Mợ Hai có ý trông chồng từ đêm qua tới giờ, mợ đi qua đi lại ngoài hiên chờ cậu Hai về. Phía xa xa thoáng thấy cậu Hai đang bước tới, bước chân nhanh mà dứt khoát vì có chuyện bực tức trong lòng. Thấy chồng về, nàng mừng rỡ đi tới đón và ân cần hỏi han:
“Mình có bị làm sao không, sao tối qua mình không về vậy? Làm em chờ suốt đêm.”
Cậu Hai nhăn mặt phất tay nạt nộ:
“Làm sao là làm sao? Từ khi nào mà chồng muốn đi đâu cũng phải trình báo với vợ? Ai biểu không chịu ngủ, chờ cái gì mà chờ?”
Nói rồi cậu hung hăng xô cửa đi vô phòng, mợ Hai ngậm ngùi đi theo sau.
“Tại em không thấy mình về nên lo mình dọc đường bị gì, chớ em có ý gì đâu mà mình hằn học với em quá vậy. Mốt mình có đi chơi về khuya hay là không về thì mình nói cho em biết một tiếng đặng em đỡ lo, với lại lỡ mà cha có hỏi thì em còn biết mà trả lời.”
“Thôi cô làm ơn im đi, đừng có lấy cha ra làm cái cớ mà áp đặt thằng này. Đi thì thôi còn về tới nhà là thấy cái mặt cô, nghe cô lải nhải thì biểu sao tôi đi hoài.”
Nghe cậu nặng nhẹ như vậy một tiểu thư khuê cát như mợ Hai làm sao chịu nỗi, mợ tủi thân ngồi xuống ghế bật khóc. Cậu thấy vậy cũng không thèm vỗ mà đi lại giường nằm phịch xuống.
“Khóc, nói động tới cô một chút là khóc. Ơ đây là nhà họ Võ chớ không phải nhà họ Huỳnh đâu nghen! Cái tính tiểu thư đó của cô ở đây không có chứa, nhắm ở được thì ở còn không ở được về bển đi!”
Mợ Hai nghe chồng nói vậy thì nước mắt càng rơi nhiều hơn, nàng lấy khăn chấm khóe mắt, giọng nghẹn ngào:
“Mình nói gì kỳ vậy mình, hồi đó mình đi cưới em bằng trầu hai tay bưng, rượu hai tay rót. Hồi đó mình tự đón tôi về chớ đâu phải tự tôi bước chân vô nhà này đâu mà mình nói tôi như vậy.”
Cậu Hai nằm im re không nói, mà cái mặt còn bực lắm.
“Tôi biết mình không phải người tài giỏi gì. Mình có thể không thương em, nhưng đừng xem thường em như vậy được không?”
Cậu Hai vốn đang bực vì chuyện thua bạc, lại bị cô Ba tra hỏi chuyện tiền bạc nên trong lòng chẳng còn chút kiên nhẫn nào. Nghe vợ nói tới đó, cậu càng nổi nóng.
“Lại bắt đầu nữa! Hễ nói đụng tới cô một chút là than thân trách phận, nghe riết phát chán.”
“Nếu mình đã chán như vậy, thì ngày trước cưới tôi làm chi, để bây giờ ngày nào cũng nói những lời làm đau lòng tôi?”
Cậu Hai cười khẩy ngồi dậy.
“Tôi cưới cô vì cha tôi biểu cưới, chớ cô nghĩ tôi mê cô dữ lắm hả?”
Câu nói ấy như một nhát dao đâm thẳng vào tim Mợ Hai. Mấy năm làm dâu, dù cậu có ăn chơi, có ham vui, có bỏ bê gia đình. Nàng vẫn luôn nhẫn nhịn, bởi nàng nghĩ ít ra trong lòng chồng vẫn còn chút nghĩa tình.
Nào ngờ trong mắt cậu, cuộc hôn nhân này ngay từ đầu đã chẳng có giá trị gì.
Mợ Hai bật cười trong nước mắt.
“Ra là vậy… Vậy mà tôi cứ tưởng mình sống tử tế rồi một ngày nào đó mình sẽ nhìn thấy tấm lòng của tôi.”
Cậu Hai quay mặt đi.
“Muốn nghĩ sao thì nghĩ, tôi mệt rồi."
Nói xong, cậu kéo cái gối ôm rồi nằm quay lưng lại.
......................
Trong gian khách, cô Ba đứng bóp vai cho cha. Hội đồng Đức ngả lưng ra sau, trên tay ông cầm điếu thuốc rê, khói trắng bay lảng bảng, quấn quýt quanh mái tóc đã điểm bạc.
“Thưa cha, sáng mai con xin phép đi lên Sài Gòn thăm em ít bữa. Lâu nay nó ở xa, con cũng nhớ, muốn coi coi tình hình nó ra sao.”
Ông Hội đồng rít một hơi thuốc, thở ra làn khói mờ, rồi chậm rãi đáp:
“Ừ, con đi thì đi, nhưng nhớ giữ gìn sức khỏe. Việc nhà cha còn lo được, chút con nói con Bông ra chợ mua chút đỉnh đồ này đồ kia đem lên cho con Út. Nó ở xa, chắc cũng nhớ nhà.”
Cô Ba khẽ gật đầu, giọng ngoan ngoãn:
“Dạ, con sẽ dặn con Bông đi chợ sắm sửa. Mai con đem lên cho em, để nó vui lòng.”
Cô Ba vừa rời gian khách, bước xuống gian sau, gương mặt nàng lập tức đổi khác. Nét mặt trở nên nặng nề, ánh mắt lộ vẻ bối rối. Trong lòng dấy lên một nỗi day dứt, thật ra mai đi Sài Gòn đâu phải để thăm em gái chỉ là cái cớ. Lòng nàng muốn đi chơi xa với thầy Luân, muốn thoát khỏi cái cảnh tù túng trong nhà.
......................
Buổi sáng nơi bến xe, trời vừa hửng nắng, ánh vàng nhẹ phủ trên mái ngói, soi bóng người qua lại. Thầy Luân đứng nơi góc bến, mắt ngó ra đường làng. Thầy không gầy gò như hình dung của một ông giáo làng xưa, mà trái lại, vóc dáng cân đối, vai rộng, lưng thẳng, bước đi lại quá đỗi khoan thai.
Mái tóc thầy cắt gọn, đen mượt, gió sớm thổi qua càng làm nổi bật nét trẻ trung mà vẫn phong lưu. Người ta nhìn vào, khó ai nghĩ đó chỉ là một thầy giáo làng, mà như một chàng trai thành thị, đẹp trai, lịch lãm.
Chiếc xe hơi vừa trờ tới bến, bụi đường bay mờ trong nắng sớm. Lòng thầy Luân rộn ràng vì biết đó là xe của cô Ba. Cô Ba Sương bước xuống, áo dài thướt tha, tà áo lay nhẹ trong gió. Mái tóc dài vấn cao trang nhã, gương mặt sáng sủa, đôi mắt e lệ. Kế đó, con Bông lăng xăng theo sau, tay ôm lỉnh kỉnh đồ đạc.
Cô Ba tiến lại gần, giọng nhỏ nhẹ mà e lệ: “Thầy chờ lâu chưa? Em mới tới, mong thầy đừng trách.”
“Tôi chờ từ sớm, nhưng thấy cô đến thì lòng tôi vui, có chờ bao lâu cũng không ngại. Tôi mong chuyến đi này sẽ làm cô vui và cũng để tôi có dịp gần gũi, hầu chuyện cùng cô.”
Cô Ba e lệ, tay khẽ vuốt tà áo xanh ngọc, đáp nhỏ: “Đi cùng thầy, em cũng thấy yên lòng.”
Thình lình tiếng còi xe buýt vang lên inh ỏi, bác tài thò đầu ra cửa, giọng sang sảng: “Bà con lên xe lẹ đi, xe sắp chạy đó nghen!”
Khách bộ hành lỉnh kỉnh hành lý, người chen người bước lên. Thầy Luân nhìn cô Ba, ánh mắt dịu dàng, rồi khẽ đưa tay nắm lấy bàn tay mềm mại của nàng, dìu nàng bước lên bậc xe. Tà áo xanh ngọc của cô Ba khẽ lay trong gió, dáng đi e lệ mà đoan trang.
Sài Gòn dần hiện lên như một đô thị vừa mang dáng dấp phương Tây, những con đường lớn như Charner (nay là Nguyễn Huệ), Catinat (nay là Đồng Khởi) trải nhựa, hai bên là hàng cây xanh mát. Xe hơi, xe kéo, xe buýt chen lấn.
Các công trình kiểu Pháp như Nhà thờ Đức Bà, Dinh Norodom (Dinh Toàn quyền, sau là Dinh Độc Lập), Nhà hát Thành phố, Bưu điện trung tâm… nổi bật giữa lòng đô thị.
Chợ Bến Thành, Chợ Lớn tấp nập, người Hoa và người Việt buôn bán đủ loại hàng hóa. Tiếng rao, tiếng mặc cả hòa cùng mùi hương của trái cây, đồ ăn, tạo nên không khí náo nhiệt.
Trên sông Sài Gòn, ghe thuyền chở lúa gạo, trái cây từ miền Tây lên, neo đậu dọc bến Bạch Đằng. Cảnh buôn bán trên sông hòa cùng nhịp sống đô thị, vừa cổ kính vừa hiện đại. Người dân mặc áo dài, khăn đóng, xen lẫn áo sơ mi, quần tây, váy đầm theo kiểu Tây.
Cô Ba và con Bông nhìn đến ngẩn ngơ. Nàng chưa từng thấy cảnh phồn hoa như vậy, nên trong bụng vừa ngạc nhiên vừa bâng khuâng. Con Bông thì rộn ràng, tay chỉ hết chỗ này đến chỗ kia, miệng không ngớt thốt lên:
“Cô Ba ơi, coi kìa! Nhà cao quá, người đông quá! Sài Gòn thiệt là khác xóm mình.”
Cô Ba khẽ mỉm cười, mắt vẫn dõi theo từng góc phố.
“Thầy Luân… trên đây nhộn nhịp quá chừng! Nhà cao, người đông, xe cộ rần rần. Vậy mà thầy về chốn quê bình lặng, vắng vẻ, chắc thầy buồn lắm hả?”
Thầy An khẽ mỉm cười, giọng ôn tồn: “Cô Ba nói vậy chớ quê tuy vắng, nhưng có ruộng đồng, có tiếng gà gáy, có bóng tre rợp mát. Người quê sống hiền hòa, tình nghĩa. Tôi ở đó quen rồi, đâu thấy buồn. Chỉ khi nào xa người mình thương, thì mới thấy lòng trống trải.”
Cô Ba nghe vậy thì má thoáng hồng, mắt nhìn xuống tà áo xanh ngọc, giọng nhỏ nhẹ: “Thầy nói vậy cũng phải. Quê tuy vắng, song có ruộng đồng, có bóng tre, có tình nghĩa, thì còn quý hơn cảnh phồn hoa. Miễn có người mình thương ở bên, thì chốn nào cũng nên vui, chẳng buồn chi.”
“Thầy Luân, trên đây người tấp nập, đường xá thì chằng chịt, coi bộ rối rắm quá. Lỡ mai mốt đi chơi, có khi nào lạc đường không thầy?”
Thầy An khẽ mỉm cười hiền hòa, giọng ôn tồn: “Bông chớ lo! Tôi quen đường sá nơi đây, lại có trí nhớ tốt. Dù phố phường có rối, tôi cũng đưa Bông với cô Ba đi tới nơi về tới chốn”
Con Bông cười hì hì đáp: “Phải ha, có thầy Luân sát bên, chắc chẳng khi nào lạc được.”
Xe buýt vừa ngừng nơi bến, người ta xuống rần rần, tiếng gọi nhau inh ỏi. Thầy Luân dắt cô Liên với con Bông ra ngoài, thấy một chiếc xe ngựa đang chờ khách. Thầy bước lại, nói với anh phu xe:
“Anh Hai, chở giùm tôi với hai cô đây ra quán phở ở đường Catinat (nay là Đồng Khởi)”
Anh phu xe gật đầu, thầy Luân đỡ cô Liên với con Bông lên xe ngồi hẳn hoi, phu xe mới kéo dây cương, ngựa hí một tiếng rồi lăn bánh. Đường phố Sài Gòn đông đúc, xe hơi, xe kéo chen nhau, nhưng xe ngựa cứ thong thả đi, bánh xe gõ lộc cộc trên mặt đường.
Một lát sau, xe ngựa dừng trước quán ăn. Quán không sang trọng, chỉ mấy bộ bàn ghế gỗ, mái lợp tôn, nhưng khách ra vô nườm nượp. Mùi phở, mùi cơm tấm, mùi thịt kho bay ra thơm phức. Người ta ăn uống rôm rả, tiếng chén đũa khua lách cách, tiếng cười nói vang vang.
Thầy Luân bước xuống, trả tiền cho phu xe rồi đưa tay dìu cô Ba, kêu con Bông theo sau. Ba người vào quán, ngồi nơi góc bàn. Chủ quán thấy khách quen thì niềm nở:
“Cậu Luân đó hả? Lâu quá mới thấy thầy ghé. Trời đất, tưởng cậu quên quán tôi rồi chớ! Lâu nay cậu đi đâu vậy?”
Thầy Luân cười hiền hòa, giọng ôn tồn, chậm rãi: “Mấy tháng nay tôi về quê dạy học dùm, nay mới có dịp về lại. Hôm nay dẫn theo cô Hai, cô Ba đi cùng, muốn mời dùng món đặc biệt của quán cho biết.”
Chủ quán cười tươi, giọng sang sảng: “Vậy ha, quý quá! Vậy là nay cậu làm thầy người ta rồi đó hen. Nhưng thầy về dưới lâu mau rồi?”
“Cũng được đâu đó hai năm rồi.”
“Thầy Luân về dưới lâu vậy, chắc nhớ Sài Gòn lắm hả? Ở đây thì náo nhiệt, nhưng dưới quê lại có cái thú riêng, phải không thầy?”
Thầy Luân cười hiền, giọng ôn tồn: “Dưới quê thì yên tĩnh, có ruộng đồng, có bóng tre. Nhưng lâu lâu nhớ cảnh phố phường.”
Updated 31 Episodes
Comments