Ma lực kiệu hoa
Tác giả: Tiểu Bảo Bối
Chỗ chúng tôi luôn truyền nhau một câu chuyện, rằng nếu nửa đêm đi trên đường nhìn thấy một cái kiệu hoa màu đỏ, đó là Diêm Vương đang đi rước dâu, phải chạy cho nhanh.
Nhưng mà chạy cũng chẳng có tác dụng gì, ông ta cũng sẽ tìm thấy nhà bạn, người mà Diêm Vương nhìn trúng, chạy thế nào nổi?
Lúc nhỏ, chúng tôi nghe câu chuyện này cứ nghĩ nó chỉ là lời đồn. Mãi cho đến khi một bà thím hàng xóm nhà tôi mất tích, có người nói bà ta đã nhìn thấy kiệu hoa đỏ, bị Diêm Vương bắt đi rồi.
Đa số mọi người đều nói chuyện này chỉ là đồn đại vớ vẩn, nhưng mẹ tôi nói với tôi, bà đã từng nhìn thấy kiệu hoa đỏ.
Mẹ tôi nhìn thấy kiệu hoa đỏ là khi bà 15 tuổi.
Mẹ tôi hôm đó nửa đêm mờ sáng lên thị trấn đi chợ, đi được nửa đường thì nhìn thấy, nằm im lìm giữa con đường lớn, một cái kiệu hoa đỏ.
Đi chợ sáng phải dậy đi sớm từ lúc nào thì phụ thuộc vào khoảng cách từ nhà bạn đến chợ bao xa. Thông thường thì đi bộ một hai tiếng đồng hồ cũng bình thường. Dù sao ở chỗ chúng tôi hồi đó không phải nhà nào cũng có xe đạp.
Thôn mẹ tôi ở cách nơi họp chợ ở thị trấn rất xa, mẹ tôi đi bộ đến nơi phải mất hai ba tiếng đồng hồ. Bởi vậy hôm đó nửa đêm đã bị bà ngoại gọi dậy, đeo cái gùi sau lưng mang hai con gà đi chợ bán.
Bởi vì nhà nghèo nên lúc đó mẹ tôi đã không đi học nữa. Mẹ tôi đi bán gà lấy tiền cho cậu tôi đi học. Bà nội không cho cậu tôi đi, bởi vì cậu ban ngày học hành vất vả, phải nghỉ ngơi.
Mẹ tôi lọ mọ dậy khỏi giường, dụi đôi mắt ngái ngủ, rửa mặt qua loa rồi lên đường với hai con gà trên lưng.
Lúc đó đã vào thu, trời bắt đầu trở lạnh. Tuy sáng sớm không có gió nhưng vì mẹ vẫn đang mặc cái áo mùa hè mỏng manh nên đương nhiên cảm thấy rất lạnh. Nhưng việc này cũng chịu thôi, thời đó tất cả mọi người đều thiếu ăn thiếu mặc, có kêu than cũng chẳng được gì, huống gì cả nhà đều phải dành dụm cho cậu đi học, kinh tế càng khó khăn gấp bội.
May là hôm đó trời quang đãng, vầng trăng treo trên ngọn cây, chiếu sáng đồng ruộng lấp lánh.
Có thể là do dậy quá sớm, cũng có thể do nguyên nhân khác, bình thường trên đường ngoài khỏi thôn ít nhất cũng có một hai người, nhưng không hiểu sao hôm đó chỉ có một mình mẹ tôi.
Tuy chỉ có một mình nhưng mẹ tôi không hề sợ. Từ nhỏ mẹ lớn lên giữa ruộng đồng núi rừng, xuống sông bắt cá lên rừng bắt chim, đã quen hoang dã thì có gì đáng để sợ hãi đâu.
Quen thì quen vậy nhưng đi trên đường đi đã lâu mà không có ai, trong lòng cũng không tránh khỏi hơi rợn rợn. Hơn nữa ruộng hai bên đường đều trồng lúa và cao lương, ngút mắt không thấy tận cùng, thỉnh thoảng một cơn gió thổi qua, từ màu xanh vô tận kia vẳng lại vô số âm thanh kì quái.
Lúc đầu mẹ tôi còn tự mình cổ vũ bản thân, nhưng đi hoài thì đến bản thân mình cũng không tin mình nữa, nghe tiếng chim rừng gù gù y như tiếng bà già chân gỗ đang đi trên đường vậy. Bà già chân gỗ là một lời đồn ở thôn chúng tôi, đó là một bà lão không có chân, mang hai cái chân giả là hai khúc cây, đi trên đường lốc cốc. Lớn rồi cảm thấy không có gì, nhưng lúc nhỏ cứ nghĩ tới là thấy rợn người.
Trong cánh đồng có tiếng gì đó khác đang chạy, mẹ tôi biết, đa số là thỏ rừng hoặc các động vật nhỏ khác, nhưng nghe âm thanh đó lúc chạy lúc dừng thì luôn có cảm giác như người nào đang ngồi xổm rình bên trong.
Đến cả tiếng dế trong cỏ kêu, tai mẹ tôi cũng nghe giống như tiếng người cười bên tai.
Lúc đó mẹ tôi không dám dừng chân, chỉ rảo bước nhanh hơn. Nhưng bước chân càng nhanh thì mẹ tôi càng cảm thấy phía sau có tiếng bước chân đi theo. Bà đi nhanh thì bước chân kia cũng nhanh, bà đi chậm thì bước chân kia cũng chậm. Nhưng mẹ tôi không dám quay đầu lại, bà chỉ cầu nguyện trong lòng, trong đầu không ngừng tưởng tượng vớ vẩn.
Chính vào lúc này, trong đầu mẹ tôi không biết tại sao lại nghĩ đến cái kiệu hoa đỏ trong lời đồn: Một cái kiệu hoa đỏ xuất hiện giữa đêm, vào lúc cô gái một mình đi trên đường.
Mẹ tôi càng nghĩ càng sợ. Lúc này, trước mặt bà bỗng có thứ gì đó vụt qua. Mẹ tôi bị dọa, ngã sấp một cái trên đất. Đợi khi bà bò dậy được mới phát hiện đó là một con mèo đen, trên miệng còn ngậm một con chuột lớn.
Hóa ra là mèo hoang bắt chuột, đúng là tự dọa mình.
Mẹ tôi sau khi đứng dậy, bắt hai con gà đeo phía sau lưng bị rơi ra bỏ lại vào cái gùi phía sau. Mẹ tôi nhân cơ hội này liếc về phía sau một cái, con đường trống không, ánh trăng sáng rõ, chẳng có gì cả, bà khẽ thở hắt ra một hơi.
Nhưng lúc mẹ tôi đeo lại cái gùi xong, ngoảnh đầu lại chuẩn bị đi tiếp thì phát hiện, ở ngã tư trước mặt có một cái kiệu hoa.
Cái kiệu hoa đó xuất hiện lúc nào, mẹ tôi căn bản không hề chú ý tới. Vốn dĩ bà sau khi bị con mèo hoang dọa một trận đã tin mình chỉ là thần hồn nát thần tính, nhưng sự xuất hiện của cái kiệu hoa đỏ này lại làm mẹ tôi lo lắng trở lại.
Theo lời mẹ tôi nói, lúc đó là ba bốn giờ sáng, tuy là có ánh trăng, nhưng ở giữa đồng không, bốn bề là lúa với cao lương, xung quanh đến một người cũng chẳng có, mẹ tôi bị dọa cho suýt ngất.
Chính miệng bà nói với tôi, lúc đó chân bà đã mềm nhũn, muốn chạy nhưng không thể nhấc chân lên nổi. Giữa đồng không, mẹ tôi đứng chôn chân một lúc lâu, cuối cùng cũng lấy được tính thần, quay đầu chạy ngược trở lại.
Đó quả thực là chạy bán mạng, chạy không cần biết gì hết, bên tai vù vù tiếng gió, đến cả cái gùi sau lưng cũng không cảm nhận được nữa.
Mẹ tôi không biết chạy bao lâu, đến khi chạy mệt đến không chịu nổi nữa mới dừng lại.
Có chạy cũng không nổi, chân đã không nhấc lên được nữa rồi. Sáng sớm đầu thu lạnh lẽo, nhưng chạy một hồi, khắp người bà đã ướt đẫm mồ hôi.
Mẹ tôi khụy gối quỳ trên đất, há miệng thở từng hơi nặng nhọc, một lúc lâu sau rón rén ngoảnh đầu nhìn lại, cái kiệu hoa đỏ kia không thấy nữa.
Tuy là không thấy nó đâu nữa nhưng con gà trong cái gùi sau lưng mẹ tôi cũng không còn luôn. Gà bị rơi ra lúc nào bà cũng không biết. Thời đó, hai con gà tuy chẳng đáng bao nhiêu tiền nhưng cũng được hơn mười đồng. Đây là tiền học của cậu, nếu mất rồi thì thể nào mẹ tôi cũng ăn đòn. Hơn nữa bà ngoại tôi đánh rất dữ, ăn vài cái bạt tai là còn nhẹ. Mẹ tôi bảo, chân dì hai tôi là bị bà ngoại tôi đánh gãy. Sau khi đánh gãy chân dì hai, bà ngoại còn không cho chữa, sau đó thành tật luôn. Bởi vậy dì hai tôi rất hận bà ngoại, sau khi lấy chồng là không về nhà nữa.
Hai con gà này nếu không tìm về, mẹ tôi chắc chắn không tránh nổi một trận thừa sống thiếu chết. Nhưng mà nghĩ đến cái kiệu hoa đỏ kia mẹ tôi lại sợ. Giữa kiệu hoa và bà ngoại, mẹ tôi cân nhắc hồi lâu, cuối cùng quyết định quay lại tìm gà.
Đường quay lại tìm gà rất gian khổ, mẹ tôi một mặt sợ cái kiệu hoa kia, một mặt sợ trong ruộng lúa hai bên nhảy ra thứ gì đó. Nhưng nghĩ tới trận đòn, mẹ tôi không dám lùi bước, chỉ có thể kiên cường đi tiếp.
May thay trên đường đi không nhìn thấy cái kiệu hoa kia. Đồng thời, hai con gà mái vì chân bị cột lại bằng vải nên cũng không chạy được, đang nằm dưới mương nước bên đường.
Nhìn thấy gà mẹ tôi vui mừng vội nhảy xuống mương, nhặt hai con gà bỏ vào gùi rồi leo lên.
Lúc leo lên, không ngờ thấy xa xa ngã tư phía trước, chiếc kiệu hoa đó lại xuất hiện. Mẹ tôi kinh hoảng. Bà biết rất rõ, lúc nãy bà chạy là chạy về phía nhà mình. Đi về nhà cần quẹo hai lần, mà bà đã quẹo đúng hai lần rồi. Bây giờ, chỗ mẹ tôi quay lại tìm thấy gà là ở gần cái quẹo đầu tiên. Mẹ tôi nhớ rất rõ, cái kiệu hoa đỏ này đúng ra phải ở ngã tư trước đó nữa, sao lại có thể đến chỗ này được.
Niềm vui tìm thấy gà nhanh chóng bị nỗi hoảng sợ thay thế, thật không biết làm gì nữa. Nhưng không làm gì cũng không được, phải chạy, mẹ tôi lại quay đầu, chạy tiếp.
Lần này không thể chạy nhanh được như lần đầu nữa, vì thực sự đã mệt quá rồi. Sáng sớm dậy chưa ăn uống gì, bụng trống rỗng, lúc nãy lại chạy rất lâu, làm gì còn sức nữa.
Chạy một lát, mẹ tôi liền ngoảng đầu nhìn thử, cái kiệu kia vẫn đứng ở chỗ đó, không động đậy gì. Mắt nhìn thấy mình càng chạy càng xa cái kiệu, mẹ tôi thở dốc một hơi, bước chân từ từ chậm lại.
Chạy qua chỗ rẽ rồi, không thấy cái kiệu hoa đâu, mẹ tôi mới dừng chân lại.
Việc đầu tiên sau khi dừng chân là bà nhìn hai con gà đeo phía sau còn hay không. May là hai con gà còn nguyên ở đó, mẹ tôi mới yên tâm phần nào.
Nhưng mà bây giờ đi cho kịp giờ họp chợ là việc không thể rồi, chỉ có thể đi về nhà thôi. Mẹ tôi rất sợ ăn đòn, nhưng lúc này cho dù có phải ăn đòn cũng chịu thôi. Mẹ nói, nếu bà ngoại muốn đánh, mẹ tôi sẽ nói sự thật, bà ngoại không tin thì thôi, dù sao mẹ cũng không đi tiếp nữa.
Nhưng mẹ tôi không ngờ, khi mẹ tôi sắp về tới đầu thôn thì cái kiệu hoa lại xuất hiện trước mặt. Lần này, mẹ tôi thực sự tuyệt vọng rồi. Bà không biết rốt cục xảy ra chuyện gì, bảo bà đi qua cái kiệu đó, bà quả thực không đủ dũng khí. Cho nên việc duy nhất bà có thể làm là, quay đầu chạy tiếp. Có điều lần này, bà đã không còn sức mà chạy nữa rồi.
Mẹ tôi không ngoái đầu lại nữa, chỉ cắm đầu chạy, mà cũng không phải là chạy, là sấp ngửa đi tới, lần này vì vội vàng mà ngã sấp một cái rất đau.
Mẹ tôi bảo, lúc đó đã muốn hét cứu mạng rồi, nhưng sáng sớm, giữa đồng không mông quạnh, người đâu ra mà cứu bà.
Ngã xong bò dậy, lại tiếp tục đi, nhưng lần này mẹ tôi không đi đường cũ nữa mà muốn đi đường vòng về nhà. Con đường này đi qua một khu rừng nhỏ, khu rừng này có một cái nghĩa địa, bình thường bà đều không đi qua, vì người trong thôn đều nói, khu rừng nhỏ này không được “sạch sẽ”. Lần này bà không lo được nhiều thế nữa, chỉ biết đi vào đó.
Gần tới khu rừng, mẹ tôi nghĩ bụng, có khi nào cái kiệu hoa đỏ đó lại xuất hiện trong rừng không nhỉ? Ai ngờ nghĩ gì thấy đó, khi bà đi đến giữa rừng, cái kiệu hoa thật sự lại xuất hiện.
Mà lúc này, tấm rèn che cửa kiệu vén lên, bên trong có môt người mặc váy cưới màu đỏ, trên đầu còn phủ khăn che mặt đỏ tươi.
Nhìn thấy cảnh này, mẹ tôi cuối cùng không nhịn được nữa, bán mạng chạy chạy chạy, vừa chạy vừa kêu gào cứu mạng. Theo lời bà nói, đó thật sự là chạy bán mạng, còn nhanh hơn lần đầu tiên gấp bội, đến nỗi giày rơi mất cũng mặc kệ không thèm lượm lại.
May là lần này, khi chạy ra bìa rừng tới đường lớn thì gặp một ông lão cũng đi chợ sớm. Nhìn thấy mẹ tôi vừa khóc vừa la hét, mặt mày thất kinh thì tưởng là gặp người xấu. Ông lão này lúc trẻ từng đi lính, chẳng sợ gì trên đời, nhìn thấy mẹ tôi như vậy thì kéo lại, hỏi thăm có chuyện gì.
Lúc này mẹ tôi vừa sợ vừa mệt, lại thêm chạy không ngừng không nghỉ, đã thở không ra hơi, cho nên nói không thành tiếng nữa. Nhìn thấy ông lão, bà dường như gặp ân nhân cứu mạng, òa lên khóc lớn, càng không thốt lên lời.
Điều này làm cho ông lão càng rối rít, an ủi mẹ tôi một hồi, bà mới từ từ lấy lại hồn vía, có điều vẫn không nói được đàng hoàng, chỉ chỉ chỉ về phía khu rừng. Ông lão trong lòng hơi giật mình, đẩy xe đạp cùng mẹ tôi đi về phía khu rừng.
Trong rừng, bọn họ tìm thấy giày mẹ tôi đánh rơi, nhưng ngoài ra thì chỉ có gió thu xào xạc, trong rừng một bóng người cũng chẳng thấy.
Mẹ tôi sau khi tìm thấy giày mới bình tĩnh trở lại, nói với ông lão rằng mình nhìn thấy kiệu hoa đỏ.
Ông lão vốn không tin quỷ thần, bởi vậy nên nghe lời mẹ tôi kể, chỉ bảo rằng bà nhìn nhầm rồi. Vậy nhưng ông vẫn nhìn vào trong rừng chửi một hồi, nói dọa con nít làm gì, có bản lĩnh thì ra đây mà dọa ông.
Chửi xong, ông lão chạy xe đạp, chở mẹ tôi lên thị trấn.
Lên chợ bán gà xong, mẹ tôi cầm tiền về nhà, kể lại mọi chuyện với bà ngoại tôi. Bà ngoại cũng không tin, nhưng khi ông lão kia đi chợ về, lại đến nhà bà ngoại kể lại chuyện ban sáng một lượt, bà ngoại tôi mới bán tính bán nghi.
Câu chuyện của mẹ tôi không phải cứ đơn giản như vậy mà kết thúc.
Hôm đó trở về, mẹ tôi bắt đầu sốt, tuy bà ngoại tôi rất dữ, nhưng dù sao cũng là con gái mình, bà mang mẹ tôi đi bệnh viện tiêm cho hết sốt.
Buổi sáng sau khi tiêm về, mẹ tôi quả thực có bớt sốt hơn, nhưng vẫn không tỉnh hẳn, cứ mê mê mẩn mẩn. Đến chiều, lại sốt cao. Lại đi bệnh viện, bác sĩ nói mẹ tôi không có bệnh gì, chỉ sốt mà thôi.
Bác sĩ lại tiêm cho mẹ tôi một mũi, nhưng chỉ được đến nửa đêm lại hầm hập sốt tiếp. Bà ngoại tôi nghĩ ngợi, có lẽ nguyên nhân sốt không đơn giản, có lẽ là do đụng phải thứ gì rồi. Bà ngoại nghĩ đến chuyện cái kiệu hoa đỏ ban sáng, nửa đêm không ngủ được, cùng ông ngoại đưa mẹ tôi đến một nhà nọ chuyên xem những thứ này ở thôn bên cạnh.
Vừa gõ cửa, người nọ nhìn thấy tình trạng của mẹ tôi, lại nghe bà ngoại kể chuyện mẹ tôi tận mắt nhìn thấy kiệu hoa đỏ vội vàng nói: “Hỏng rồi, bị Diêm Vương nhìn trúng rồi.” Bảo bà tôi cởi đồ mẹ tôi ra, bắt đầu lấy viết lông viết chữ lên khắp người mẹ tôi, chằng chịt chi chít, đến ngón tay ngón chân cũng không chừa lại.
Viết xong, bà ta đốt quanh người mẹ tôi bảy đống lửa lớn. Theo lẽ thường, đốt lửa xung quanh như vậy mẹ tôi nhất định là cảm thấy rất nóng, thậm chí không chịu nổi mới đúng. Nhưng trên thực tế, mẹ tôi chỉ cảm thấy mơ mơ màng màng, cảm thấy khắp người lạnh lẽo, run lên từng chặp.
Tình hình này tiếp tục đến tận trưa, mẹ tôi mới bắt đầu tỉnh lại. Nhưng sau khi tỉnh lại, bà cảm thấy cơ thể rất yếu, muốn xoay người cũng không được.
Nhìn thấy mẹ tôi tỉnh dậy, người kia mới bớt lo, bảo bà ngoại đưa mẹ tôi về, chăm sóc cẩn thận.
Nhưng mẹ tôi bảo, lần đó không có đơn giản như vậy.
Mẹ tôi kể, lúc đầu về đến nhà đưa tiền cho bà ngoại thì vẫn bình thường, sau đó bắt đầu buồn ngủ. Lúc đầu cảm thấy mình mơ màng ngủ thiếp đi. Cũng không biết ngủ bao lâu, mẹ tôi chợt nghe có người gọi tên mình nên lật người ngồi dậy.
Sau khi tỉnh dậy, mẹ tôi nhìn xung quanh, chỉ thấy có mấy cô gái tuổi tác tương đương mình, trong đó còn có một cô gái là bạn lúc nhỏ của mẹ. Có điều cô bạn này học lớp 4 thì nghỉ học, sau đó trong một lần lũ lụt thì bị cuốn trôi, sau đó không bao giờ gặp lại nữa.
Lần này gặp lại cô ấy, mẹ tôi vô cùng vui mừng, liền đi tới chào hỏi, hỏi cô ấy mấy năm nay đi đâu, sống thế nào, nói mình rất nhớ cô ấy này nọ.
Cô bạn đó của mẹ tên Tiểu Hằng, năm tay mẹ tôi cười nói không ngớt, nói cô ấy cũng rất nhớ mẹ tôi.
Hai người vui mừng nói chuyện một thôi một hồi, bạn của Tiểu Hằng giục cô ấy, đừng có để trễ giờ.
Mẹ tôi nghe thấy bọn họ nói chuyện thì không hiểu gì. Tiểu Hằng kéo tay mẹ tôi, nói muốn giới thiệu đối tượng cho mẹ tôi, làm mẹ tôi xấu hổ muốn độn thổ. Mẹ tôi còn nhỏ, ở nhà ngoài làm ruộng ra thì làm việc nhà, hơn nữa vì nhà nghèo, ăn uống không đủ, mẹ tôi còn hơi nhỏ người. Vì vậy về chuyện tìm người yêu, mẹ tôi trước nay chưa hề nghĩ tới. Giờ bỗng nhiên Tiểu Hằng nhắc đến, bà sao có thể không xấu hổ cho được? Bởi vậy, mẹ tôi đỏ mặt từ chối ngay.
Tiểu Hằng không thèm để ý, dùng sức kéo tay mẹ tôi ra ngoài cửa. Mẹ tôi không chống lại được, chỉ có thể đi theo Tiểu Hằng.
Mẹ tôi đi theo Tiểu Hằng ra khỏi cổng nhà, đột nhiên phát hiện cảnh vật không giống lắm. Vẫn là con đường đó, vẫn là những thửa ruộng đó, vẫn là mấy cái cây đó nhưng có vẻ hơi khang khác. Nhưng cụ thể khác chỗ nào thì không thể nói được.
Khi đi đến đầu thôn, không ngờ có một chiếc xe đã ở đó chờ sẵn. Chiếc xe này cũng không thể nói rõ là xe gì, nó có màu xám xám, lại có cả tài xế, chỉ là người này sắc mặt trắng bệch, nhìn hơi đáng sợ.
Dưới sự hối thúc của Tiểu Hằng, mẹ tôi ngồi lên xe. Chỗ ngồi của chiếc xe này hơi cứng, khiến mông hơi ê ê. Mẹ tôi lên xe, Tiểu Hằng và những cô gái khác cũng lên xe, họ ngồi quanh mẹ tôi, sau đó vội vàng hối tài xế đi cho kịp giờ.
Tài xế khởi động xe, chạy nhanh như bay, nhưng lại không hề phát ra chút âm thanh nào.
Chiếc xe đó tuy chạy rất nhanh nhưng không hề có gió thổi vào. Cảm giác vô cùng kì lạ, theo lời mẹ tôi thì y như ngồi trong một cái lồng kính chạy như bay về phía trước.
Trong xe, các cô gái rỉ rả bàn luận với mẹ tôi, nói người kia đẹp trai thế nào có tiền thế nào, trong nhà nhiều đồ ăn ngon ra sao. Đẹp trai với có tiền thì mẹ tôi không để ý lắm, nhưng vừa nghe nói trong nhà có bao nhiêu đồ ăn ngon này nọ thì bà đã không thể trấn tĩnh được rồi.
Thời đó, một năm bốn mùa đều chỉ ăn ngũ cốc, thậm chí còn chẳng được ăn no, một miếng thịt cũng chẳng có mà ăn. Bởi vậy mẹ tôi luôn luôn cảm thấy đói. Vì nguyên nhân này, mẹ tôi vừa gầy vừa nhỏ, đến bây giờ điều kiện sống đã tốt lên rất nhiều mà bà vẫn không thể nào béo lên được.
Khi nghe nói nhà người ta có rất nhiều đồ ăn ngon, lại nghe kể lể những thứ chưa bao giờ được nếm thử đó, trong đầu mẹ tôi toàn là các loại cao lương mĩ vị.
Không chỉ trong đầu toàn hình ảnh đồ ăn, đến cả mùi vị cũng đã tưởng tượng đến rồi, bụng mẹ tôi bắt đầu kêu lên ùng ục.
Nghe tiếng sôi bụng của mẹ tôi, các cô gái xung quanh cười ầm cả lên, khiến bà vô cùng xấu hổ. Nhưng bọn họ an ủi mẹ tôi, nói bọn họ lúc đầu cũng như vậy.
Lúc đó mẹ tôi rất đơn thuần, trong lòng chả nghĩ ngợi gì nhiều, nếu không nghe câu nói đó của bọn họ mà nghĩ kỹ, có lẽ bà đã bị dọa cho sợ chết khiếp rồi.
.....
Mẹ tôi và những cô gái nọ ngồi trên xe, cũng không biết qua bao lâu, không ngờ lại đi đến một thành phố. Hồi đó mẹ tôi chưa bao giờ được vào thành phố, cũng không biết thành phố trông như thế nào, vậy nên bà ninh đinh: Đây chính là một thành phố chân chính.
Theo lời mẹ tôi, nhà trong thành phố đa phần đều là nhà ba tầng, cũng có một số nhà cao tầng nhưng không quá cao, cao nhất cũng chỉ năm sáu tầng thôi. Bên trên khảm gạch hoặc khảm đá, nhưng tất cả đều là màu trắng. Thành phố đó cũng có cây, nhưng lá trên cây đều khô héo, giống như đã chết rồi vậy.
Nếu nói ra thì thành phố đó cũng tương đối phồn hoa, có người đi qua đi lại, có người đi xe đạp, có người lái xe. Hai bên đường đều là cửa tiệm quán xá, có điều bảng hiệu cũng chỉ có độc màu trắng chữ đen, nhìn có vẻ hơi trang nghiêm.
Mẹ tôi tưởng đây là phố huyện, hỏi Tiểu Hằng, Tiểu Hằng nói mập mờ gì đại ý đây đúng là phố huyện.
Tuy mẹ tôi lúc đó không đi học nữa, nhưng bà vẫn biết đọc một vài chữ, bà cảm thấy tên của những cửa tiệm bên đường đọc lên hơi kì quái, gì mà Văn Xương Các, Lão Bách Tuế, Bách Niên Xuân... Bà cảm thấy những cái tên này hơi khác với xã hội ngày nay hay dùng, hơn nữa khắp phố đều là những bảng hiệu đại loại như vậy chen chúc, làm mẹ tôi có hơi khó hiểu. Nhưng dù sao mẹ tôi cũng chẳng biết thế giới bên ngoài tròn méo ra sao nên suy nghĩ cũng tương đối đơn giản. Bà lại hỏi Tiểu Hằng, cô ấy nói với mẹ tôi, phố huyện bây giờ đang thịnh hành phong cách giả cổ, nên mẹ tôi có lẽ nhìn đường phố sẽ thấy mang hơi hướng cổ đại.
Xe đi vào sâu trong thành phố, luồn lách giữa rất nhiều con phố hào hoa, càng đi vào trong, nhà cao tầng càng nhiều, nhưng lại càng ngày càng lạnh lẽo thanh tịch. Mẹ tôi lấy làm kì quái, nói rằng những tòa nhà này sao lại vắng vẻ đến thế. Tiểu Hằng bảo, nơi này chỉ có một số người được đến, người bình thường thì không, cho nên mới thanh tịnh vắng vẻ như vậy.
Mẹ tôi càng nghe càng thấy lạ, nhưng bà bây giờ hai con mắt đã không đủ nhìn nữa, nên cũng không thắc mắc gì nhiều. Chiếc xe của họ không ngừng đi tới đi tới mãi, cuối cùng dừng trước một tòa nhà vô cùng to lớn.
Sau khi dừng xe, Tiểu Hằng dẫn mẹ tôi đi vào tòa nhà nọ. Trong tòa nhà đó không có bóng dáng một người nào nhưng tiếng rì rầm lào xào vọng lại từ khắp nơi, nghe như có rất nhiều người đang không ngừng trò chuyện.
Sau khi vào trong, Tiểu Hằng lại dẫn mẹ tôi đi lên mấy tầng nữa, vào một căn phòng lớn. Vào rồi mẹ tôi mới biết, đây hóa ra là một quán ăn.
Ngược lại với bên ngoài, trong quán ăn này có rất nhiều người, nhưng bọn họ đều yên lặng ăn cơm, không ai nói với ai lời nào.
Sau khi Tiểu Hằng kéo mẹ tôi ngồi vào một cái bàn, mấy cô gái kia cũng ríu rít vào ngồi cùng. Sau khi mọi người đều ngồi vào chỗ, một nhân viên phục vụ mang quần áo màu cánh gián đi đến, Tiểu Hằng bảo mẹ tôi gọi món đi.
Mẹ tôi từ bé đơn giờ đã bao giờ gọi món, cầm thực đơn trên tay cũng không biết làm thế nào. Cuối cùng cũng vẫn là Tiểu Hằng cầm thực đơn chỉ chỉ trỏ trỏ, gọi lên một bàn đầy ắp thức ăn. Thức ăn trên bàn kia, đều là những thứ mẹ tôi chưa nhìn thấy bao giờ, chugn không chỉ đẹp mà còn thơm nức mũi. Tiểu Hằng bảo mẹ tôi ăn đi, nhưng mẹ tôi ngại ngùng, chỉ ăn đĩa trước mặt mình. Đó là một đĩa rau xanh, người khác không ai thèm ăn, chỉ có mẹ tôi một mình ăn sạch.
Sau khi ăn xong đĩa rau, mẹ tôi còn dự định nếm thử món khác một chút, ai ngờ chợt phát hiện Tiểu Hằng và những cô gái khác đang hùng hục ăn như hổ, không ngừng không nghỉ. Một bàn thức ăn đầy ắp đã bị các cô ấy nhanh chóng ăn sạch sẽ. Mẹ tôi nhìn Tiểu Hằng bọn họ trên tay trên mặt đều đầy vết thức ăn thì hơi buồn cười, cảm giác mấy người này cứ như rất lâu rồi không được ăn vậy.
Ăn cơm xong, Tiểu Hằng bảo nhân viên phục vụ dọn dẹp, sau đó quay sang hỏi mẹ tôi thức ăn như thế nào. Mẹ tôi chỉ ăn một đĩa rau, bụng hơi cồn cào nhưng vẫn gật gật đầu nói ngon lắm, kì thực chả được nếm mùi vị gì.
Khi mẹ tôi và Tiểu Hằng đang nói chuyện thì có vài người đi đến. Đi đầu là một người đàn ông hơn ba mươi tuổi. Ông ta cao khoảng một mét tám mấy, lông mày lười kiếm, mắt sáng, nói theo cách của người hiện đại là rất có hình tượng.
Người đàn ông đó đi đến bàn mẹ tôi ngồi cũng không khách khí gì mà kéo một cái ghế ngồi xuống. Ông ta sau khi đưa mắt nhìn một vòng thì nhìn tới mẹ tôi, sau đó hướng về phía mẹ tôi gật gật đầu làm mẹ tôi bối rối không biết phản ứng như thế nào.
Ông ta sau khi ngồi xuống thì trò chuyện với cô gái cùng bàn một lát rồi rời khỏi. Sau khi ông ta đi rồi, Tiểu Hằng hỏi mẹ tôi, người đàn ông nọ thế nào.
Mẹ tôi nghĩ ngợi một chút rồi bảo: “Cũng được, cũng rất đẹp trai.”
Tiểu Hằng nghe mẹ tôi nói xong thì vô cùng vui mừng, nói với mẹ tôi: “Cậu cảm thấy ổn là tốt rồi, vậy thì hai người kết hôn đi.”
Tiểu Hằng nói xong, lại quay sang nói với những người khác về ý kiến của mẹ tôi, bọn họ vui mừng, kéo tay mẹ tôi nói đi thay đồ trang điểm, tối nay sẽ kết hôn.
Mẹ tôi vừa nghe đến kết hôn đã bị dọa một trận nói: “Không thể nào,sao mới gặp một cái đã kết hôn được?”
Tiểu Hằng nói: “Đây có gì đâu. Người như anh ta, cậu biết có bao nhiêu cô gái thích không. Nếu cậu đã cảm thấy không tệ thì mau lên đi.”
Tiểu Hằng nói xong, mọi người nhao nhao hối thúc mẹ tôi nhanh đi thay đồ trang điểm đi, tối nay là xong việc thôi.
Mẹ tôi nghe vậy cùng bối rối. Tiểu Hằng và mấy cô gái nọ dỗ dành mẹ tôi, rằng đây có là gì đâu, việc gì cần làm thì cũng phải làm, nhất định không được do dự. Bọn họ khuyên bảo mẹ tôi rất lâu nhưng bà vẫn không nói không mà cũng chẳng nói có, thế là bọn họ mặc kệ, vây lấy kéo mẹ tôi đi lên thêm một tầng nữa.
Tầng trên này vô cùng hào nhoáng, mẹ tôi cũng không biết là dùng để làm gì, mấy cô gái kia không nói, chỉ đưa mẹ tôi vào một căn phòng. Căn phòng này vô cùng lớn, nhưng lại chẳng có đồ đạc trang trí gì, chỉ có một bàn trang điểm và một cái gương thật lớn.
Mấy cô gái ấn mẹ tôi ngồi xuống cái ghế trước bàn, bắt đầu trang điểm cho mẹ tôi.
Vừa trang điểm, Tiểu Hằng vừa lấy quần áo cho mẹ tôi xem, hỏi có đẹp không, cái này cái kia như thế nào. Trong mắt mẹ tôi, những thứ quần áo đó đều đẹp cả, nhất thời bà hoa cả mắt, cũng không biết chọn cái nào.
Vào lúc mẹ tôi lưỡng lự không quyết, bên tai bà bỗng vang lên tiếng người nói: “Sính lễ còn không đưa, cưới xin cái gì?” Mẹ tôi cảm thấy giọng nói này hơi quen, nhưng nhất thời không nghĩ ra được là ai, nhưng bà cảm thấy có lý, đến cả sính lễ còn không đưa, sao có thể gả cho người ta được?
Mẹ tôi liền nói chuyện này với Tiểu Hằng, cô ấy nói: “Sính lễ sẽ có ngay, bây giờ mình sẽ đi dặn dò bảo người mang tới nhà cậu. Có phải đưa sính lễ xong là có thể kết hôn không?”
Mẹ tôi đúng là ngốc, bà nghe vậy cảm thấy cũng có lý, nhận sính lễ rồi không phải là đồng ý kết hôn sao?
Mẹ tôi vừa nghĩ đến đó, giọng nói kia lại vang lên: “Có sính lễ còn phải đưa người làm mai, chọn ngày, còn phải bày tiệc rượu chứ.”
Mẹ tôi nghe những lời này, lại cảm thấy đúng, lại nói với Tiểu Hằng. Tiểu Hằng luôn miệng đồng ý, nói mẹ tôi yên tâm, cô ấy sẽ cho người đi nói chuyện ngay, hỏi mẹ tôi nói chuyện với gia đình xong là có phải kết hôn được không?
Mẹ tôi lại cũng cảm thấy đúng, nhưng bà vừa nghĩ đến đây thì bỗng nghe thấy bốp một tiếng, cảm thấy mặt mình bị tát một cái rất đau. Cái tát trên má này bỏng rát.
Nhưng cái tát vô duyên vô cớ này không biết ai đánh, nhìn trái nhìn phải, ngoài Tiểu Hằng và mấy cô gái kia thì chỉ còn người đang trang điểm cho mẹ tôi thôi. Nếu nói mấy người này đánh thì nhất định mẹ tôi phải biết chứ, nhưng nhìn cả một vòng, ai đang bận việc người nấy, làm gì có ai để ý đến mẹ tôi. Điều này làm mẹ tôi vô cùng uất ức.
Vào lúc mẹ tôi đang không ngừng tủi thân, giọng nói kia lại vang lên: “Sao ta lại có đứa cháu ngoại ngốc nghếch như cháu không biết?”
Mẹ tôi nghe câu này, lập tức nhớ lại. Người nói chuyên kia không phải là bà ngoại của mẹ đã mất rồi sao? Hèn gì giọng nói quen đến thế mà mẹ tôi lại không nhớ ra được là ai.
Trước đây lúc nhỏ mẹ tôi sống với bà cố mấy năm, nhưng khi lớn bảy tám tuổi thì bị bà ngoại đón về. Mẹ tôi về không lâu thì bà cố mất, sau khi biết bà cố mất, mẹ tôi còn buồn rất lâu. Ngày đi đưa tang bà ngoại, mẹ tôi còn khóc mãi không thôi.
Giờ nghe thấy giọng nói của bà cố, mẹ tôi cảm thấy rấ kì quái, trong lòng nghĩ không phải bà cố đã mất rồi sao?
Nhưng khi ý nghĩ này của mẹ tôi mới vừa lóe lên thì má lại ăn thêm một cái tát nữa. Lần này vừa tát xong thì giọng bà ngoại của mẹ tôi lại vang lêm: “Ta nói sao mà đầu óc cháu đần thế hả? Nếu không phải ta chết rồi thì sao cháu có thể gặp ta ở đây được?”
Mẹ tôi xoa xoa cái má bị tát, nghe mấy câu vừa rồi của bà cố thì tự mình lẩm bẩm: “Bà ngoại, bà ở đâu? Sao cháu không nhìn thấy?”
Mẹ tôi nói câu này, những cô gái xung quanh đều nghe thấy, dồn dập hỏi mẹ tôi xảy ra chuyện gì. Đặc biệt là Tiểu Hằng, nhìn thấy mẹ tôi khóc còn an ủi: “Cậu chuẩn bị kết hôn rồi, còn khóc gì nữa.”
Mấy lời này mẹ tôi đều không thèm để ý tới, bà chỉ muốn biết bà cố ở đâu. Đúng lúc này, bà cố lại nói: “Cháu thật sự muốn gặp ta?”
Mẹ tôi gật gật đầu nói: “Bà ngoại, cháu rất muốn gặp bà.”
Giọng nói đó trả lời: “Vậy cháu gặp ta đừng có sợ nhé!”
Còn chưa chờ mẹ tôi trả lời, bà đã phát hiện cảnh vật xung quanh mình thay đổi, căn phòng sang trọng này không còn nữa, tòa nhà cũng biến mất luôn, cảnh vật xung quanh trở lên hoang tàn, mà mẹ tôi, bà đang ngồi trên một gò đất rất cao.
Những cô gái xung quanh cũng đã không còn hình dáng con người nữa, bọn họ người nào người nấy nếu không phải đã phân hủy nửa mặt thì toàn thân mục rữa chỉ còn xương trắng. Đặc biệt là Tiểu Hằng, trên người đến cả chút thịt cũng chẳng còn, đầu lâu trắng bóc, mà trên cái đầu ấy không hiểu sao còn phất phơ một ít cọng tóc dài.
Ngoài ra, phía trước cô ấy còn có một bộ xương nữa, chỉ là thịt trên bộ xương này vẫn chưa phân hủy hết, phía bên trên còn sót lại nửa khuôn mặt nửa khuôn mặt. Từ nửa khuôn mặt này có thể thấp thoáng nhận ra được những đường nét hơi quen thuộc của một người, chẳng phải ai xa lạ mà chính là bà ngoại đã chết của mẹ tôi.
Tuy mẹ tôi nhận ra đó là bà cố, nhưng tình cảnh này đã dọa mẹ tôi hồn vía bay lên mây, thậm chí quên cả la hét.
Sự việc tiếp theo sau đó mẹ tôi đã không nhớ rõ nữa, bà cũng không biết sau đó sao có thể trở về được, đồng thời việc đó thực sự đã xảy ra hay chỉ là trong mơ thì bà cũng không phân biệt nổi.
Việc mẹ tôi gặp kiệu hoa đỏ không chỉ người trong thôn biết, người ở thôn cha tôi cũng biết, có thể tưởng tượng được lúc đó việc này nổi tiếng đến thế nào.
Theo lời mẹ tôi nói thì bà không phải người duy nhất nhìn thấy kiệu hoa đỏ nhưng bà là một số rất ít những người gặp kiệu hoa đỏ mà còn có thể trở về.
Trong thôn chúng tôi còn có một người tên Nhị Nha. Nhị Nha không lớn hơn tôi mấy tuổi, nhưng theo thân phận thì tôi phải kêu là cô.
Nhị Nha lúc nhỏ còn đi học chung trường với tôi, khi tôi học lớp hai thì cô ấy đã học lớp 5. Sau đó sau khi lên cấp hai thì học khác trường, chúng tôi rất ít gặp nhau. Sau này nghe nói cô ấy đã gặp kiệu hoa đỏ.
Nhị Nha rất đẹp, dáng người cao gầy, khuôn mặt xinh xắn. Nếu mà như bây giờ, tùy hứng làm một vài clip ngắn thì cũng nổi tiếng không biết chừng. Nhưng năm học lớp 9, cô ấy gặp phải kiệu hoa đỏ.
Năm đó bố mẹ Nhị Nha đều làm thuê trong thành phố, cô ấy sống cùng bà nội. Nhị Nha còn một người chị gái đi làm thuê cùng bố mẹ. Tuy bà nội đối xử với Nhị Nha rất tốt nhưng dù sao cũng là người nông thôn, đã quen thô mà thật, không tinh tế gì.
Hồi đó trường cấp hai đều ở trên thị trấn, thôn chúng tôi cách thị trấn không xa, sau khi tan học có thể đạp xe về, cũng chỉ khoảng hai mươi phút thôi. Bởi vậy nên khi chúng tôi học cấp hai, sau khi học xong lớp tự học buổi tối thì tự đạp xe về, rất ít học sinh ở lại trong trường. Hơn nữa, sống ở trong trường thì phải mất tiền ở lại, hình như là một hào thì phải.
Nhị Nha gặp kiệu hoa đỏ chính là một buổi tối sau khi học xong tiết tự học.
Ngày hôm đó giáo viên chủ nhiệm lớp tìm Nhị Nha nói chuyện, nói đến lúc hơi khuya nên chỉ có một mình Nhị Nha đi về. Trên đường về, Nhị Nha nhìn thấy kiệu hoa đỏ giữa đường, nhưng cô ấy không hề sợ hãi. Lúc đạp xe qua bên cạnh nó, Nhị Nha còn đá cho nó một cái.
Sau khi về nhà, Nhị Nha kể chuyện gặp kiệu hoa đỏ cho bà nội nghe. Lúc ấy bà nội cô cũng không để ý, nhưng đến nửa đêm, bà nội bỗng nghe thấy bên ngoài có tiếng chiêng trống bên ngoài, còn có cả tiếng người thổi kèn suona.
Bà nội khi tỉnh giấc còn tưởng ai ở bên ngoài đang mở đài, vì hồi đó ông bà già ở trong thôn thường dậy sớm, trên người đeo theo một cái đài mang đi khắp các ngõ xóm. Những thứ phát trên đài ấy có lúc cũng có suona nhưng phần nhiều là hí khúc với bình thư.
Bà ngoại Nhị Nha sau khi thức dậy còn tính đi ra ngoài xem thử, nhưng nhìn ra bên ngoài trời vẫn đen kịt nên bỏ ý định đó. Lúc này bà nội bỗng cảm thấy muốn đi tiểu nên định ra sân giải quyết xong rồi vào ngủ thêm giấc nữa.
Nhưng bà còn chưa ra cửa thì phát hiện không biết cửa đã mở ra từ bao giờ. Trong nhà chỉ có bà và Nhị Nha, bà nghĩ chắc là Nhị Nha dậy đi vệ sinh. Bà đi ra sân, đúng là có Nhị Nha thật, nhưng cô ấy lúc này không có đi vệ sinh mà đang đi ra cổng lớn.
Lúc đó hai người họ ở nông thôn, trong nhà lại không có trai tráng, bà nội trước khi ngủ đã khóa cổng lại cẩn thận rồi. Lúc này Nhị Nha đang sờ soạng cái khóa đó, nhìn có vẻ muốn ra ngoài.
Bà nội Nhị Nha đi đến bên cạnh cô, hỏi: “Muộn thế này rồi cháu làm gì đấy?”
Giọng nói của Nhị Nha vô cùng gấp gáp nói: “Cháu phải ra ngoài, nhà trai đến rước dâu rồi, không thể để bọn họ chờ quá lâu được.”
Bà nội nghe Nhị Nha nói, vừa bực mình vừa buồn cười, tưởng rằng đứa nhỏ này nằm mơ, đang nói mơ. Bà nội nói: “Cái gì mà nhà trai, quay về di ngủ nhanh lên.” Nói xong đưa tay vỗ vỗ lên cái miệng đang ngáp, đập đập Nhị Nha rồi đẩy cô vào nhà.
Bà nội Nhị Nha đẩy cô về tới phòng rồi mới phát giác ra hình như không đúng lắm, bởi vì lần này bà nghe rõ ràng rồi, tiếng kèn trống và tiếng suona kia rõ ràng là ở bên ngoài bức tường nhà bà. Bà vốn còn tính trở dậy đi mắng vài câu, nhưng Nhị Nha cứ nhùng nhằng không chịu đi ngủ khiến bà rất bực bội. Bà nội lúc trẻ tính tình nóng nảy, bây giờ tuy tuổi tác đã lớn nhưng chẳng thay đổi gì, lúc này đứa cháu nội không chịu đi ngủ, nổi điên lên đạp cho đứa cháu gái một cái. Cái đạp này không biết mạnh đến đâu mà khiến Nhị Nha lộn từ trên giường xuống.
Sau khi bị đạp xuống giường, Nhị Nha chỉ nằm trên đất không động đậy. Bà nội thấy vậy rất lo lắng, run rẩy lo sợ mình đá mạnh quá, đá chết đứa cháu mất rồi. Nhưng khi bà nội lần thứ hai đến bên Nhị Nha mới phát hiện cô chẳng sao cả, không ngờ cứ thế mà ngủ luôn trên đất. Bà lão lúc này giận điên lên, mặc kệ Nhị Nha nằm dưới đó, tự mình đi ngủ mất.
Lúc bà lão tỉnh dậy đã là sáng ngày hôm sau, bà liền gọi Nhị Nha dậy đi học. Khi bà vào phòng cháu mới phát hiện Nhị Nha đã dậy rồi, ăn mặc gọn gàng, hai mắt mở lớn ngồi trên mép giường.
Bà nội gọi tên Nhị Nha, nhưng gọi mấy câu mà Nhị Nha không thèm để ý đến bà. Bà nội còn giận, vốn định đánh cho cháu trận nữa, nhưng mà đã đánh vài cái mà Nhị Nha vẫn không hề có phản ứng. Bà lão bực mình không biết có phải Nhị Nha chọc tức bà không, lại đánh vài cái nữa, nhưng cô cháu gái vẫn không nói nửa lời. Lúc này bà nội mới cảm thấy có vấn đề, sau đó tìm người đến xem mới biết, cháu nội mình đã bị điên rồi.
Nhị Nha vì sao điên không ai biết, đến bà nội cũng không biết. Bà đem chuyện Nhị Nha gặp kiệu hoa đỏ kể lại cho mọi người, lại kể cả chuyện nửa đêm có tiếng kèn trống bên ngoài ra.
Mọi người trong thôn đều nói, Nhị Nha này có thể là do Diêm Vương đến tìm, nhưng mới được một nửa thì bị bà nội kéo về, nhưng hồn đã theo Diêm Vương đi mất không theo về hết, chỉ còn lại một nửa ở thân xác, nên Nhị Nha mới thành người điên.
Còn về việc thím hàng xóm nhà tôi mất tích, lúc đầu cũng có người nói là do gặp kiệu hoa đỏ.
Nhưng chẳng bao lâu, hai đứa con gái của thím ấy cũng đứa trước đứa sau mất tích luôn. Người trong thôn bắt đầu nghi ngờ, tuy nhiên vẫn có người kiên trì nói hai đứa con gái ấy cũng gặp kiệu hoa đỏ, nhưng sau đó lại nghe có lời đồn rằng, chồng sau của bà thím kia giết chết hai đứa con gái.
Vì là việc trong thôn đồn đại nên cũng không ai báo cảnh sát cả.
Nhưng qua mùa xuân, có người hốt hoảng nói, trong bãi lau sậy phía tây thôn chúng tôi phát hiện một thi thể. Sau đó cảnh sát tới, vừa tra đã biết đó là đứa con gái nhỏ của bà thím. Cái xác đó đã mục rữa không nguyên vẹn nữa rồi.
Cảnh sát đưa người cha dượng kia đi thẩm vấn, mọi chuyện đều bại lộ. Hóa ra không chỉ hai người con gái, đến cả bà thím kia cũng bị người đàn ông đó giết chết.
Lúc đó hắn ta đã chuẩn bị cưới vợ mới, đến sính lễ cũng đã đưa qua nhà gái. Nhà gái sau khi biết việc này thì bị dọa cho suýt ngất, đều nói may mắn vẫn chưa gả cho hắn ta.
Tuy xảy ra việc này, nhưng lời đồn về kiệu hoa đỏ trong thôn chúng tôi vẫn không dừng lại. Thỉnh thoảng vẫn nghe thấy chuyện kể cô gái nào đó nửa đêm đi ngoài đường vắng, nhìn thấy một cái kiệu hoa đỏ nằm ở giữa đường, sau đó cô gái đó bị đón đi mất.
(Hết)