ôn, hàn đới phát triển. Nhưng bù lại, nó được ban cho một môi trường lý tưởng với rải rác những quặng kim loại quý hiếm đang ẩn mình, chờ đợi bàn tay con người tới khai thác.
Dân làng Acheron tìm đến công nghệ kỹ thuật như một liều thuốc giải, và hình ảnh mùa màng thuận hoà, muôn loài phong phú chẳng khác gì hơn sản phẩm của một nền khoa học tân tiến. Nhưng đâu đó trong lòng họ vẫn khao khát được thưởng thức hương vị thiên nhiên của những thứ mọc lên từ đất mẹ. Vì vậy, mối quan hệ song thương bền vững giữa làng Styx và làng Acheron nhanh chóng được thiết lập.
Sự kiện này cũng được đề cập trong Sử Khúc Tartarus do dân làng Lethe biên soạn.
Lại tiếp tục là một ngôi làng quái dị không kém ba ngôi làng trước. Lethe được ghi nhận như chiếc nôi ươm mầm cho những bậc nghệ thuật gia tài giỏi hàng đầu xứ Tartarus.
Ở đây, người ta thở ra giai điệu, lấp bụng bằng các bức họa còn chưa ráo sơn, và gối đầu mơ mộng trên những vần thơ hoang hoải.
“Củ cải có giá hai đồng.”
Không. Tại Lethe, chúng tôi không sử dụng đơn vị tiền tệ ấy.
“Củ cải có giá hai khổ thơ/hai khuông nhạc/hai bức họa cỡ lòng bàn tay/...”
Giờ thì chính xác hơn rồi.
Chủ nghĩa khoái lạc được phụng thờ như một thứ tôn giáo mới bởi toàn thể dân làng Lethe. Cũng như bất cứ loại tôn giáo nào khác, Chủ nghĩa khoái lạc được chia ra thành các tông phái với những điều răn, quy chế hoạt động và hệ thống tổ chức khác nhau. Trong đấy, nổi bật nhất phải kể đến hai tông phái là phái Khoái lạc thuần túy và phái Khoái lạc hỗn hợp.
Phái Khoái lạc thuần túy là tông phái sơ khởi của Chủ nghĩa khoái lạc. Những tín đồ của tông phái này đề cao sự khoan khoái trong tâm hồn mà việc thưởng thức cái đẹp thẩm mỹ mang lại. Đại diện tiêu biểu cho tông phái là các bậc nghệ thuật gia nổi tiếng trong và ngoài Lethe.
Phái Khoái lạc hỗn hợp, mặt khác, chỉ mới ra đời dạo gần đây. Tuy nhiên, nó đã thu hút được đông đảo tín đồ theo về bởi quy giới thông thoáng của mình - khi cho phép tất cả những loại hình giải trí được diễn ra với mục đích mang đến trải nghiệm khoái lạc, không phân biệt thể xác hay tinh thần, cho người tham gia. Đại diện của tông phái là những tay nhà giàu cự phách thừa tiền của, thừa thời gian và các cô chiêu, cậu ấm đã chán bị ràng buộc trong cái khuôn thước lễ nghi rườm rà của những thế hệ đi trước.
Càng ngày, các cửa tiệm thuốc phiện, sòng bạc và nhà thổ lại càng mọc lên nhan nhản như nấm sau mưa. Từ sáng sớm đến đêm muộn, hình ảnh những quý ông - trong bộ áo dài đuôi ếch và quần tây bóp ống, hay các quý bà - với mũ bon nê buộc nơ che nửa đầu, phối cùng chiếc khăn quàng ngang vai tiệp màu kèm nón trùm viền đăng ten phía sau - tấp nập vào ra những tụ điểm giải trí ấy đã trở thành cảnh tượng quen thuộc trên hàng chục con phố của Lethe.
°
Tuy nhiên, sau một quãng thời gian ngắn thì hiện tại, bốn trên tổng số năm ngôi làng đã chỉ còn là tàn tích trong các câu chuyện truyền miệng của kẻ ở lại.
Và nguyên do - giải thích cho những cuộc thanh trừng sạch sẽ không một dấu vết ấy - cùng gọi tên một tạo vật đẹp đẽ vô ngần của thần linh: Mặt trăng máu.
°
Chỉ trong vòng bốn tháng vừa qua, mặt trăng máu đã xuất hiện bốn lần trên đỉnh Tartarus. Mỗi lần xuất hiện, nó lại kéo theo cả một ngôi làng dưới chân núi rơi vào bóng tối của sự diệt vong.
Nấm mồ đầu tiên trên quỹ đạo đẫm máu của mặt trăng là ngôi làng Phlegethon.
Đêm hôm ấy, huyết nguyệt hoan ca trước thức khung cảnh những con người trần truồng, với đủ mọi lứa tuổi, giới tính và cấp bậc, cùng nắm tay nhau kết thành một vòng tròn.
Hàng trăm gương mặt chia chung một nét cười ngây ngô và ánh nhìn đờ đẫn khi đôi guồng chân bắt đầu di chuyển. Toàn bộ dân làng Phlegethon nhảy múa cuồng điên trong biển lửa, cho đến lúc xác thân rã mục thành một bãi tàn tro đen kịt dưới gốc cây Inferno đương rừng rực cháy như một ngọn đuốc trong đêm.
Sang tháng thứ hai, vào đêm mà mặt trăng máu ghé thăm, toàn bộ dân làng Styx cùng một lúc hóa câm, mù và điếc. Cũi ngục tù bóng tối như vĩnh cửu siết nghẹn thần trí họ. Từ già, trẻ, gái, trai, cha nài con, con níu mẹ, vợ cầu chồng, "Hãy giết quách cái mạng này đi" để họ được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi đang ăn dần, ăn mòn bản thân.
Sáng sớm ngày hôm sau, người ta phát hiện thây người nằm chất la liệt, với những chiếc lưỡi bị cắt đứt và các con ngươi được bứt ra khỏi hốc sọ vương vãi trên nền đất đẫm máu khô.
Đích đến cho cuộc viếng thăm thứ ba của mặt trăng máu là ngôi làng Acheron, cũng đồng thời là ngôi làng sở hữu tiềm lực quân sự mạnh nhất trong số năm ngôi làng dưới chân núi Tartarus. Trước cuộc thanh trừng bí ẩn không một vết tích của cả hai ngôi làng lân cận, lẽ đương nhiên khi dân làng Acheron từ chối ngồi yên, thụ động phó thác cho số phận an bài.
Từ những ngày đầu tháng, các xưởng rèn trong làng đã hoạt động hết công suất để sản xuất vũ khí, phục vụ cho công tác canh gác và bảo vệ lãnh thổ của người dân. Trong đấy, nổi bật nhất phải kể đến một cỗ súng liên thanh, có khả năng bắn ra 666 viên đạn trong vòng một phút.
Thời gian thấm thoát tựa thoi đưa. Đêm định mệnh đã đến, khi toàn bộ ngôi làng Acheron ngập ngụa trong áng nguyệt đỏ. Dân làng lập tức vào vị trí với một sự cảnh giác cao nhất, nín thở đếm ngược tới thời khắc mặt trăng máu ngự giữa đỉnh Tartarus.
Ba mươi phút. Hai mươi phút. Mười phút.
Ba mươi giây. Hai mươi giây. Mười giây.
Mười. Chín. Tám. Bảy. Sáu. Năm. Bốn.
Ba.
Hai.
Một.
Mặt trăng máu chính thức chạm thiên đỉnh. Chốt vũ khí bắt đầu được kích hoạt.
Một khoảng trời chói lòa với những lằn chớp xẻ dọc, xiên ngang không theo một trật tự hay phương hướng. Tổ hợp tạp âm của tiếng súng đạn rền rĩ, tiếng người la hét, tiếng động vật gào rú quyện hòa vào với nhau như muốn xé toạc tầng không, lịm dần bức tường thành thanh tri sau cuối của mỗi người dân làng Acheron.
Để rồi đột ngột, mọi thứ liền tắt ngúm. Cũng nhanh chóng như cách mà chúng đã nổi lên, trả lại cho màn đêm sự tĩnh lặng vốn có.
666 viên đạn, vốn phải ghim thẳng về phía kẻ địch, thì giờ nằm lại trong thân xác của những người dân làng đã từng tự mãn về "con quái vật" do chính họ tạo ra.
Bánh xe số mệnh tiếp tục lăn sang tháng thứ tư, cũng là lần xuất hiện gần đây nhất của huyết nguyệt. Một hình phạt chẳng thể nào tàn khốc hơn đã bị đưa ra đối với “miền đất hứa” Lethe.
Mắt hằn từng vệt tơ máu, tay chây run rẩy, thân nhiệt phừng phừng, hai mép sùi bọt. Dân làng Lethe lao vào giao phối với nhau, miệt mài như một đám thú hoang đang trong kỳ động dục. Bữa tiệc thác loạn của những tấc da thịt nồng mùi thuốc phiện được chủ trì bởi áng nguyệt trên non cao. Máu, mồ hôi và chất dịch cơ thể bầy nhầy trộn lẫn thành một mớ nước tanh tưởi.
Trong cơn phê pha kịch điểm, người ta chẳng thể thống kê nổi đã có bao nhiêu cặp huyết thống sa chân lỡ bước vào đại tội loạn luân. Ý thức bất lực buông xuôi, giơ cờ trắng đầu hàng trước món khoái lạc thể xác đáng nguyền rủa. Một cảnh tượng kinh tởm và tuyệt vọng đến cùng cực, không ngòi bút nào có thể lột tả được vẹn tròn.
Chấm hết.
Sử Khúc Tartarus nay đã chẳng còn ai để chứng kiến và ghi lại, thời khắc bốn ngôi làng kết thúc một giấc mộng huy hoàng bằng con đường một chiều dẫn tới Địa ngục.
°
Nếu có một điểm chung nào hiện diện ở cả thảy bốn vụ thảm sát, thì ấy hẳn là tấm áo choàng được kết bởi hằng hà sa số chiếc thây người lõa thể mà đất mẹ, sau ba bận dằn lòng tụng niệm để ướm vừa cái khuôn thước của một bậc hiền mẫu xót con, nay đã quen khoác lên hòng bảo bọc đôi nụ mầm non đương rục rịch nhú đầu đón nắng.
Lạ kỳ làm sao, khi con người ta quả quyết dành trọn một đời bỏ đói đứa trẻ trú ngụ trong hồn thể, chỉ để đến thời khắc hơi ấm lìa thân xác, lại thấy mình trở về với lớp y phục da trần hôi hổi như một bào thai chưa hé hết đôi ngươi.
Dù vậy, đã không có bất cứ sự rùm beng hay dòng tít nào được giật trên những phương tiện truyền thông đại chúng về cuộc đại thảm sát này. Chính phủ cũng chẳng có động thái cử người đến điều tra lý do vì sao nhân khẩu của khu vực đột ngột sụt giảm bất thường. Thế giới bên ngoài vẫn an yên ngày qua ngày lặp lại vòng tuần hoàn ăn - làm - ngủ.
Đương nhiên, không phải vì cánh nhà báo, phóng viên đã hết khẩu vị đối với những loại tin tức này. Càng không phải vì Chính phủ đã bỏ rơi cộng đồng dân cư nơi đây. Mà là bởi đối với thế giới bên ngoài, năm ngôi làng bao quanh chân núi Tartarus thực chất không hề tồn tại. Hay hiểu theo một cách khác, năm ngôi làng này chính là nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Tự thuở Hỗn Mang, năm ngôi làng đã xuất hiện từ giữa thinh không, gánh vác trọng trách được giao phó bởi Đấng Bề Trên để hoạt động như năm cứ điểm trấn giữ, tạo thành một kết giới ngăn cách giữa cánh cổng địa ngục nằm sâu bên trong hẻm núi Tartarus với thế giới con người.
Tiếc rằng theo thời gian, bản chất của họ càng lúc càng tha hóa, đi lạc dần khỏi tôn chỉ hướng thiện của Đấng Ngài thuở ban đầu. Và chuỗi bốn tội ác liên tiếp – khởi đầu bằng việc các bô lão làng Phlegethon làm giả lời tiên tri trên phiến lá của cây Inferno, đến sự dung túng cho mầm mống đạo đức thối rữa của dân làng Styx, tiếp nối bằng hành vi bóc lột nguồn tài nguyên vô tội vạ nơi những cư dân làng Acheron, để rồi kết thúc trong mớ khoái lạc rũ rượi của các sinh thể vùng Lethe - đã đánh dấu giới hạn cho sự bao dung của Đấng Ngài.
Vậy là mặt trăng máu, được sự cho phép của Đấng Bề Trên, đã đường hoàng bước ra từ cánh cổng Địa ngục với cương vị một người sứ giả công tâm nhất.
°
Thời khắc mặt trăng thế chỗ cho mặt trời là khi những con quỷ đội lốt người thoát xác.
Hay nói theo cách khác, thời điểm màn đêm buông xuống là lúc con người ta tái sinh phần con và rũ héo phần người. Để rồi một sớm mai, khi những tia nắng đầu tiên nhảy nhót trên từng tấm rèm mi đương đà nặng trĩu, ta sẽ lại tiếp tục khoác cái lớp người ra ngoài lõi con để gột rửa lương tâm khỏi mọi điều tiếng chất vấn.
Tuy nhiên, lần này, chỉ khác là mặt trăng máu đã ở đây để chấm dứt vòng tuần hoàn con - người mục nát của đám hộ vệ dưới chân núi Tartarus.
Cho một lần,
và mãi mãi về sau.
[ DỰT KHÁNH ĐIỀM VÂN ]